ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRƢƠNG THỊ THUÝ NINH BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC
CỦA HỌC SINH PHỔ THÔNG TẠI TRUNG TÂM
GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN THANH BA
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
̀
i hƣơ
́
ng dâ
̃
n khoa ho
̣
c:
PGS.TS. NGUYÊ
̃
N THI
̣
PHƢƠNG HOA
HÀNỘI – 2010
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong tiến trình phát triển chung của nhân loại, tri thức có vai trò thúc đẩy
sự tiến bộ của xã hội. Sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia đều dựa trên
nền tảng tri thức và muốn có tri thức thì phải phát triển giáo dục. Đặc biệt khi
chúng ta đang bước sang một kỷ nguyên mới, kỉ nguyên của nền kinh tế tri thức, kỉ
nguyên thông tin với những thay đổi to lớn và nhanh chóng do vậy mà triết lý giáo
dục trong thế kỉ XXI cũng có những thay đổi mạnh mẽ, hướng tới một xã hội học
khiển hoạt động học tập của bản thân và phải biến quá trình giáo dục thành quá
trình tự giáo dục. Như vậy, tự học là con đường phát triển suốt đời của mỗi con
người.
Đối với bậc giáo dục phổ thông, yêu cầu về phương pháp giáo dục trong Điều
28 Luật Giáo dục (2005) đã chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của
từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo
nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm,
đem lại niềm vui, hứng thú học tập choHS”.
Đối với Giáo dục thường xuyên, yêu cầu về phương pháp giáo dục trong
Điều 45 Luật Giáo dục (2005) cũng chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục thường xuyên
phải phát huy vai trò chủ động, khai thác kinh nghiệm của người học, coi trọng
việc bồi dưỡng năng lực tự học để nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học."
Như vậy, tự học đóng một vai trò rất quan trọng đối với HS để hoàn thành
nhiệm vụ học tập của mình. Tự học là sự thể hiện đầy đủ nhất vai trò chủ thể trong
quá trình nhận thức của HS. Có những yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng
đến kết quả tự học của HS, một trong những yếu tố đó là tổ chức quản lý. Vì vậy,
nghiên cứu các biện pháp quản lý HĐTH của HS để không ngừng nâng cao chất
lượng dạy và học là một việc làm cần thiết.
Trung tâm GDTX Thanh Ba do đặc thù, xứ mệnh riêng của trung tâm nên
chất lượng học sinh hệ bổ túc tuyển đầu vào là rất kém, phần nhiều các em không
xác định được động cơ học tập, ý thức tự giác kém. Bên cạnh những khó khăn về
chất lượng đầu vào của học sinh, về vấn đề đội ngũ còn thiếu chưa đồng đều, cơ sở
3
vật chất còn hạn chế thì còn yếu tố nữa là công tác quản lý HĐTH của HS đã ảnh
hưởng đến chất lượng đào tạo của nhà trường.
Từ những lý do trên, tác giả chọn nghiên cứu đề tài: "Biện pháp quản lý
hoạt động tự học của học sinh phổ thông tại Trung tâm giáo dục thường xuyên
Thanh Ba" làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
a. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp những tư
liệu và các văn bản có liên quan.
b. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát bằng phiếu, phỏng
vấn, trò chuyện, quan sát; xin ý kiến chuyên gia.
c. Phương pháp hỗ trợ: Sử dụng phương pháp thống kê để phân tích, xử lý
các thông tin, số liệu thu được từ phương pháp cụ thể.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu , kết luận và khuyến nghị , danh mục tài liệu tham khảo ,
phụ lục, nội dung luâ
̣
n văn được trình bày trong 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
Chƣơng 2: Thực trạng HĐTH và quản lý HĐTH của HS phổ thông tại
Trung tâm GDTX Thanh Ba
Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý HĐTH của HS phổ thông tại Trung tâm
GDTX Thanh Ba
5
6
Nhà sư phạm lỗi lạc Tiệp Khắc JA Comenxky (1592-1670), ông tổ của nền
giáo dục cận đại đã khẳng định: "Không có khát vọng học tập thì không thể trở
thành tài năng"; và "Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán
đúng đắn, phát triển nhân cách hãy tìm ra phương pháp cho giáo viên dạy ít hơn,
học sinh học nhiều hơn”. Như vậy, Comenxky đã đánh giá rất cao vai trò của tự
học, sự tích cực chủ động của người học sẽ là yếu tố quyết định đối với hoạt động
học tập của người học.[11]
Tsunesaburo Makiguchi (1871- 1944), nhà giáo dục học nổi tiếng người
Nhật Bản cho rằng: "Mục đích của giáo dục không phải là truyền đạt tri thức.
Nhiệm vụ của nó là hướng dẫn quá trình học tập và đặt trách nhiệm học tập vào
trong tay mỗi học sinh". [44, tr. 236]
Như vậy, giáo dục được xem như một quá trình hướng dẫn học sinh tự học,
là hòn đá tảng của phương pháp sư phạm của Makiguchi thời bấy giờ.
Tác giả Jamshid Gharajedaghi, trong cuốn "Tư duy hệ thống", trong phần
"Hệ thống học tập" đã mô hình hoá cơ cấu hệ thống này, trong đó có 3 điểm quan
trọng là: Học cách học; Học cách làm; Học làm người. Theo ông: Phải biến người
học thành người tự dạy mình học, làm cho người học gia tăng mạnh mẽ nguyện
vọng và năng lực tiến vào một quá trình không bao giờ chấm dứt của việc học. Bỏ
những điều lỗi thời của cái học cũ, học thêm cái mới. [42]
Vào thế kỷ XVIII-IXX, các nhà giáo dục nổi tiếng thế giới như: J.J Rutxo
(1712-1778), K.D. Usinxky (1824-1890) trong các tác phẩm nghiên cứu của mình
đã khẳng định: Tự mình giành lấy tri thức bằng con đường tự khám phá, tự tìm tòi,
tự suy nghĩ là con đường quan trọng để chiếm lĩnh tri thức. [40]
Triết lý giáo dục thế kỷ XXI (theo J.Delors, UNESCO, 1996) đó là:
* Học suốt đời (Lifelong learning). Năng lực tự học suốt đời nhờ vào cách
học.
* Bốn trụ cột của giáo dục:
- Học để biết (cốt lõi là hiểu)
- Học để làm (trên cơ sở hiểu)
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh và quán triệt đường lối của Đảng về phát
triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt là vấn đề đổi mới cách dạy, cách học
trong các nhà trường, nhiều nhà nghiên cứu giáo dục đã làm rõ vai trò của tự học để
8
biến quá trình đào tạo của nhà trường thành quá trình tự đào tạo của bản thân. Các
tác giả như: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Đặng Bá Lãm, Nguyễn Cảnh Toàn cùng
một số nhà giáo dục khác đã có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động tự học
của người học. Tiêu biểu là cuốn: " Học và dạy cách học" do tác giả Nguyễn Cảnh
Toàn làm chủ biên, nhìn chung các tác giả đều khẳng định tự học có vai trò quan
trọng, nó giúp người học phát huy tính độc lập, chủ động sáng tạo để lĩnh hội và
làm chủ tri thức.
Tác giả Nguyễn Văn Đạo [14, tr.10] nhấn mạnh rằng, tự học là công việc suốt
đời của mỗi người. Theo tác giả, do cuộc sống và thực tiễn vô cùng phong phú, luôn
luôn biến động và phát triển, những kiến thức mà con người thu nhận được ở nhà
trường chỉ là những kiến thức cơ bản và tối thiểu, do đó, mỗi người sau khi ra
trường phải tự bổ túc thêm kiến thức rất nhiều. Các tác giả Đặng Thành Hưng [19],
Phạm Minh Hạc - Lê Đức Phúc [17] đã đi sâu phân tích những đặc trưng cơ bản của
hoạt động tự học. Tác giả cho rằng tự học là quá trình tự giác, chủ động, gắn với
nhu cầu, giá trị và khả năng cá nhân. Tác giả Lưu Xuân Mới [31] cho rằng việc rèn
luyện cho người học các khả năng tự học là rất quan trọng, cần tập dượt cho người
học xây dựng kế hoạch tự học một cách tỉ mỉ và thiết thực, hướng dẫn, tổ chức thực
hiện, kiểm tra - đánh giá và hướng dẫn học sinh biết cách tự kiểm tra, tự đánh giá
hoạt động tự học của mình.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã nghiên cứu vấn
đề tự học của HS ở những bình diện khác nhau, có thể khái quát một số điểm chung
như sau:
-Tự học có vai trò rất quan trọng: Tự học không chỉ quyết định kết quả học
tập mà còn là cơ sở để người học có thể học suốt đời.
-Các tác giả đều khẳng định bản chất của tự học là người học tự giác, tích cực
thành những năng lực thực tiễn do kinh nghiệm mang lại.
Nhưng ngoài việc lĩnh hội những tri thức mang tính kinh nghiệm ra con
người cần phải nắm bắt được những tri thức khoa học, những năng lực thực tiễn
mới mà cách học ngẫu nhiên không tạo ra được. Để có được những năng lực đó
người ta tiến hành một hoạt động hướng vào để thực hiện mục tiêu đó là hoạt động
học (học có chủ đích).
1.2.1.2. Khái niệm tự học:
Có nhiều tác giả đưa ra các quan điểm, cách tiếp cận khác nhau về tự học
như:
10
Nhà tâm lý học N.A. Rubakin cho rằng: "Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức
kinh nghiệm lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các quan
hệ cải tiến quan hệ ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại,
biến tri thức của loài người thành tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của bản
thân chủ thể. [43]
Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: "Tự học là tự mình động não, suy nghĩ
sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi cả
cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ của
mình, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu
biết nào đó thành sở hữu của mình [35, tr.59] và "Học, cốt lõi là tự học, là quá trình
phát triển nội tại, trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú
giá trị của mình bằng cách thu nhận, xử lý và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri
thức bên trong con người mình". [35, tr. 64]
Tác giả Nguyễn Kỳ cho rằng: Tự học là một quá trình tự đổi mới, tự phát
triển, tìm kiếm và xử lý thông tin từ môi trường bên ngoài thành tri thức bên trong
con người mình. Tự học - cốt lõi của việc học - là nội lực trọng yếu phát triển con
người, là cội nguồn của phát triển, cội nguồn của đổi mới, cội nguồn của sáng tạo.
Theo tác giả Lê Khánh Bằng: "Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng
lực trí tuệ và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định”.
thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp
tốt nhất và rẻ nhất"
Harold Koontz cho rằng: "Quản lý là một hoạt động thiết yếu; nó đảm bảo
phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu
của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có
thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân
ít nhất. Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật; còn kiến thức có tổ
chức về quản lý là một khoa học". [41, tr. 29]
Theo Từ điển từ và ngữ của Giáo sư Nguyễn Lân thì: “Quản: trông coi, lý:
sắp đặt” quản lý: chăm nom và sắp đặt mọi công việc trong một tổ chức [24,
tr.1483].
12
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc và TS. Nguyễn Quốc Chí thì: "Quản lý là
quá trình đạt được đến mục đích của tổ chức bằng các hoạt động (chức năng) kế
hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra" [8; tr.1]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo và tập thể tác giả: “Quản lý là một quá trình tác
động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục
tiêu chung” [5, tr.176]
Ngoài ra, còn các khái niệm khác nhau về quản lý:
"Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối
tượng quản lý trong tổ chức, làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục đích của
tổ chức"
"Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội
và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra"
( Nguyễn Minh Đạo -1997)
"Quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng
quản lý bằng một hệ thống các giải pháp nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng
quản lý, đưa hệ thống tiếp cận mục tiêu cuối cùng, phục vụ lợi ích con người"
(Nguyễn Bá Sơn - 2000)
- Đánh giá thực trạng phát triển của tổ chức;
- Xác định những mục tiêu, biện pháp và phương tiện cần thiết để thực hiện
mục tiêu đề ra.
* Chức năng tổ chức thực hiện kế hoạch
Tổ chức thực hiện kế hoạch là quá trình sắp xếp và phân phối các nguồn lực
để thực hiện mục tiêu đã đề ra, là sự sắp đặt một cách khoa học những con người,
những công việc hợp lý, là sự phối hợp để lập mối quan hệ giữa các bộ phận trong
tổ chức. Công tác tổ chức bao gồm:
- Xác định cấu trúc cho bộ máy;
- Tiếp nhận và phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy;
- Xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận, các thành viên trong tổ chức.
* Chức năng chỉ đạo
Chỉ đạo là quá trình tác động đến con người bằng mệnh lệnh, làm cho người
dưới quyền phục tùng và làm việc đúng với kế hoạch, đúng với nhiệm vụ được phân
công. Tạo động lực để con người tích cực hoạt động bằng các biện pháp động viên,
khen thưởng, kể cả trách phạt. Nội dung của chức năng chỉ đạo bao gồm:
- Chỉ huy, ra lệnh;
- Động viên khen thưởng;
- Theo dõi, giám sát;
14
- Uốn nắn, sửa chữa, chỉnh lý.
* Chức năng kiểm tra đánh giá
Kiểm tra là một chức năng có liên quan đến mọi cấp quản lý để đánh giá
đúng kết quả hoạt động của hệ thống, đo lường các sai lệch nảy sinh trong quá trình
hoạt động với các mục tiêu, kế hoạch đã định. Qua việc kiểm tra, có thể thấy được
những tồn tại, tìm ra nguyên nhân những sai sót, lệch lạc, những vấn đề mới nảy
sinh, điều chỉnh kịp thời để bộ máy đạt được mục tiêu.
Kiểm tra theo lý thuyết hệ thống chính là thiết lập mối liên hệ ngược trong
quản lý. Có 3 yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra:
15
1.2.3. Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.2.3.1. Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là quản lý một lĩnh vực xã hội. Quản lý giáo dục với nhà
nước XHCN là tập hợp những tác động hợp quy luật được thể hiện bằng pháp luật
của chủ thể quản lý đến tất cả các phân hệ làm cho hệ thực hiện được mục tiêu giáo
dục mà kết quả cuối cùng là chất lượng và hiệu quả quá trình đào tạo thế hệ hệ trẻ.
Cũng như các khái niệm quản lý nói chung, khái niệm quản lý giáo dục cũng
được biểu đạt một cách rất đa dạng tuỳ theo những phương diện nghiên cứu và tiếp
cận của nhà nghiên cứu về quản lý giáo dục.
Khái niệm quản lý giáo dục được các nhà nghiên cứu đưa ra như sau:
"Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức, có mục
đích của các chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của toàn bộ hệ
thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở
nhận thức và vận dụng những qui luật chung của xã hội cũng như các qui luật của
quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lý trẻ em" [20, tr.16].
"Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp
các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát
triển của xã hội; "Quản lí nhà trường, quản lí giáo dục nói chung là thực hiện đường
lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường
vận hành tiến tới mục tiêu đào tạo theo nguyên lý giáo dục" [3].
"Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp
quy luật của chủ thể quản lí, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối giáo dục của
Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm
hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ.[32]
Từ các khái niệm quản lí giáo dục đã trình bày ở trên, có thể định nghĩa
khái niệm quản lí giáo dục như sau: Quản lí giáo dục là một hình thức của
quản lí xã hội, là những hệ thống tác động có hệ thống, có kế hoạch của chủ
thể quản lí vào quá trình giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu của giáo dục đề
ra.
Như vậy, quản lý nhà trường là một bộ phận hữu cơ trong quá trình giáo dục
tổng thể, trong đó quản lý quá trình dạy học là một trong những hoạt động chủ yếu
nhất trong toàn bộ hệ thống quản lý nhà trường. Quản lý quá trình dạy học là sự
17
thống nhất hữu cơ giữa quản lý hoạt động dạy học của GV và quản lý hoạt động học
tập của HS. Tất cả các hoạt động quản lý nói trên đều là những tác động có phương
hướng, có mục đích, được phối hợp một cách đồng bộ nhằm giải quyết những
nhiệm vụ quản lý của nhà trường trong đó sản phẩm cuối cùng của các hoạt động
quản lý đều được biểu hiện tập trung ở sự hình thành và phát triển nhân cách HS.
Hoạt động quản lý nhà trường chịu tác động từ những chủ thể quản lý bên trên nhà
trường (các cơ quan quản lý giáo dục cấp trên) nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện
cho hoạt động của nhà trường và bên ngoài nhà trường, xây dựng những định hướng
về sự phát triển của nhà trường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho nhà trường phát triển.
1.2.4. Quản lý quá trình dạy học
Quá trình dạy học theo tiếp cận hệ thống bao gồm tập hợp các thành tố cấu
trúc, có quan hệ biện chứng với nhau. Trong hệ thống mỗi thành tố đều có chức
năng riêng và tuân theo chức năng chung của hệ, mỗi thành tố trong hệ thống vận
động theo quy luật riêng và quy luật chung của hệ. Các thành tố cơ bản của quá
trình dạy học: Mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp, phương tiện, hoạt
động dạy của thầy, hoạt động học của trò. Các nhân tố trên đều có mối quan hệ qua
lại rất khăng khít với nhau, tác động lẫn nhau tạo nên chất lượng, hiệu quả của quá
trình dạy học. Quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng của hai thành tố cơ
bản trong quá trình dạy học: hoạt động dạy và hoạt động học. Đây là 2 nhân tố trung
tâm của quá trình dạy học. Do vậy, trọng tâm trong công tác quản lý nhà trường là
quản lý quá trình dạy học, mà chính là quản lý hoạt động dạy của thầy và quản lý
hoạt động học của trò.
Quản lý quá trình dạy học bao gồm: quản lý nội dung chương trình, quản lý
quá trình dạy trên lớp, quản lý quá trình giáo dục ngoài giờ lên lớp. Như vậy, quản
lý quá trình dạy học là một hệ thống tác động sư phạm có mục đích của chủ thể
thức, kỹ năng, kỹ xảo, làm hành trang vững bước cho nghề nghiệp và tương lai.
Trong quá trình tự học mỗi HS tự vận động, từng bước chuyển hoá vốn kinh
nghiệm, tri thức của loài người đã tích luỹ trong quá trình lịch sử thành vốn tri thức
riêng của bản thân. Trong quá trình đó, HS đã thể hiện trình độ cao vai trò chủ thể
nhận thức của mình, kết hợp và thống nhất một cách hài hoà vai trò chủ thể với vai
trò đối tượng điều khiển trong dạy học.
19
Tự học không chỉ giúp HS không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả
học tập khi còn ở các nhà trường mà trong tương lai sẽ trở thành một con người
trưởng thành có năng lực, có hứng thú, thói quen và có phương pháp tự học, tự
nghiên cứu thường xuyên, nhất là trong thời đại kinh tế tri thức, trong xã hội học tập
hiện nay. Tự học để mở mang trí tuệ, trau dồi nghề nghiệp mà nhất là tu thân, luyện
tính, bổ túc những chỗ khuyết lớn trong nền giáo dục nhà trường; nói như Nguyễn
Hiến Lê "Tự học bổ khuyết cho nền giáo dục của nhà trường" và theo ông "Người
nào đã kiên tâm tự học thì sớm muộn gì cũng vượt hẳn lên trên những người khác,
không giàu hơn thì cũng được kính trọng hơn" [25; tr.15]. Nó sẽ giúp chủ thể nhận
thức thường xuyên cập nhật kiến thức giải quyết được các yêu cầu bức xúc của cuộc
sống đặt ra, tránh được sự lạc hậu trước sự phát triển ngày càng gia tăng của xã hội
trong thời đại ngày nay.
Tự học - một hoạt động của người học (HS) giúp cho chính người học vươn
lên trong cuộc sống, tự khẳng định mình bằng các đức tính kiên trì, chịu khó, xây
dựng ý chí phấn đấu vì khoa học, vì cuộc sống, sớm xác định được định hướng,
niềm tin và lòng say mê nghiên cứu khoa học. Do vậy, hoạt động tự học cần phải có
kế hoạch khoa học, thời gian biểu hợp lý thì mới đem lại hiệu quả, chất lượng, đồng
thời nó góp phần thúc đẩy chất lượng tự học, tự nghiên cứu như mong muốn.
1.3.3. Các hình thức và kỹ năng tự học
Tự học của HS có ba hình thức bao gồm:
Tự học diễn ra dưới sự điều khiển trực tiếp của giáo viên, hay tự học diễn ra
có sự hướng dẫn "mặt đối mặt" của thầy với trò và các phương tiện kỹ thuật ở trên
quả học tập của nhà trường; điều kiện sống và sinh hoạt của HS; gia đình HS
Các yếu tố chủ quan đó là: động cơ học tập; hứng thú học tập; ý trí, ý thức tự
giác trong học tập; phương pháp kỹ năng học tập; trình độ ngoại ngữ
Các yếu tố khách quan (yếu tố ngoại lực) và yếu tố chủ quan (yếu tố nội lực)
có mối quan hệ chặt chẽ, tương hỗ cho nhau. "Nội lực là quyết định, ngoại lực là
quan trọng và cũng chỉ quan trọng trong chừng mực nó kích thích được nội lực"
[36; tr.14]. "Ngoại lực tác động đến nội lực như thế nào là thước đo chất lượng dạy
học. Tác động có thể là kìm hãm (nếu thầy áp đặt) là kích thích nội lực (nếu thầy
gợi mở, khuyến khích) mà đỉnh cao là tạo nên sự cộng hưởng của nội lực"
[34;tr.60]. Có thể thấy rằng một điều lý tưởng sẽ đem lại hiệu quả học tập cao là có
21
sự cộng hưởng của thầy và trò, thầy có phương pháp tốt, trò có cách học hay.
Nhưng dù sao thì kết quả học tập cuối cùng vẫn phụ thuộc ở nơi người học, vì
"ngay phương pháp tự học thế nào thì cũng chính học viên phải tự mày mò, điều
chỉnh, hoàn chỉnh dần dần dưới sự hướng dẫn của các thầy để có được cách học
phù hợp nhất với hoàn cảnh, điều kiện và tư chất của mình. Bao nhiêu người học thì
có bấy nhiêu cách tự học muôn hình muôn vẻ " [35; tr.41]. Nên nếu người học mà
không muốn học thì không thể đưa kiến thức và lưu giữ ở trong đầu họ được. Như
vậy một người thầy giỏi là phải kích thích được sự ham muốn, khát khao khám phá
tri thức để từ đó phát huy được nội lực của người học. Ngược lại nếu một người
thầy mà được xem là dạy "dễ hiểu, dễ ghi và dễ đọc" thì không phải là dạy giỏi, dạy
như vậy sẽ làm thui chột khả năng tự học của con người.
1.3.4. Vai trò của giáo viên đối với hoạt động tự học của học sinh
Tự học như một hình thức tổ chức dạy học
Hình thức tổ chức dạy học là hình thức tổ chức quá trình dạy học có tính
chuyên nghiệp trong các cơ sở giáo dục chuyên trách, trong đó diễn ra sự liên kết
một cách thống nhất giữa hoạt động dạy và hoạt động học và giữa sự tương tác đa
chiều giữa các chủ thể dạy và học. Mỗi hình thức tổ chức dạy học thực hiện một
đơn vị nội dung nhất định, được tổ chức theo một trình tự nhất định, với một chế độ
giáo dục quốc dân. Trung tâm giáo dục thường xuyên bao gồm trung tâm giáo dục
thường xuyên quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là trung tâm giáo
dục thường xuyên cấp huyện), trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương (gọi chung là trung tâm giáo dục thường xuyên cấp
tỉnh).Trung tâm giáo dục thường xuyên có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài
khoản riêng.
Trong Luật Giáo dục 2005 của nước ta tại Điều 44 có ghi: Giáo dục thường
xuyên giúp mọi người vừa học vừa làm, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện
nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để
cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời
sống xã hội.
23
Nhà nước có chính sách phát triển giáo dục thường xuyên, thực hiện giáo dục
cho mọi người, xây dựng xã hội học tập.
Nhiệm vụ của trung tâm GDTX qui định tại điều 3, điều 4 của quyết định này
như sau:
.Tổ chức thực hiện các chương trình giáo dục: Chương trình xóa mù chữ và
giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ; Chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của
người học, cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ; Chương trình đào
tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ bao gồm: chương trình bồi
dưỡng ngoại ngữ, tin học ứng dụng, công nghệ thông tin - truyền thông; chương
trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn; chương trình đào tạo, bồi
dưỡng nâng cao nghiệp vụ; chương trình dạy tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ,
công chức công tác tại vùng dân tộc, miền núi theo kế hoạch hằng năm của địa
phương; Chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở và trung học phổ
thông.
Điều tra nhu cầu học tập trên địa bàn, xác định nội dung học tập, đề xuất với
Sở giáo dục và đào tạo, chính quyền địa phương việc tổ chức các chương trình và
hình thức học phù hợp với từng loại đối tượng.