Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM TRẦN THỊ TUYẾT HỒNG

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT NAM
ĐỊNH Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số : 60 14 05 LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hà Nhật Thăng


1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
5
1.1.1. Vấn đề tự học đã có từ lâu trong lịch sử
5
1.1.2. Nghiên cứu của các tác giả về quản lý tự học
6
1.2. Những vấn đề lý luận về tự học
8
1.2.1. Khái niệm về tự học
8
1.2.2. Các hình thức tự học
9
1.2.3. ý nghĩa của hoạt động tự học đối với sự hoàn thiện nhân cách
10
1.3 Những vấn đề về quản lý, quản lý hoạt động tự học
11
1.3.1 Một số khái niệm công cụ quản lý tự học của sinh viên
11
1.3.2 Quản lý giáo dục
14
1.3.3. Quản lý nhà trường
15
1.3.4. Quản lý hoạt động tự học
16
1.4.Vai trò của quản lý hoạt động tự học đối với sinh viên các trường đại học
19
1.4.1. Quản lý tốt hoạt động tự học góp phần nâng cao sự thống nhất hoạt
động giữa thầy và trò
19
1.4.2. Quản lý tự học góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng hoạt động học

2.2.2 Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên
42
2.3 Thực trạng quản lý của nhà trường và hoạt động tự học của sinh viên
47
2.3.1 Thực trạng việc tổ chức bộ máy quản lý tự học của sinh viên
47
2.3.2 Thực trạng xây dựng kế hoạch quản lý
50
2.3.3 Các biện pháp quản lý đã thực hiện
51
2.3.4. Những khó khăn và thuận lợi về quản lý hoạt động tự học của sinh viên
trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định
61
Kết luận chương 2
63
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học
Sư phạm Kỹ thuật Nam Định
64
3.1 Nguyên tắc để xây dựng biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên
trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Đinh
64
3.1.1 Các biện pháp phải đồng bộ tác động vào các yếu tố của hoạt động tự học
64
3.1.2 Phải phát huy được ý thức tự giác tính tích cực của thầy và trò đặc biệt
của sinh viên
65
3.1.3 Phải phát huy mọi tiềm năng trong và ngoài trường
65
3.1.4 Đảm bảo tính kế thừa
66

98 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
100
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình phát triển nhân cách của mỗi người luôn bị chế ước chi phối
bởi bốn yếu tố: Bẩm sinh di truyền được coi như là tiền đề vật chất; Hoàn cảnh (bao
gồm hoàn cảnh tự nhiên và hoàn cảnh xã hội) được xác định là môi trường của sự
phát triển; Giáo dục (bao gồm tác động giáo dục có định hướng của gia đình, nhà
trường, các tổ chức xã hội khác) có ý nghĩa định hướng, điều chỉnh sự phát triển cá
nhân và yếu tố thứ tư là hoạt động rèn luyện của bản thân chủ thể. Đó là yếu tố
quyết định hiệu quả của sự phát triển nhân cách. Tự học là một thành phần của quá
trình tự hoạt động, tự rèn luyện.
1.1. Xuất phát từ vai trò của tự học đối với việc nâng cao chất lượng Giáo dục -
Đào tạo
Tự học- tự đào tạo là một con đường phát triển suốt đời của mỗi người. Đó
cũng là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam. Chất lượng và hiệu quả giáo
dục được nâng cao khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khi biến được
quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục. Quy mô giáo dục được mở rộng khi
có phong trào toàn dân tự học. Để đáp ứng được nguồn nhân lực có đủ số lượng và
chất lượng để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đảng
ta xác định mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm (2001 - 2010) là:
“Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta căn bản trở thành

hành lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”.
1.3. Thực tế việc bồi dưỡng năng lực tự học chưa được các trường đại học quan
tâm thoả đáng trong đó có trường Đại học Sư Phạm Kỹ thuật Nam Định
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật không những đào tạo ra những kỹ sư
công nghệ trình độ đại học và cao đẳng mà còn đào tạo GVDN, giáo viên kỹ
thuật đáp ứng nhu cầu nhân lực có trình độ cao cho sự phát triển nền kinh tế xã
hội của các tỉnh phía Bắc. Về thực tế, chất lượng học tập của sinh viên trường
ĐHSPKT Nam Định còn thấp,chúng tôi nhận thấy sinh viên còn rất lúng túng
trong tự học, nhất là những môn mới chưa được tiếp xúc ở trường phổ thông.
Các thầy cô giáo phần lớn chỉ tập trung truyền thụ kiến thức cho sinh viên mà
chưa quan tâm hướng dẫn cho SV tự học tự trao dồi kiến thức. Sinh viên học tập
còn mang tính chất đối phó với KT và thi cử. Khả năng tự học hỏi, tự nghiên cứu còn rất yếu; công tác quản lý việc tự học của sinh viên chưa được sát sao lắm, số
lượng giáo viên cơ hữu của trường còn thiếu.
Đó là những nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả học tập của SV còn thấp.
Chính vì vậy, để tìm ra biện pháp tổ chức, quản lý hoạt động tự học của SV trường
ĐHSPKT Nam Định là cần thiết đối với nhà trường trong giai đoạn hiện
nay,chúng tôi xác định đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên
trường ĐHSPKT Nam Định” làm luận văn tốt nghiệp cao học.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự học,
tự bồi dưỡng của sinh viên trường ĐHSPKT Nam Định.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động tự học của sinh viên trường ĐHSPKT Nam Định.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường ĐHSPKT Nam
Định.

+ Phương pháp quan sát thực tế.
+ Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
+ Phương pháp trao đổi toạ đàm
Phương pháp sử lý thông tin: Ngoài phân tích, tổng hợp, chủ yếu tác giả sử
dụng toán thống kê, phần mềm tin học.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận khuyến nghị và tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học
Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường Đại
học Sư phạm Kỹ thuật Nam định
Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường Đại học
Sư phạm Kỹ thuật Nam Định Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC
1.1. Lịch sử về vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Vấn đề tự học đã có từ lâu trong lịch sử
Trong lịch sử phát triển của giáo dục, tự học là vấn đề đã được quan tâm và
nghiên cứu từ lâu cả về mặt lý luận và thực tiễn nhằm phát huy vai trò tích cực học
tập của người học. Song ở từng giai đoạn phát triển của lịch sử vấn đề tự học được
đề cập tới dưới nhiều hình thức khác nhau.
Ngay từ thời Trung Hoa cổ đại, nhà giáo dục lỗi lạc đã nhận thấy vai trò
quan trọng của vấn đề tự học. Khổng Tử (551-479Tr CN), trong cuộc đời dạy học
của mình ông luôn quan tâm và coi trọng mặt tích cực của người học. Ông đã từng
dạy học trò: “Không giận vì không muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì
không rõ thì không bày cho, vật có 4 góc bảo cho biết một góc mà không suy ra
được ba góc kia thì không dạy nữa”.
Khi khoa học giáo dục trở thành khoa học thực sự, người đặt nền móng cho
sự ra đời và phát triển của nhà trường hiện đại là nhà sư phạm vĩ đại

pháp hợp tác”. Đây là những phương pháp mà người học không chỉ lĩnh hội kiến
thức bằng cách nghe thầy giảng mà còn từ hoạt động tự học, tự tìm tòi để biến kiến
thức của sách vở, của thầy thành kiến thức của mình, Giáo viên chỉ là trọng tài, thiết
kế, đạo diễn, tổ chức, giúp đỡ học sinh biết cách học, biết cách làm Các nhà
nghiên cứu qua thực nghiệm cũng đã chỉ ra những hạn chế nhất định của các
phương pháp đó là không thể ứng dụng cho mọi loại tri thức, không thể vận dụng
mọi lúc, mọi nơi mà còn phải phụ thuộc vào trình độ tổ chức và thực hiện của mỗi
giáo viên, năng lực tự học, tự nghiên cứu, tính tự nguyện học hỏi của mỗi cá nhân
người học.
Nhiều nhà giáo dục ở Châu Á cũng đã quan tâm đến lĩnh vực tự học của học
sinh. Nhà sư phạm nổi tiếng người Nhật ông T.Makiguchi đã trình bày những tư
tưởng giáo dục mới trong tác phẩm “Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo”. Ông cho rằng
giáo dục có thể coi là quá trình hướng dẫn tự học mà động lực của nó là kích thích
người học sáng tạo ra giá trị để đạt tới hạnh phúc của bản thân và của cộng đồng.
Trước những thách thức mới của thế kỷ 21. Hội đồng Quốc tế Jacques Delors về
giáo dục cho thế kỷ 21 đã hoàn thành bản báo cáo phân tích nhiều khía cạnh học tập
trong xã hội tương lai, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò người học, cách học cần
phải được dạy cho thế hệ trẻ. 1.1.2. Nghiên cứu của các tác giả về quản lý tự học
Ở Việt Nam, các bậc thầy trong giáo dục thời xưa đã từng chú ý đến vai trò
của người học như; Chu văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong thời đại ngày nay
cũng có nhiều ý kiến về vấn đề này. Hoạt động tự học thực sự được chú ý quan tâm
dưới nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Bác Hồ đã từng dạy: cách học tập lấy người
học làm nòng cốt, và khi nói về công tác huấn luyện và học tập Người nhấn mạnh
“Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học” Người khuyên “Không phải có thầy thì
học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập”
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nhắc nhở sinh viên: “Ở Đại học, điều chủ
yếu là học phương pháp nếu anh tự vũ trang được một phương pháp vững vàng

Nhưng về phương diện quản lý hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại
học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định chưa có đề tài nào đề cập tới. Chính vì vậy tôi
chọn đề tài: “Biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên Trường Đại học Sư
phạm Kỹ thuật Nam Định”
1.2. Những vấn đề lý luận về tự học
1.2.1. Khái niệm về tự học
Có rất nhiều tác giả nghiên cứu về tự học, mỗi tác giả có những quan điểm
khác nhau, sau đây là một số các quan điểm.
Nhà tâm lý học N.A Rubakin cho rằng: “Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức,
kinh nghiệm xã hội lịch sử trong thực tiễn hoạt động các nhân bằng cách thiết lập
các mối liên hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu ,đối chiếu với các mô hình phản ánh
hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm kỹ
năng, kỹ xảo của bản thân chủ thể. {27}
Theo giáo sư người Nga S.I. Zinoviez tự học đó là việc học độc lập của SV
diễn ra song song với quá trình dạy học Theo Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học - là tự
mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích
tổng hợp ) và khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất cuả
mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cá nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung
thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng
say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi )để chiếm lĩnh một
lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của
mình”{30,621}. Theo Võ Quang Phúc: “Tự học là một bộ phận của học, nó được tạo thành
bởi những thao tác, cử chỉ ngôn ngữ, hành động của người học trong hệ thống tương
tác của hoạt động dạy học. Tự học phản ánh rõ nhu cầu bức xúc về học tập của
người học, phản ánh tính tự giác và sự nỗ lực của người học, phản ánh năng lực tổ
chức và tự điều khiển của người học nhằm đạt kết quả nhất định trong hoàn cảnh
nhất định với nội dung học tập nhất định”{24,37}.

Kiểu học này người học tự học để hiểu, để thấm các kiến thức trong sách vở
qua đó sẽ phát triển tư duy. Tự học hoàn toàn với sách là cái đích mà người học
phải đạt đến để xây dựng một xã hội học tập suốt đời.
+ Tự học có thầy ở xa hướng dẫn:
Mặc dù thầy ở xa nhưng vẫn có các mối quan hệ trao đổi thông tin thô sơ
hay phức tạp dưới dạng phản ánh và giải đáp những thắc mắc, làm bài kiểm tra,
đánh giá
- Hình thức 3: Tự học có sách, có sự điều khiển trực tiếp của thầy những
phương tiện kỹ thuật trên lớp với một số tiết trong ngày sau đó người học về nhà tự
học dưới sự hướng dẫn gián tiếp của giáo viên.
+ Trong quá trình học tập trên lớp, thầy với vai trò là nhân tố hỗ trợ, là chất
xúc tác thúc đẩy và tạo điều kiện để trò tự lĩnh hội tri thức. Trò với vai trò là chủ thể
của quá trình nhận thức: tự giác tích cực say mê, sáng tạo trong quá trình nhận thức.
Mối quan hệ giữa thầy và trò là mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực. Ngoại lực dù
có quan trọng đến mấy cũng chỉ là chất xúc tác thúc đẩy nội lực phát triển.
+ Trong quá trình tự học ở nhà, với sự hướng dẫn gián tiếp của thầy, người
học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sắp sếp kế hoạch, huy động mọi
trí tuệ và kỹ năng của bản thân để hoàn thành những yêu cầu do giáo viên đề ra. Tự
học của người học theo hình thức này liên quan trực tiếp với yêu cầu của giáo viên,
được giáo viên định hướng về nội dung, phương pháp tự học để người học thực
hiện. Như vậy, ở hình thức tự học thứ 3 này quá trình tự học của sinh viên có liên
quan chặt chẽ với quá trình dạy học, chịu sự tác động của nhiều yếu tố trong đó có
yếu tố tổ chức và quản lý quá trình dạy học của GV và quá trình tự học của sinh
viên.
Mục đích và nội dung nghiên cứu của đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu
công tác quản lý hoạt động tự học của sinh viên trong và ngoài giờ lên lớp dưới sự
hướng dẫn của giảng viên trong quá trình dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào
tạo ở Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Nam Định. 1.3. Những vấn đề về quản lý, quản lý hoạt động tự học
1.3.1. Một số khái niệm công cụ quản lý tự học của sinh viên
+ Khái niệm về quản lý.
Quản lý là sự điều khiển một hệ thống hoạt động xã hội ở tầm vĩ mô cũng
như vi mô. Đó là loại lao động để điều khiển người lao động. Nó là một thuộc tính
lịch sử, có tính vĩnh hằng.
Hoạt động quản lý nẩy sinh và bắt nguồn từ chính trong quá trình lao động để
cải tạo tự nhiên và xã hội của con người. Khi xã hội càng phát triển, các hình thức lao
động càng phong phú thì hoạt động quản lý càng chiếm vai trò quan trọng và càng có
điều kiện để trở thành một khoa học. Vì vậy Các Mác đã viết: “Bất kỳ một lao động xã
hội hay cộng đồng nào được tiến hành trên quy mô tương đối lớn cũng đều cần có sự
quản lý, nó xác lập mối quan hệ hài hoà giữa các công việc riêng rẽ và thực hiện những
chức năng chung nhất, xuất phát từ sự vận động của toàn cơ cấu sản xuất (khác với vận
động của từng bộ phận độc lập trong nền sản xuất ấy). Một nghệ sỹ chơi đàn chỉ phải
điều khiển có chính mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”
Vậy quản lý là gì?
Khoa học quản lý, xuất phát từ những cách tiếp cận khác nhau, đã đưa ra
những quan điểm khác nhau về quản lý. Có người cho rằng quản lý là cai trị “Cai trị
một tổ chức bằng cách đặt ra các mục tiêu và hoàn chỉnh các mục tiêu, bằng cách
lựa chọn và sử dụng những phương tiện, phương pháp thích hợp”. Những người
theo quan điểm này cho rằng quản lý là cai trị vì trong quản lý không phải mọi lúc
cấp dưới đều chấp hành mệnh lệnh cấp trên cho nên phải cưỡng chế.
Nhưng cũng có những quan điểm lại cho rằng quản lý là điều hành, điều
khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hành động của con người.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự tác động liên tục có mục
đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung
là khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”{25,24}
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “ Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức,

* Xác định các hoạt động cần thiết để đạt được những mục tiêu. Lập kế hoạch sẽ tạo
ra khả năng cho việc điều hành tác nghiệp của hệ thống làm cho việc kiểm tra được
dễ dàng.
- Chức năng tổ chức thực hiện kế hoạch. Tổ chức thực hiện kế hoạch là quá trình sắp xếp và phân phối các nguồn lực
để hịên thực hoá các mục tiêu đã đề ra, là sự sắp đặt một cách khoa học cho con
người, công việc một cách hợp lý, là sự phối hợp các tác động bộ phận tạo nên một
tác động tích hợp mà hiệu quả của nó lớn hơn nhiều so với tổng số các hiệu quả của
tác động thành phần. Công tác tổ chức bao gồm:
* Xác định cấu trúc của bộ máy.
* Tiếp nhận và phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy.
* Xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận, các thành viên trong tổ chức.
- Chức năng chỉ đạo.
Chỉ đạo là quá trình tác động, liên kết các thành viên trong tổ chức, tập hợp,
động viên họ hoàn thành những công việc nhất định để đạt được những mục tiêu
của tổ chức.
Nội dung của chức năng chỉ đạo bao gồm:
*Chỉ huy, ra lệnh.
*Động viên khen thưởng.
*Theo dõi, giám sát.
*Uốn nắn, sửa chữa, chỉnh lý.
- Chức năng kiểm tra đánh giá.
Để hoàn thành chức năng lãnh đạo, người lãnh đạo hệ thống cần phải thực
hiện chức năng kiểm tra của quản lý. Xem mục tiêu dự kiến ban đầu và toàn bộ kế
hoạch đã đạt được ở mức độ nào, kịp thời phát hiện những sai sót lệch lạc, tìm ra
nguyên nhân của những sai sót, điều chỉnh và tạo thông tin cho quản lý tiếp theo.
Bốn chức năng của quản lý có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một
chu trình quản lý. Chu trình quản lý bao gồm 4 giai đoạn với sự tham gia của 2 yếu

Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể
quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục tới mục tiêu đã định, trên cơ sở nhận thức và
vận dụng đúng những quy luật khách quan của hệ thống giáo dục quốc dân.
Từ các định nghĩa trên ta thấy có hai yếu tố cơ bản thường được nhắc đến
trong quản lý giáo dục đó là:
Chủ thể quản lý: Hệ thống, bộ máy quản lý giáo dục các cấp.
Khách thể quản lý: Là hệ thống giáo dục quốc dân hay sự nghiệp giáo dục
của địa phương.
Như vậy, sự tác động từ chủ thể quản lý đến khách thể quản lý có thể từ
người quản lý đơn vị cơ sở giáo dục đến các đối tượng quản lý là người dạy, người
học, cơ sở vật chất thiết bị, hoặc từ tác động giữa các cấp quản lý giáo dục từ trung
ương đến địa phương.
1.3.3. Quản lý nhà trường
Nhà trường là một thể chế xã hội- Nhà nước, là một đơn vị tổ chức hoàn
chỉnh, một cơ quan giáo dục chuyên biệt thực hiện chức năng giáo dục-đào tạo của
Nhà nước và của cộng đồng xã hội chuẩn bị cho thế hệ trẻ bước vào cuộc sống.
Quản lý giáo dục là một phạm vi cụ thể của quản lý hệ thống giáo dục. Theo
GS.TS Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo
nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành
giáo dục, với thế hệ trẻ, với từng học sinh”{13 ,61}
Quản lý nhà trường bao gồm nhiều nội dung:
Quản lý cơ sở vật chất và thiết bị nhằm phục vụ cho việc học tập, giảng dạy:
Quản lý nguồn tài chính hiện có của nhà trường để xây dựng cơ sở vật chất, trang
thiết bị để tiến hành cho hoạt động dạy học và giáo dục; Tổ chức đội ngũ nhà giáo,
CBCNV, tập thể học sinh thực hiện tốt các nhiệm vụ trong chương trình công tác
của nhà trường; Quản lý các hoạt động chuyên môn: Quản lý chương trình, thời
gian, quản lý chất lượng, theo chương trình giáo dục của Bộ, của nhà trường; Quản

sai trái trong học tập.
+ Về hành vi rèn luyện tính kiên trì trong học tập, hình thành thói quen độc
lập trong suy nghĩ và hành động, nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu. Hành vi
trên chính là sản phẩm của nhận thức, là biểu hiện cụ thể tình cảm của sinh viên đối
với hoạt động tự học.
- Nội dung quản lý hoạt động tự học.
* Giáo dục và nâng cao nhận thức về vai trò của tự học và thúc đẩy hoạt
động tự học của SV:
Mọi hoạt động của con người đều là hoạt động có mục đích, được thúc đẩy
bởi động cơ của hoạt động đó. Động cơ hoạt động là lực đẩy và là nguyên nhân trực
tiếp của hành động duy trì hứng thú, tạo ra sự chú ý liên tục, giúp chủ thể vượt mọi
khó khăn đạt tới mục đích đã định. Vì vậy động cơ của hoạt động quyết định kết
quả của hoạt động đó. Nhận thức của sinh viên về vai trò của hoạt động tự học cũng
là một quá trình, tuân theo các quy luật nhận thức chân lý khách quan: Từ trực quan
sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng trở về với thực tiễn. Muốn
nâng cao nhận thức của sinh viên về vai trò của hoạt động tự học, từ đó giúp họ có
những hành động tự học nhằm hoàn thành tốt những nhiệm vụ học tập của mình, thì
nhà trường phải thường xuyên, đồng thời tiến hành nhiều biện pháp và hình thức
giáo dục như: Giáo dục truyền thống, giáo dục nâng cao nhận thức về mục tiêu, yêu
cầu đào tạo, các quy chế, quy định về giáo dục- đào tạo, xây dựng bầu không khí
học tập tích cực trong tập thể sinh viên. Hoạt động tự học của sinh viên bình đẳng
như các hoạt động khác, song nó có tính độc lập cao và mang đậm sắc thái cá nhân,
điệu này càng khẳng định nó phải được thúc đẩy bởi hệ thống động cơ học tập nói
chung và động cơ tự học nói riêng. Thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức vè vai trò to lớn của hoạt động
tự học sẽ trực tiếp góp phần xây dựng và thúc đẩy động cơ tự học của học sinh-
sinh viên. Động cơ tự học cũng có nhiều cấp độ khác nhau, bắt đầu từ sự thoả mãn
nhu cầu phải hoàn thành nhiệm vụ tự học, tự khẳng định mình, mong muốn thành

Phương pháp tự học đối với từng môn học, từng người là khác nhau. Tuy
nhiên, các phương pháp tự học vẫn có những điểm chung mà chúng ta cần tranh
thủ đó là phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá, khái quát
hoá, quy nạp diễn dịch, đọc sách, diễn đạt sự hiểu biết của mình bằng ngôn ngữ,
sơ đồ, bản vẽ, ký hiệu Bên cạnh những phương pháp chung còn có các phương
pháp đặc thù với từng môn học như phương pháp học kỹ thuật nghề nghiệp là
luyện tập thực hành
Việc quản lý các phương pháp tự học của sinh viên được thực hiện thông
qua: Việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện các phương pháp dạy học tích cực; việc hướng
dẫn các phương pháp tự học cho sinh viên, việc hướng dẫn phương pháp tự học cho
sinh viên chọn, đọc, ghi chép đúng khi đọc; thông qua việc tổ chức Xê-mi-na báo
cáo chuyên đề về tự học của sinh viên; thông qua việc tổ chức sơ kết, tổng kết nêu
gương sinh viên có phương pháp tự học có hiệu quả
Cán bộ giảng viên cần hướng dẫn cho sinh viên xây dựng kế hoạch tự học và
giúp đỡ họ tự quản lý phương pháp tự học của mình. Để giải quyết vấn đề quản lý
phương pháp tự học, phải bắt đầu từ việc xác định mục đích, động cơ học tập đúng
đắn, từ việc lựa chọn các cách học, biện pháp học cho phù hợp Do vậy người học
phải biết quản lý phương pháp tự học của mình theo một kế hoạch hợp lý, biết tạo
ra điều kiện cần thiết để đảm bảo cho việc tự học suốt đời, học ở mọi người, học ở
mọi nơi, mọi lúc. Muốn tự học thành công, mỗi sinh viên phải biết tự vượt khó,
vượt khổ; phải tìm ra được nội dung và phương pháp học tập phù hợp với điều kiện
và năng lực của mình, phải quyết tâm thực hiện đúng kế hoạch tự học hàng ngày,
hàng tuần, hàng tháng, và từng năm; phải tận dụng được sự giúp đỡ của giảng viên
của các bạn và các phương tiện kỹ thuật học tập.
* Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả tự học:
Vấn đề tự kiểm tra đánh giá trong tổ chức hoạt động tự học của sinh viên là
một trong những yếu tố quyết định thắng lợi của việc học tập nói chung, tự học nói riêng; việc chỉ bảo dạy dỗ của thầy, bạn chỉ đóng vai trò hỗ trợ. Quản lý việc kiểm
của họ và điều chỉnh giảng dạy của chính mình để đạt kết quả cao trong quá trình
dạy và học. Bằng sự chỉ đạo như vậy, đã thực sự đặt sinh viên vào vị trí chủ thể của
quá trình nhận thức tích cực, phát triển mọi năng lực học tập độc lập sáng tạo chiếm
lĩnh tri thức nghề nghiệp và kỹ năng nghề nghiệp của mình.
Dựa trên mục tiêu, nội dung DH, quy luật của quá trình nhận thức, dựa vào
đặc điểm SV và điều kiện cụ thể, GV cần đặt ra những yêu cầu tự học đối với SV và
gợi ý cách và kế hoạch thực hiện mục tiêu của hoạt động tự học. Khi chỉ đạo, tổ chức
điều khiển SV tự học GV không nên làm thay việc giải quyết mâu thuẫn nhận thức
hoặc áp đặt hoàn toàn về nội dung, phương pháp cũng như tiến trình hoạt động tự học
của họ. Mặt khác, GV cũng không nên phó mặc hoàn toàn để hoạt động tự học của
sinh viên diễn ra một cách tự phát, hạ thấp vai trò chỉ đạo, điều khiển của mình.
Người giảng viên phải biết lựa chọn những mục tiêu vừa sức đảm bảo cho
người học với sự tích cực nỗ lực của họ sẽ hoàn thành được mục tiêu đã đề ra. Đồng
thời GV giúp SV có được những kỹ năng tự học cần thiết để thực hiện thành công
các hoạt động tự học. Như vậy GV là người điều khiển, điều chỉnh SV chiếm lĩnh
thông tin. Thông tin là một yếu tố không thể thiếu được của công tác quản lý. Trong
quản lý hoạt động tự học, thông tin là các tín hiệu mới, được thu nhận, được hiểu,
được cho là có ích trong hoạt động quản lý tự học. Trên cơ sở những thông tin chủ
thể quản lý tính toán, xử lý để kịp thời đưa ra những quyết định quản lý là những
nội quy, quy định của nhà trường về học tập nói chung và tự học nói riêng.
Thông qua những hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học như diễn giảng,
xêmina, thực hành và tự học thì vai trò tích cực, chủ động của sinh viên được tăng dần,
còn vai trò trực tiếp của GV thì giảm dần đến gián tiếp ở hình thức tự học của SV.
Lý luận dạy học ở đại học đã khẳng định rằng: quá trình dạy học ở đại học
bản chất là quá trình nhận thức độc đáo có tính chất nghiên cứu của SV được tiến
hành dưới sự tổ chức điều khiển của GV nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học, nó
cao hơn quá trình nhận thức của học sinh phổ thông và tiếp cận với quá trình nhận
thức của các nhà khoa học.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status