BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN DỆT MAY Báo cáo tổng kết đề tài
NGHIÊN CỨU, XÂY DỰNG VÀ ỨNG DỤNG MỘT SỐ
QUI TRÌNH THỬ NGHIỆM CHỈ TIÊU SINH THÁI
CỦA SẢN PHẨM DỆT MAY THEO OEKO-TEX 100
Chủ nhiệm đề tài : ThS. BÙI THỊ THÁI NAM
Cơ quan chủ trì đề tài : VIỆN DỆT MAY 7674
05/02/2010
35
IV.2. TRIỂN KHAI THỰC NGHIỆM QUI TRÌNH XÁC ĐỊNH PCP
46
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
50
PHỤ LỤC
3
MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh ngành dệt may phải đối đầu với sự cạnh tranh gay gắt trên toàn
cầu thì sản phẩm dệt may “xanh” đang là một xu hướng để tăng tính cạnh tranh
trong tương lai. Nói tới hàng may mặc “xanh” là nói tới các sản phẩm đáp ứng được
các tiêu chuẩn sinh thái quy định, an toàn về sức khoẻ đối với người sử dụng và
không gây ô nhiễm môi trường trong sản xuất. Trong cuộc cạnh tranh quyết liệt sau
khi hạ
n ngạch dệt may được dỡ bỏ và tiêu chuẩn “Eco friendly” được EU áp dụng,
thì rào cản thương mại “xanh” là một thách thức, trở ngại lớn đối với tất cả các nước
xuất khẩu hàng dệt may vào các thị trường nói trên.
Hiện đã có hàng loạt những hệ thống dán nhãn sinh thái cho các sản phẩm dệt
như Oeko-Tex, hệ thống dán nhãn sinh thái Liên minh Châu Âu, Nordic Swan
(Thuỵ Điển), Milieukeur (Hà Lan), KRAV (Thuỵ Điển) và Toxproof, Eco-Tex và
Blue Angle (Đức). Hệ th
ống dán nhãn sinh thái Oeko-Tex là một hệ thống quan
trọng đảm bảo cho người sử dụng sản phẩm được an toàn, về việc sử dụng các hoá
Chính vì vậy, việc nghiên cứu để xây dựng và ứng dụng một số qui trình thử
nghiệm chỉ tiêu sinh thái đáp ứng tiêu chuẩn Oeko-Tex 100 là cần thi
ết nhằm hỗ trợ
các doanh nghiệp Dệt may trong việc định hướng và kiểm soát chất lượng sản phẩm
cũng như góp phần vào việc phát triển bền vững của ngành dệt may Việt Nam.
Đề tài: “ Nghiên cứu, xây dựng và ứng dụng một số qui trình thử nghiệm chỉ tiêu
sinh thái của sản phẩm dệt may theo Oeko-tex 100”, nhằm các mục tiêu sau:
1. Xây dựng được một số quy trình thử nghiệm phát hiệ
n pentaclophenol và các
kim loại nặng bị hạn chế trên sản phẩm dệt may, góp phần vào việc bổ sung
các phương pháp phân tích các hóa chất độc hại trên sản phẩm dệt may; phục
vụ công tác quản lý chất lượng và an toàn sản phẩm, sản xuất kinh doanh, đáp
ứng nhu cầu hội nhập Quốc tế.
2. Nâng cao hiệu quả sử dụng các trang thiết bị hiện có tại phòng thí nghiệm.
Nội dung và phương pháp nghiên cứu :
1. Sưu tầm, cập nhật, tổng hợp các thông tin tài liệu kỹ thuật, các tài liệu chuyên
ngành, các tiêu chuẩn phương pháp thử các chỉ tiêu sinh thái và môi trường.
2. Biên dịch, biên soạn tài liệu về các qui trình thử nghiệm pentaclophenol và
các kim loại nặng (Sb, As, Pb, Cd, Cr, Co, Cu, Ni, Hg) của nước ngoài đáp ứng tiêu
chuẩn Oeko-tex 100.
3. Trên cơ sở tài liệu biên soạn, khảo sát và triển khai thực nghiệm các qui trình
phù hợp với thiết bị hiện có của phòng thí nghiệm sinh thái và đánh giá.
4. Đào tạo các nhân viên thí nghiệ
m
5. Áp dụng thử nghiệm cho một số sản phẩm dệt may Việt nam.
5
PHẦN I
trên toàn cầu cho nguyên liệu dệt, các sản phẩm trung gian và các sản phẩm thành
phẩm ở tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất.
Việc thử nghiệm các chất có hại bao gồm các chất bị cấm hoặc bị hạn chế bằ
ng
luật, các hoá chất được biết đến là gây hại cho sức khỏe và bao gồm các thông số
như một biện pháp phòng ngừa để bảo vệ sức khoẻ.
6
Mt sn phm dt th nghim c ch nh vo mt trong bn nhúm sn phm
da vo mc ớch s dng ca chỳng. Cỏc sn phm cng cú xu hng tip xỳc vi
da thỡ cỏc yờu cu v sinh thỏi i vi con ngi cng cao.
Th nghim cỏc cht cú hi theo Oeko-Tex 100 c da trờn cỏc thụng s ó
c chng minh cú tớnh khoa hc v c soỏt xột hng nm phự hp vi cỏc
nghiờn cu v s ban hnh lut phỏp m
i nht.
Cỏc kim loi nng v pentaclophenol l cỏc cht b hn ch bng lut, vi giỏ tr
gii hn nh sau:
Bng 1 [15]
Nhóm sản phẩm
I
Trẻ em
II
Tiếp xúc
trực tiếp với
da
III
Không tiếp
xúc trực tiếp
với da
IV
150.0
150.0
1
50.0
1
Niken (Ni)
2
1.0
4.0 4.0 4.0
Thuỷ ngân (Hg)
0.02
0.02 0.02 0.02
Phenol đợc clo hoá (mg/kg)
Pentaclophenol
(PCP)
0.05 0.5 0.5 0.5
Chú thích:
1)
Không yêu cầu cho vật liệu phụ trợ từ vật liệu vô cơ.
Việc xác định các kim loại bị hạn chế trong các vật liệu nền dệt đợc tiến hành
bằng cách chiết trong dung dịch mồ hôi axit nhân tạo, sau đó phân tích bằng phổ hấp
thụ nguyên tử AAS hoặc phổ phát xạ ICP để xác định hàm lợng kim loại trong dịch
chiết. Kết quả đợc chuyển thành lợng kim loại nặng trên 1 kg vật liệu dệt. Các kim
loại nặng có thể chiết ra theo qui trình này liên quan tới phần kim loại có thể trích ly
và di trú vào da dới các điều kiện mặc, không phải là tổng hàm lợng kim loại nặng
của vật liệu dệt nền.
Các giá trị giới hạn rất thấp của hàm lợng kim loại nặng đợc rút ra từ các quy
định có tính pháp lý cho kim loại nặng trong nớc uống; sử dụng tiêu chuẩn nớc
uống ở EU nh là một mô hình với ý tởng là nếu chúng đủ tốt để uống thì chúng
8
không thể gây hại cho da. Các giới hạn này tính bằng mg/l (ppm) đợc lấy nh là các
giá trị cực đại trong dịch chiết và đợc tính toán cho hàng dệt nh đợc chỉ ra trong
tiêu chuẩn. Tuy nhiên một ngời lớn một ngày có thể tiêu thụ trung bình xấp xỉ hai
lít nớc, trong khi đó mồ hôi lại không thể uống đợc hoặc không đi vào cơ thể
thông qua da. Do vậy các giới hạn kim loại nặng trong tiêu chuẩn chỉ là liên quan
đến độ độc bề mặt khi các giới hạn này bị vợt quá, điều này không nhất thiết có
nghĩa là có nguy hiểm về sức khoẻ cho ngời tiêu dùng.
Một số kim loại nặng có thể tìm thấy ở dạng tạp chất trong các hoá chất công
nghiệp. Trong khi đó, một số kim loại nặng có mặt trên hàng dệt may là thành phần
kim loại không thể tách rời đợc của thuốc nhuộm chứ không liên quan đến tạp chất
kim loại nặng trong thuốc nhuộm và pigment khi sản phẩm dệt may đợc nhuộm,
giặt và giũ đúng quy trình; nhng giá trị đa ra trong tiêu chuẩn không có nghĩa là
tổng hàm lợng kim loại trên hàng dệt khi đợc nhuộm bằng các thuốc nhuộm phức
kim loại mà là lợng kim loại nặng có thể đi vào da ngời trong các điều kiện mặc
hàng dệt.
Các kim loại nặng có độ độc cao (thuỷ ngân - Hg, asen - As, cadimi - Cd và chì -
Pb) chắc chắn không có mặt trong nguyên liệu xơ do các hợp chất dựa trên các kim
loại này không đợc sử dụng trong ngành dệt - chúng chỉ có thể có mặt dới dạng
kinh trung ng (c bit l tr em), gõy tn thng thn v h
min dch. Chỡ c
kim soỏt M cho tng nhúm sn phm no ú, c vt liu nn v lp ph b
mt.
Các kim loại này không có mặt trong các thuốc nhuộm và chất trợ chất lợng cao.
Chúng có thể xuất hiện dới nhiễm bẩn dạng vết trên xơ tự nhiên cha xử lý, nhng
nói chung thấp hơn giới hạn cho phép nhiều. Quá trình xử lý trớc (nấu, tẩy và giặt)
loại bỏ hầu hết các kim loại nặng này.
Niken l mt nguyờn t kim loi cú th cú mt dng kim loi nguyờn cht hoc
dng cỏc hp cht ca niken, vớ d nh cỏc mui. Niken kim loi c s
dng
ch yu m hp kim, tng kh nng chng n mũn v tng cng cho hp kim
v l nguyờn t chớnh trong quỏ trỡnh sn xut thộp khụng g. Cỏc hp cht ca niken
cú th s dng lm pigment v cỏc tỏc nhõn gn mu. C hai dng niken kim loi v
cỏc hp cht ca niken cú th tỡm thy dng tp cht trong pigment v cỏc hp
kim. Niken cú th tỡm thy trong cỏc x t nhiờn, cỏc x nhõn to, vt liu trang trớ
v ph
tr bng kim loi, khuy bm, cỳc ỏo v khúa kộo. Nikel cú th gõy d ng v
b nghi l gõy ung th. Chõu u hn ch s dng nikel. Thông t của EU số
94/27/EC đã quy định hàm lợng niken giải phóng ra khỏi các sản phẩm tiếp xúc
trực tiếp lâu dài với da không đợc vợt quá 0,5àg/cm
2
/tuần.
Trong một số trờng hợp rất khó để loại bỏ đợc một số kim loại nặng khác
thờng đợc sử dụng trong xử lý hoàn tất dệt.
Antimon l mt kim loi cú th cú mt dng kim loi nguyờn cht hoc dng
hp cht, vớ d nh cỏc mui. Antimon cú th s dng lm cht xỳc tỏc trong quỏ
trỡnh polime hoỏ ca polieste. Cỏc hp cht ca antimon cú th c s dng lm
cỏc cht chng chỏy, cỏc tỏc nhõn gn mu v cú th tỡm thy trong pigment. Chỳng
trong c th cú xu hng lm thay i estrogen.
Nhìn chung, các kim loại nặng nh là đồng, crom, coban và niken có tầm quan
trọng đặc biệt đối với các thuốc nhuộm kim loại. Các thuốc nhuộm này tạo thành
một phần của dãy các gam màu xanh da trời, xanh lam, xanh ngọc lam, xanh lá cây
và màu xám. Các thuốc nhuộm này có độ bền ớt và độ bền ánh sáng tuyệt vời mà
không thể đạt đợc bằng các thuốc nhuộm thay thế không chứa kim loại. Khi sử
dụng thuốc nhuộm hoạt tính trên vật liệu dệt xenlulo, chỉ có thể đạt đợc màu xanh
11
ngọc lam và màu xanh lá cây tơi bằng thuốc nhuộm dựa trên phthaloxyanit đồng và
phthaloxyanit niken. Các phức đồng là thành phần cơ bản cho các dải màu xanh lá
cây/xám trong in pigment.
Trong tất cả các thuốc nhuộm này, kim loại là một phần không thể tách rời của
phân tử thuốc nhuộm. Nó gắn chặt với xơ bằng thuốc nhuộm. Và thông thờng chỉ
có thể giải phóng ra cùng với thuốc nhuộm. Do vậy các giá trị cho các kim loại nặng
chiết đợc thờng tơng quan chặt chẽ với giá trị độ bền màu ớt hoặc chính xác
hơn là với độ bền màu với mồ hôi cho mỗi thuốc nhuộm nhất định.
Tuy nhiên có một số ngoại lệ, khó đáp ứng yêu cầu hàm lợng kim loại nặng
chiết đợc khi:
- Nhuộm màu rất đậm
- Nhuộm có độ bền màu ớt kém
- Các thuốc nhuộm phức kim loại phải chịu quá trình bóc màu khử (quá trình
khử phá thuốc nhuộm và giải phóng ra một phần kim loại. Kim loại giải
phóng ra phải đợc giũ hết).
- Nhuộm bằng pigment, ví dụ cho các mặt hàng giặt mài, khi chủ yếu dùng
các pigment dựa trên phức đồng mà không có chất tạo màng, dẫn đến độ
bền màu ớt cực kém. Tuy nhiên, các mặt hàng in đợc sản xuất theo đúng
quy trình dựa trên các pigment có chứa đồng luôn luôn đáp ứng các yêu
cầu).
sắ
c ký khí với các detector ion hoá ngọn lửa (GC/FID), detector khối phổ (GC/MS)
hoặc detector cộng kết điện tử (GC/ECD) với yêu cầu phải dẫn xuất hoá trước khi
phân tích.
13
PHẦN II
KHẢO SÁT, LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CÁC KIM
LOẠI NẶNG VÀ PENTACLOPHENOL
II.1. KHẢO SÁT, LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CÁC KIM LOẠI
NẶNG CÓ THỂ CHIẾT RA TRÊN SẢN PHẨM DỆT
Như đã đề cập, có thể xác định các kim loại nặng chiết ra trên sản phẩm dệt sử
dụng phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử (AAS), phổ phát xạ ICP, phổ phát xạ ICP
- khối phổ (MS) hoặc phổ phát xạ quang ICP (ICP-OES) tuỳ theo năng lực thiết bị
của phòng thí nghiệm. Vớ
i điều kiện hiện có, đề tài lựa chọn phương pháp phổ hấp
thụ nguyên tử (AAS) sử dụng máy quang phổ hấp thụ nguyên tử ZEENIT 700P để
xây dựng phương pháp xác định các kim loại nặng.Tuỳ theo độ nhạy cũng như hàm
lượng kim loại chiết ra từ vải, có thể sử dụng máy quang phổ hấp thụ nguyên tử
với các kỹ thuật khác nhau để xác định các kim loại này.
Đề
tài đã tiến hành khảo sát mẫu thực tế trên cơ sở gửi mẫu tới các phòng thí
nghiệm nước ngoài có năng lực thử nghiệm các chỉ tiêu sinh thái dệt. Các mẫu vải
được chiết bằng dung dịch mồ hôi axit nhân tạo theo ISO 105 – E04, sau đó được
phân tích bằng phổ phát xạ quang ICP (ICP-OES). Kết quả được nêu trong bảng 2.
Qua tham khảo các giá trị giới hạn theo tiêu chuẩn Oeko-Tex 100 (bảng 1) và
khảo sát mẫu thực tế (bảng 2) cho thấy k
tơ tằm
(ppm)
bông
(ppm)
voile 100%
bông
(ppm) 1 Pb 0,6 <0,1 <0,02 <0,2
2 Cd <0,02 <0,02 <0,02 <0,02
3 Sb 1 1 1 1
4 Cr <0,02 <0,2 <0,02 <0,02
5 Hg <0,02 <0,02 <0,02 <0,02
6 As <0,02 <0,02 <0,02 <0,02
7 Cu <5 <5 <5 <5
8 Co <0,5 <0,5 1 <0,5
9 Ni
ICP-OES
2 <0,5 <0,5 <0,5
TT
Kim loại
có thể
chiết
Phương
pháp xác
định
M5:Vải dệt
kim 95%
15
II.1.1. Giới thiệu phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử - kỹ thuật lò graphit
(GF-AAS) để xác định các kim loại chì (Pb), cadimi (Cd), crom (Cr), coban
(Co), đồng (Cu), niken (Ni).
Nguyên lý của phương pháp giống với phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa hút trực
tiếp ngoại trừ sử dụng lò graphit để nguyên tử hoá mẫu thay cho ngọn lửa. Các
nguyên tử của nguyên tố cần đo được đặt trong chùm bức xạ bằng cách tăng nhiệt
độ
của lò, bằng cách đó làm bay hơi lượng mẫu đã được bơm vào lò. Bức xạ từ
nguyên tố đã được kích thích đã cho được đi qua hơi có chứa các nguyên tử ở trạng
thái cơ bản của nguyên tố đó. Sự giảm cường độ của bức xạ truyền qua là một phép
đo lượng nguyên tố ở trạng thái cơ bản trong hơi. Bộ đơn sắc tách bức x
ạ đặc trưng
từ đèn catot rỗng và một dụng cụ nhạy sáng đo lượng bức xạ truyền qua bị suy giảm.
Ưu điểm của phương pháp này là nhanh, nguyên tử hoá bằng lò là công cụ hữu
hiệu để mở rộng giới hạn phát hiện của các nguyên tố. Kỹ thuật này thích hợp để
xác định hàm lượng các kim loại chì (Pb), cadimi (Cd), crom (Cr), coban (Co), đồng
(Cu), niken (Ni) chiết ra trên sản phẩm dệt. Tuy nhiên khi s
ử dụng phương pháp này
cần lưu ý một số vấn đề sau:
- Các dung môi, thuốc thử, đồ thuỷ tinh và các phần cứng gia công mẫu có thể là
các yếu tố và/hoặc ảnh hưởng tới việc phân tích mẫu. Tất cả các vật liệu này phải
được chứng minh là không gây ảnh hưởng dưới các điều kiện của phép phân tích
bằng việc phân tích các mẫu trắng của phương pháp.
- Mặc dù vấn đề v
ề việc tạo thành oxit được giảm đáng kể với kỹ thuật lò (do quá
trình nguyên tử hoá xảy ra trong khí trơ), kỹ thuật này vẫn không tránh khỏi các
nhiễu hoá học. Thành phần của nền mẫu có thể ảnh hưởng đáng kể đến việc phân
tích. Các ảnh hưởng này phải được xác định và quan tâm khi phân tích mỗi loại nền
ở nhiệt độ cao hơn hoặc sử dụng chu kỳ tro hoá khi có mặt không
khí. Tuy nhiên phải lưu ý để tránh mất mát mẫu.
- Các mẫu có chứa một lượng lớn các vật liệu hữu cơ cần được oxy hoá bằng
phương pháp phá mẫu axit thông thường trước khi được bơm vào lò. Bằng cách này,
độ hấp thụ dải rộng sẽ được giảm thiểu.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các anion trong lò graphit cho thấy rằng dướ
i các
điều kiện trừ đẳng nhiệt, anion nitrat được ưa thích hơn. Vì vậy, axit nitric thường
được sử dụng để phá mẫu hoặc làm hoà tan. Khi cần thiết phải thêm các axit khác
vào axit nitric, sử dụng lượng tối thiểu. Điều này áp dụng đặc biệt với axit clohidric,
và ở một chừng mực ít hơn với axit sulfuric và phosphoric.
- Sự tạo thành cacbua nhận được từ môi trường hoá học của lò đã được quan sát
thấy. Molipden có th
ể trích dẫn như là một ví dụ. Khi cácbua tạo thành, kim loại
được giải phóng rất chậm từ cacbua kim loại thành khi quá trình nguyên tử hoá tiếp
diễn. Molipden có thể yêu cầu thời gian nguyên tử hoá là 30s hoặc nhiều hơn trước
khi tín hiệu trở về các mức đường nền. Sự tạo thành cacbua được giảm đáng kể và
tăng được độ nhạy khi sử dụng graphit phủ nhiệt phân.
- Nhiễu phổ có thể xảy ra khi bướ
c sóng hấp thụ của một nguyên tố có mặt trong
mẫu nhưng không được xác định, rơi vào độ rộng của vạch hấp thụ của nguyên tố
17
quan tâm. Các kết quả của phép xác định vì thế sẽ dẫn tới mắc sai số, do sự góp mặt
của nguyên tố ảnh hưởng tới tín hiệu hấp thụ nguyên tử.
- Khuyến nghị rằng tất các phép phân tích dùng lò graphit được tiến hành sử
dụng một chất bổ chính nền phù hợp. Việc lựa chọn chất bổ chính nền phụ thuộc
đối tượng phân tích, các điều kiện và máy móc và nên đượ
c lựa chọn bởi người phân
tích theo hoàn cảnh. Tuân thủ chỉ dẫn của nhà sản xuất thiết bị về chất bổ chính
như khí làm sạch bởi vì có thể gặp nhiễu dải CN.
18
Coban: Do lượng dư clorua có thể gây ảnh hưởng vì vậy cần thiết để kiểm tra
bằng cách thêm chuẩn mà vắng mặt nhiễu trừ khi nó có thể được chỉ ra rằng phép
thêm chuẩn là không cần thiết.
Chì: Nếu thu được độ thu hồi thấp, cần thiết sử dụng thêm chất bổ chính nền.
Bổ sung 10 µl axit phosphoric vào 1 mL mẫu đã được chuẩn bị.
Niken: Hiệu ứng nhớ
nghiêm trọng có thể xảy ra đối với niken trong ống của
lò graphit được sử dụng cho phân tích GFAA khác, do việc sử dụng chất bổ chính
nền niken nitrat trong các phương pháp đó.
Với kỹ thuật này đề tài sử dụng máy quang phổ hấp thụ nguyên tử lò graphit -
hiệu chỉnh nền Zeeman và bộ bơm mẫu tự động MPE 60 để xác định các kim loại
chì (Pb), cadimi (Cd), crom (Cr), coban (Co), đồng (Cu), niken (Ni).Giới hạn phát
hiện của thiết bị đố
i với chì là 0,04 µg/l, cadimi là 0,005 µg/l, crom là 0,05 µg/l,
coban là 0,167 µg/ , đồng là 0,096 µg/l và niken là 0,152µg/l .
II.1.2. Giới thiệu phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử - kỹ thuật tạo hydrua
(HG-AAS) để xác định các kim loại antimon (Sb), asen (As)
Phép xác định phổ hấp thụ nguyên tử kết hợp với hệ thống tạo hơi hydrua là một
phương pháp phân tích có độ nhạy cao để xác định các nguyên tố As, Bi, Ge, Pb, Sb,
Sn và Te. Thiết kế cơ bản của một hệ thống tạo hydrua với sự phát hiện ti
ếp theo
bằng phổ hấp thụ nguyên tử có thể phân thành 4 bước. Bước thứ nhất là quá trình
tạo hydrua. Bước thứ hai là quá trình thu làm giàu hydrua (nếu cần thiết). Bước thứ
ba là chuyển hydrua vào bộ phận nguyên tử hóa và bước cuối cùng là phân hủy
hydrua thành dạng nguyên tố ở thể khí bên trong trục quang học của hệ thống phát
hiện. Do ảnh hưởng nhiễu thấp, độ chọn lọc và độ nhạy tốt hơn, HG-AAS là một
.
A
m+
+ (m+n) H
.
→ AH
n
+ mH
+
Trong đó: A
m
là đối tương phân tích.
THB (NaBH
4
) là một thuốc thử đa năng đặc biệt được sử dụng rộng rãi để khử
bản thân nó và đối với các tính chất chuyển thành hydrua.
Giả sử sự phát ra hydro mới sinh từ quá trình thủy phân axit của THB (NaBH
4
), sự
tạo hydrua được mô tả như sau:
A
m+
NaBH
4
+ 3H
2
O + HCl → H
3
BO
+ me
-
→ A
o
.
Sự tạo thành hydrua từ kim loại/á kim lắng,
A
o
+ nH
.
→ AH
n
,
Trong đó H đặc trưng cho nguyên tử hydro, từ nguyên tử hydro đã được hấp thụ,
H
3
O
+
đã được khử hoặc H
2
O đã được khử.
Gần đây, D’Ulivo et al, đã tạo ra hydrua sử dụng các boran amin (AB) của dạng
L-BH
3
(trong đó L = NH
3
, tert-BuNH
2
, Me
2
Sb (III). KI cũng có tác dụng che sự ảnh hưởng của các ion kim loại khác. Các quá
trình phản ứng cơ bản:
Sự khử As (V) về As (III):
H
3
AsO
4
+ 3 I
-
+ 2 H
3
O
+
→ H
3
AsO
3
+ I
3
-
+ 3 H
2
O
Sự hình thành dạng hydrua kim loại trong bình phản ứng:
NaBH
4
+ 3 H
2
O + HCl → HBO
3
21
- Nước cất không được tinh khiết, phải dùng nước khử ion hay nước cất hai
lần), tránh các ion kim loại chuyển tiếp có thể xúc tác gây phân huỷ
NaBH
4
.
- Ống dẫn hơi hydrua đến cell thạch anh phải rất sạch, không được để giọt
chất lỏng đọng lại trong ống, nếu có hiện tượng này thì phải tháo ống rửa
bằng nước khử ion, sau đó dùng khí nén thổi sạch.
- Cell thạch anh sau một thời gian sử dụng có thể mờ do sự ăn mòn bởi axit
ở nhiệt độ cao. Hơn nữa, một lượng mẫu nhỏ
cũng bị cuốn đến cell thạch
anh và đọng lại ở đó. Những nguyên nhân này ảnh hưởng hiệu suất nguyên
tử hoá trong cell. Do vậy có thể làm sạch cell thạch anh bằng HF + HNO3
+ nước (1:0,5:1) ở nhiệt độ thường (ngâm khoảng 30 phút), hoặc có thể
ngâm trong bể siêu âm 3 phút, sau đó rửa lại bằng nước khử ion, sấy khô
và hoạt hoá ở 950
o
C (khoảng 5 phút) bằng chính nguyên tố cần phân tích
với nồng độ hoạt hoá lớn hơn ngưỡng trên của dải phân tích.
- Áp suất khí argon không đảm bảo.
- Hệ thống ống dẫn khí rò rỉ.
- Các dụng cụ phân tích bị nhiễm bẩn
II.1.3. Giới thiệu phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử - kỹ thuật bay hơi lạnh
để xác định thuỷ ngân (Hg)
Các nguyên tử thuỷ ngân tự do có thể t
ồn tại ở nhiệt độ phòng thì có thể được
phân tích bằng phổ hấp thụ nguyên tử. Thuỷ ngân trong dung dịch được khử bằng
Hg
2+
+ 2H
.
→ Hg
o
+ 2H
+ II.2. KHẢO SÁT, LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH
PENTACLOPHENOL (PCP) TRÊN SẢN PHẨM DỆT
II.2.1. Lựa chọn phương pháp phân tích PCP
Trong số các kỹ thuật phân tích có thể sử dụng để xác định PCP, phương pháp
sắc ký khí (GC) được sử dụng nhiều nhất do tính ưu việt của chúng về độ nhạy, khả
năng phân giải cao. PCP có thể được phân tích trên sắc ký khí với detector ion hoá
ngọn lửa (GC/FID) ở dạng hợp chất phenol chư
a được dẫn xuất hoá, hoặc phân tích
trên sắc ký khí với detector khối phổ (GC/MS) sử dụng đồng vị
13
C-PCP và sắc ký
khí với detector cộng kết điện tử (GC/ECD) cho phép xác định PCP ở các mức nồng
độ rất thấp nhưng yêu cầu phải dẫn xuất hoá trước khi phân tích trên GC.
Với năng lực về trang thiết bị và hoá chất - chất chuẩn hiện có, đề tài lựa chọn
phương pháp sắc ký khí với detector cộng kết điện tử (GC/ECD) để xác định PCP
với bước dẫn xuất hoá trướ
c khi phân tích trên GC.
Nguyên tắc hoạt động của thiết bị sắc ký khí
2
+
+ 2e
Cỏc ion v in t t do s chy v hai bn cc khỏc du trong bung detector v
to ra mt dũng in nht nh, gi l dũng in nn. Khi cú cỏc phõn t cha cỏc
nguyờn t hoc nhúm nguyờn t cú kh nng hp th in t (X) i vo bung
detector, chỳng s hp th cỏc in t t do to thnh mt ion õm v lm gim dũng
in nn.
X + e X
-
Phn t tớch in õm ny chuyn ng chm hn in t t do v mt nhiu thi
gian n in cc dng. Thờm vo ú, chỳng s tỏi hp ion theo phng trỡnh
sau:
X
-
+ N
2
+
X + N
2
Nh vy, mt in t t do gim do ú dũng in nn b gim i. S gim
dũng in ny cho ta tớn hiu t l vi nng cht cú mt trong mu v s nhúm d
t cú mt trong phõn t.II.2.2. La chn phng phỏp chit v dung mụi chit PCP trờn sn phm
dt
Cỏc hp cht pentaclophenol cú th chit s dng cỏc k thut chit Shoxhlet
hoc chit siờu õm cho cỏc mu rn vi thu hi t trờn 70%. Vi iu kin trang
Vi tớnh cht phõn cc va, cú th s dng mt s dung mụi chit PCP trờn
vt liu dt nh axeton, axeton/hexan (1:1 v/v), metylen clorua/ axeton (1:1 v/v).
Tuy nhiờn theo cỏc s liu thng kờ cho thy vic s dng axeton/hexan (1:1 v/v)
chit cỏc phenol t thu hi cao nht > 65% so vi vic s dng cỏc h dung mụi
khỏc. Vỡ vy, ti la chn hn hp axeton/hexan (1:1 v/v) lm dung mụi
chit.
II.2.3. La ch
n phng phỏp dn xut hoỏ
Cỏc hp cht clophenol cú tớnh phõn cc va vi nhúm OH nờn thng gõy ra
hin tng kộo chõn pic (vỡ s lu gi ca cỏc clophenol vi pha tnh lõu), lm cho
vic nh tớnh v nh lng bng phng phỏp sc ký thng gp khú khn v mc
sai s. Ngay c vic phõn tớch cỏc phenol cha c dn xut hoỏ bng sc ký khớ
phõn gii cao (HRGC) vn cú nhng bt li, vỡ vy phõn tớch clophenol ngi ta
thng d
n xut chỳng trc khi phõn tớch sc ký, mc dự cỏc phng phỏp dn
xut yờu cu mt qỳa trỡnh x lý tin sc ký c bit.
u im ca dn xut hoỏ trong sc ký
S dn xut hoỏ hc ca mt cht hoc hn hp cỏc cht i vi phõn tớch núi
chung v phõn tớch sc ký núi riờng t c nhng u th sau:
- Mt cht no ú ch dựng phng phỏp phõn tớch c thự nu nú c dn
xut: Thng cỏc hp cht khụng th phõn tớch bng cỏc phng phỏp c
trng bi vỡ chỳng khụng phự hp cho phõn tớch c thự. Vớ d cỏc hp
cht khụng d bay hi cho phõn tớch s
c ký v khú ho tan trong phõn tớch
25
HPLC, các chất không bền dưới các điều kiện phân tích cũng thuộc loại
này. Quá trình dẫn xuất làm thay đổi cấu trúc hoá học của các hợp chất
đã được metyl hoá cần được phân tích ngay lập tức sau khi
tạo dẫn xuất để giảm thiểu các phản ứng khác có thể xảy ra. Vì một số bất lợi đó nên
kỹ thuật này ít được sử dụng.
Acetic anhydric là chất dẫn xuất được dùng nhiều nhất vì phản ứng acetyl hoá
PCP xảy ra trong điều kiện đơn giản, dễ thực hiện, phản ứng xảy ra hoàn toàn và