biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học viên bổ túc văn hóa độ tuổi phổ thông tại trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh lâm đồng - Pdf 23

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, Đảng, Nhà nước và
nhân dân ta luôn luôn tập trung mọi nguồn lực xã hội để thực hiện mục tiêu
xây dựng những con người Việt Nam thiết tha với lý tưởng độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH – HĐH) đất
nước, giữ gìn và phát huy các giá trị độc lập, có năng lực tiếp thu tinh hoa
văn hoá nhân loại, phát huy được tiềm năng của dân tộc, có ý thức cộng
đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân để làm chủ tri thức khoa học và
công nghiệp hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác
phong công nghiệp, có tổ chức kỷ luật, có sức khoẻ, kiên định với Chủ nghĩa
xã hội và tư tưởng Hồ Chí Minh. Quan điểm về phát triển con người Việt
Nam nói trên đã thể hiện rõ ở mục tiêu giáo dục là “Đào tạo con người Việt
Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề
nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình
thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng
yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Trong xã hội ta hiện nay, bên cạnh những truyền thống đạo đức tốt đẹp
của dân tộc và của nhân loại đang là nguồn sức mạnh tinh thần vô cùng to
lớn của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, cũng đang còn không ít những
vấn đề thuộc về lĩnh vực đạo đức mà cộng đồng, xã hội vẫn phải quan tâm.
Đó là vấn đề giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ của nước nhà có được lối sống
lành mạnh, trung thực, nhân ái, vị tha, thấm đượm tình người sâu sắc; loại bỏ
lối sống thực dụng, ích kỉ, chạy theo đồng tiền bất chính, sẵn sàng chà đạp
lên nhân phẩm của người khác. Đứng trước những biểu hiện suy thoái đạo
đức, sự phát triển lệch chuẩn nhân cách của một bộ phận người trong xã hội
ta, đòi hỏi “phải tăng cường công tác giáo dục tư tưởng chính trị, rèn luyện
1
đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cỏ nhõn”, lành mạnh hóa đời sống tinh
thần xã hội. Việc giải quyết các đòi hỏi đó là một trong các nhiệm vụ quan

động GDĐĐ cho học viên bổ túc văn hoá độ tuổi phổ thông nhằm góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
3. KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học viên tại Trung
tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Lâm Đồng.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học viên bổ túc văn
hoá độ tuổi phổ thông của Giám đốc Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh
Lâm Đồng.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Công tác quản lý hoạt động GDĐĐ cho học viên bổ túc văn hoá độ tuổi
phổ thông của TTGDTX tỉnh Lâm Đồng hiện nay đó cú đổi mới và thu lại
một số kết quả đáng khích lệ; tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế trong việc tìm
và thực hiện các biện pháp quản lý. Hoạt động GDĐĐ cho học viên bổ túc
văn hoá độ tuổi phổ thông ở TTGDTX tỉnh Lâm Đồng sẽ đạt được chất
lượng và hiệu quả cao hơn trong giai đoạn hiện nay; nếu Giám đốc Trung
tâm có những biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức phù hợp với
thực tế phát huy được tính tích cực rèn luyện của học viên, phát huy được sự
đóng góp của các lực lượng giáo dục trong toàn xã hội.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
cho học viên tại các Trung tâm Giáo dục thường xuyên.
5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng đạo đức học viên và thực trạng quản
lý hoạt động GDĐĐ cho học viên tại TTGDTX tỉnh Lâm Đồng
3
5.3. Đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học viên
bổ túc văn hoá độ tuổi phổ thông của Giám đốc Trung tâm Giáo dục thường
xuyên tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn hiện nay.
6. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

7.3. Nhúm cỏc phương pháp toán học
Bằng việc sử dụng phương pháp thống kê toán học, một số phần mềm
tin học; các phương pháp này nhằm xử lý các số liệu đã điều tra và ý kiến
chuyên gia trong luận văn.
8. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục. Nội dung
chính của luận văn được chia là 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục đạo đức cho học viên bổ
túc văn hoá độ tuổi phổ thông trong các Trung tâm GDTX
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học
viên bổ túc văn hoá độ tuổi phổ thông tại TTGDTX tỉnh Lâm Đồng
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học viên
của Giám đốc Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Lâm đồng
Kết luận và khuyến nghị
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC VIÊN BỔ TÚC VĂN HOÁ ĐỘ TUỔI PHỔ THÔNG
TRONG CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN

1.1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Vấn đề đạo đức, giáo dục đạo đức và quản lý GDĐĐ cho học sinh, sinh
viên ở Việt Nam đã được nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục quan tâm nghiên
cứu, chúng ta cũng biết rằng đạo đức xuất hiện từ buổi bình minh của lịch sử
loài người, nó là một hình thái ý thức xã hội. Nó được phát triển song hành
cùng với xã hội đồng thời nó giỳp xã hội loài người tiến cao hơn. Chính vì
vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu về GDĐĐ của nhiều tác giả trong và
ngoài nước từ nhiều góc độ khác nhau.

giữa lối sống, đạo đức với phát triển văn hóa và con người; sự tác động của
những nhân tố chính trị, kinh tế, xã hội tới lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã
hội truyền thống và cách mạng; những kinh nghiệm và bài học về xây dựng
lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội và một số nước; thực trạng phương
hướng, quan điểm và giải pháp xây dựng lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã
hội trong thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước;
+ Tác giả Nguyễn Huy Bằng lại quan tâm đến mối quan hệ giữa
pháp luật và đạo đức, giữa giáo dục pháp luật với GDĐĐ, mục tiêu giáo dục,
điều kiện thuận lợi khó khăn, yêu cầu xã hội đối với GDĐĐ, ý nghĩa của
việc kết hợp GDĐĐ và giáo dục pháp luật cho sinh viên trong việc làm tăng
hiệu quả giáo dục, nâng cao ý thức đạo đức và ý thức pháp luật.
+ Tác giả Phạm Trung Thanh đã quan tâm đến thực trạng đạo đức
học sinh THCS, cụ thể là trung học cơ sở ở Hải Hưng. Từ đó tác giả đưa ra 10
kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho học sinh đồng thời
7
đưa ra những yêu cầu của các nhà quản lý GD phải nâng cao tinh thần trách
nhiệm, tổ chức đa dạng hoạt động thu hút học sinh vào việc rèn luyện đạo
đức.
+ Tác giả Phạm Phương Bằng trên cơ sở tiếp cận việc GDĐĐ cho
học sinh THPT, từ góc độ nhà quản lý đã đưa ra 6 giải pháp để nâng cao chất
lượng GDĐĐ cho học sinh. Tuy nhiên tác giả chưa nêu được điểm nhấn,
điểm thúc đẩy quá trình quản lý GDĐĐ cho học sinh.
+ Tác giả Trần Thị Hải Yến lại đi sâu nghiên cứu mối quan hệ
giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Từ đó đưa ra 6 giải pháp phối hợp các
lực lượng xã hội nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho học sinh THPT.
- Về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông đã có
một số tác giả đã nghiên cứu về GDĐĐ và quản lý GDĐĐ cho học sinh phổ
thông như Lê Trung Trấn, Nguyễn Dục Quang, Trần Đình Chiến, Nguyễn
Tấn Giao,… đã khẳng định vai trò của GVCN trong quá trình GDĐĐ cho
học sinh (HS) và đưa ra các định hướng cho GVCN trong việc đổi mới nội

tuổi phổ thông tại các Trung tâm giáo dục thường xuyên nói chung và nghiên
cứu về quản lý giáo dục đạo đức cho học viên bổ túc văn hóa độ tuổi phổ
thông tại TTGDTX tỉnh Lâm Đồng nói riêng đến nay vẫn chưa có các công
trình nghiên cứu. Chớnh vì vậy, hiện nay các CBQL ở TTGDTX tỉnh Lõm
Đồng cũn thiếu những định hướng về lý luận và các số liệu minh chứng cho
thực trạng đạo đức học viên và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo
đức cho học viên của nói chung và cho học viên bổ túc văn hoá độ tuổi phổ
thông của Trung tõm nói riêng ; để trên cơ sở đó có được các biện pháp quản
lý khả thi trong hoạt động giáo dục đạo đức nhằm góp phần nõng cao chất
lượng giáo dục và đào tạo của Trung tõm.
9
Những vấn thiếu hụt nêu trên, cũng là những nhiệm vụ mà chúng tôi đặt
ra trong nghiên cứu đề tài luận văn này.
1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
1.2.1. Quản lý
Quản lý là thuộc tính bất biến, nội tại của mọi quá trình lao động xã hội.
Bất cứ lao động chung nào trên một qui mô nhất định cũng đều có sự chỉ đạo
làm cho các hoạt động đó phối hợp nhịp nhàng với nhau để đạt tới mục đích
của hoạt động đó. K.Marx đã viết: “Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng
trực tiếp nào, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần ở một chừng
mực nhất định đến sự quản lý; quản lý xác lập sự tương hợp giữa các công
việc có thể và hoàn thành những chức năng chung xuất hiện trong sự vận
động của các bộ phận riêng rẽ của nú” [33].
Các nhà khoa học đã trình bày những định nghĩa về quản lý trên những
phương diện tiếp cận khác nhau. Ví dụ:
- “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý
(người quản lý) đến khách thể quản lý (người được quản lý) trong một tổ chức
nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [11];
- “Quản lý một tổ chức là nhằm đạt đến sự ổn định và phát triển bền
vững các quá trình xã hội, quá trình tồn tại của tổ chức đú” [3]; Thuật ngữ

hợp những quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ nó con người ta có thể tự điều
chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con
người và tiến bộ xã hội. Trong quan hệ con người với con người, giữa cá
nhân và xã hội" [1].
Dưới góc độ cỏ nhõn, đạo đức chính là những phẩm chất, nhân cách của
con người, phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng
11
xử của họ trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội, giữa
bản thân họ với người khác và với chính bản thân mình [39].
Quá trình hình thành và phát triển đạo đức của mỗi con người là quá
trình tác động qua lại giữa xã hội với cá nhân để chuyển hoá những nguyên
tắc, yêu cầu, chuẩn mực giá trị đạo đức - xã hội thành những phẩm chất đạo
đức cá nhân, làm cho cá nhân đó trưởng thành về mặt đạo đức, công dân đáp
ứng được yêu cầu xã hội. Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau song có
thể khái quát chung về đạo đức như sau:
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc,
quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm thực hiện chức năng điều chỉnh hành vi của
con người trong mọi lĩnh vực xã hội. Chúng được thực hiện bởi niềm tin cá
nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội.
Trong thực tế, nhiều trường hợp pháp luật không trừng phạt nhưng lại
bị đạo đức lên án. Thang bậc đánh giá của pháp luật theo khuôn từ thấp đến
cao còn thang bậc đánh giá đạo đức rộng hơn rất nhiều. Có thể nói: Pháp
luật là đạo đức tối thiểu, đạo đức là pháp luật tối đa [3].
Truyền thống của dân tộc Việt Nam luôn coi trọng đạo đức. Phẩm giá
đạo đức của mỗi con người được đặt lên hàng đầu: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
” hay "Hình thức con người không bằng cái tốt về nội tâm, tính cách con
người". Ông cha ta thường khuyên: “Đói cho sạch, rách cho thơm” hay
“Giấy rách giữ lấy lề ”.
Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta luôn đề cao vấn đề tư tưởng, đạo đức,
giá trị đạo đức trong xã hội ta hiện nay là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa

sống vì mọi người, vì gia đình, vì sự tiến bộ và sự phồn vinh của đất nước.
Trong đó mục tiêu quan trọng nhất của GDĐĐ là hình thành được những
thói quen hành vi đạo đức.
13
Như vậy GDĐĐ là một nhiệm vụ bao trùm và xuyên suốt toàn bộ hoạt
động của gia đình, nhà trường và xã hội để hình thành và phát triển nhân
cách. GDĐĐ trở thành mối quan tâm của toàn xã hội, là vấn đề của mọi vấn
đề trong chiến lược giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) vì sự phát triển con người
và phát triển xã hội.
1.2.2.3. Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
Từ khái niệm quản lý và khái niệm GDĐĐ đã nêu trên đây, chúng tôi
cho rằng quản lý GDĐĐ là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới
khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động GDĐĐ đạt tới mục tiêu mong muốn
một cách hiệu quả nhất.
Về bản chất, quản lý GDĐĐ là quá trình tác động có định hướng của
chủ thể quản lý lờn cỏc thành tố tham gia vào các quá trình GDĐĐ nhằm
thực hiện có hiệu quả mục tiêu GDĐĐ bằng việc xây dựng kế hoạch, tổ chức
thực hiện kế hoạch, chỉ đạo thực hiện kế hoạch và kiểm tra việc thực hiện kế
hoạch đó để những yêu cầu, mục tiêu, nội dung GDĐĐ theo các chuẩn mực
đạo đức mà xã hội đặt ra với thế hệ trẻ phù hợp với lứa tuổi học, cấp học
trong hệ thống giáo dục quốc dân trở thành hiện thực.
1.3. ĐẶC TRƯNG VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC VIÊN BỔ TÚC VĂN
HÓA ĐỘ TUỔI PHỔ THÔNG CỦA TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
1.3.1. Vai trò, vị trí của hoạt động GDĐĐ cho học viên bổ túc văn
hoá độ tuổi phổ thông trong các TTGDTX
Khi còn đương thời, Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã từng nói chỉ giáo:
Dạy cũng như học, phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách
mạng. Đó là cái gốc rất quan trọng. Nếu không có đạo đức cách mạng thì tài
cũng vô dụng. Lời dạy của Người nhằm xác định con người mới XHCN, đó
là con người có tri thức (có tài), nhưng phải có đạo đức trong sáng, biết đặt

mang tính đặc thù dân tộc và thời đại. Chính vì vậy mà GDĐĐ cũn cú nhiệm
vụ rất quan trọng là phát triển các giá trị đạo đức cá nhân theo những định
hướng giá trị mang tính đặc thù dân tộc và thời đại.
1.3.2. Nội dung giáo dục đạo đức cho học viên bổ túc văn hoá độ
tuổi phổ thông trong các TTGDTX
Những chuẩn mực đạo đức mà con người lĩnh hội được nói lên trình độ
trưởng thành đạo đức và nhân cách của mỗi cá nhân trong đời sống thực tiễn,
đó là kết quả tổng hợp của sự vận dụng những nội dung của quá trình GDĐĐ
ở các nhà trường nói chung và ở các TTGDTX nói riêng. Các nội dung cụ
thể về giáo dục đạo đức cụ gồm:
+ Giáo dục ý thức chính trị: là ý thức về quyền lợi giai cấp, sự tồn vong
và giầu mạnh của đất nước về vai trò của đất nước trong quan hệ với các
quốc gia trên thế giới. Nó bao hàm ý thức về chủ quyền dân tốc, về tồn tại và
toàn vẹn lãnh thổ, về sự giầu mạnh của đất nước, về đường lối lãnh đạo và
chiến lược phát triển đất nước của Đảng và Chính phủ, sư tuân thủ chính
sách đối nội và đối ngoại của quốc gia, về thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ
trong cuộc sống, học tập, lao động, nghĩa vụ quân sự,
+ Giáo dục ý thức pháp luật: thể hiện ở việc tham gia xây dựng các bộ
luật, thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của luật pháp, đấu tranh để pháp
luật được thực hiện công minh, quyền được bảo hộ của luật pháp.
+ Giáo dục ý thức đạo đức: thể hiện ở sự nhận thức và thực hiện các
quy tắc, chuẩn mực trong quan hệ xã hội, được hình thành và phát triển
trong cuộc sống, được cả xã hội thừa nhận về thiện, ác, lẽ phải, công bằng,
16
văn minh, lương tâm, trách nhiệm, mục đích cuộc sống, nếp sống, lối sống,
trong gia đình, trong tập thể, trong cộng đồng và xã hội,
+ Phát triển ý thức đạo đức: trang bị cho học viên những hiểu biết,
niềm tin về các chuẩn mực, các quy tắc đạo đức như giáo dục ý thức sống;
giáo dục lối sống cá nhân; giáo dục ý thức về các mối quan hệ trong gia đình,
trong tập thể và ngoài xã hội; giáo dục ý thức về cuộc sống lao động sáng

1) Nhóm các phương pháp tổ chức các hoạt động xã hội và
hình thành các kinh nghiệm ứng xử xã hội
Đây là phương pháp đưa con người vào các hoạt động thực tiễn để tập
dượt, rèn luyện tạo nên hành vi thói quen đạo đức. Nó bao gồm:
- Phương pháp đòi hỏi sư phạm: là phương pháp nêu lên các đòi hỏi về
mặt sư phạm, đề ra các yêu cầu về đạo đức đối với học viên.
- Phương pháp giao công việc: là cách thức lôi cuốn học viên vào các
hoạt động đa dạng của tập thể, nhờ đó họ thu lượm được những kinh nghiệm
trong quan hệ đối xử giữa người với người theo nguyên tắc đạo đức XHCN
thông qua việc thực hiện những nghĩa vụ xã hội .
- Phương pháp tạo dư luận xã hội: là phương pháp dùng sự phản ánh
những đòi hỏi tập thể, nó trở thành một phương tiện giáo dục mạnh mẽ của
tập thể đối với cá nhân học viên. Dư luận xã hội trở thành một phương pháp
giáo dục khi đánh giá các hành vi của các thành viên hoặc nhóm tập thể. Để
tạo ra dư luận xã hội lành mạnh, chúng ta cần lôi cuốn học viên tham gia các
cuộc thảo luận tập thể, các sự kiện tiêu biểu trong đời sống của môi trường
giáo dục, hướng dẫn các em nhận xét các sự kiện đú đỳng hay sai.
- Phương pháp tạo tình huống giáo dục: là những tình huống của lựa
chọn tự do. Đặt trong tình huống đó học viên nhất thiết phải lựa chọn một
giải pháp nhất định trong số các phương án khác nhau. Trong khi lựa chọn
18
giải pháp học viờn phải biết phân tích xem xét hành động của mỡnh cú phù
hợp với chuẩn mực đạo đức không?
2) Nhóm phương pháp hình thành ý thức cá nhân
- Phương pháp đàm thoại: trao đổi ý kiến với nhau về một đề tài giáo dục
cho học viên, nhằm giúp đỡ họ phân tích đánh giá các sự kiện, hành vi các hiện
tượng trong đời sống xã hội. Từ đó hình thành thái độ đạo đức cho học viên.
- Phương pháp tranh luận: là hình thức cho học viên phán đoán đánh giá
niềm tin dựa trên sự va chạm các ý kiến quan điểm khác nhau nhờ đó nâng cao
được tính khái quát, tính vững vàng, tính mềm dẻo của các tri thức thu được.

vi đạo đức trong cuộc sống giữa người với người.
Cỏc môn khoa học tự nhiên có lợi thế trực tiếp giáo dục các em tư duy
khoa học, chính xác, lụgớc, trong việc khám phá thế giới. Nó có tác dụng
giỳp cỏc em hình thành các phẩm chất: tư duy hợp lý, coi trọng nhân quả,
cần cù chịu khó, khát vọng sáng tạo; biết tôn trọng chân lý, qui luật khách
quan, khiêm tốn, trung thực. Cỏc mụn khoa học xã hội nhân văn có ưu thế
nổi trội trong việc GDĐĐ cho học viên. Thông qua các môn học này, bồi
dưỡng tình cảm, tâm hồn, hình thành thái độ cư xử và các hành vi đạo đức.
Tóm lại, thông qua hoạt động học tập, học viờn cú những tiếp thu giá trị
mà còn góp phần sáng tạo ra các giá trị mới. Từ việc tiếp thu tri thức các
môn học học viên có những quan niệm đúng về tự nhiên, xã hội và bản thân,
hình thành một nhân sinh quan, một thế giới quan khoa học. Đó là cốt lõi của
nhân cách mà nhờ đó học viên biết cách ứng xử, cách quan hệ với mọi
người. Từ đó học viên có hành vi đạo đức đúng đắn.
2) GDĐĐ thông qua lao động
Thông qua con đường này, giáo dục cho học viên có nhận thức đúng
đắn về mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa lao động trí óc và lao
20
động chân tay; qua đó giáo dục lòng yêu lao động, sự trân trọng với các
thành quả lao động của cá nhõn, của cộng đồng và xã hội.
Đây là một loại hoạt động có ảnh hưởng rất lớn trong việc hình thành
nhân cách của các em. Hoạt động lao động của các em là lao động công ích ở
nhà trường, lao động sản xuất giúp đỡ gia đình. Khi tham gia lao động sẽ bồi
dưỡng được tình cảm tôn trọng lao động và người lao động, làm nảy nở
những tình cảm mới : Niềm vui và kết quả lao động, tự hào những cỏi mỡnh
đó làm được, hài lòng với những thắng lợi sau những nỗ lực kiên trì. Các
công việc lao động ở nhà trường mà các em có khả năng tham gia như xây
dựng các công trình của chi đoàn, phong trào ngày thứ bảy xanh, làm sạch
đẹp trường lớp… tình nguyện lao động giúp đỡ những gia đình có hoàn cảnh
khó khăn. Qua đó các em sẽ thu được những kinh nghiệm đoàn kết giúp đỡ

trong các TTGDTX
Trên cơ sở mục tiêu GDĐĐ (trong đó có các tiêu chí đánh giá đã định
ra từ bước xác định mục tiêu), lựa chọn cách thức so sánh kết quả GDĐĐ và
kết quả quản lý GDĐĐ với các mục tiêu đã đề ra (cụ thể là tỡm cách so sánh
các kết quả giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục đạo đức theo các tiêu chí
đánh giá), sau đó tiến hành thu thập các số liệu bằng các cách thức nêu trên.
Với các kết quả thu được nhờ việc đánh giá, tiến hành nhận định được
mặt tốt, chưa tốt và nguyên nhõn của nó.
Từ các nhận định trên, ban hành các quyết định quản lý nhằm phát huy
các mặt tốt, điều chỉnh các bất cập và xử lý các sai phạm (nếu có) trong việc
tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch. Kiểm tra đánh giá là chức năng liên
quan đến mọi cấp quản lý để đánh giá kết quả hoạt động của hệ thống. Nó
thực hiện việc xem xét tình hình thực hiện công việc đối chiếu với yêu cầu
để có sự đánh giá đúng đắn.
22
Việc đánh giá đạo đức học viên BTVH trong Trung tâm GDTX phải
được tiến hành thường xuyên và thực hiện dưới nhiều hình thức như việc qua
sổ theo dõi tuần, qua các hoạt động của lớp, hoạt động ngoài giờ lên lớp của
toàn Trung tâm với các tiêu chí thật cụ thể như nội quy, quy định việc thực
các nhiệm vụ cũng như nề nếp của học viên. Từ những cơ sở trên đây GVCN
có thông tin và những nguồn thông tin khác từ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh,
giáo viên bộ môn, Ban cán sự lớp, để có cơ sở đánh giá xếp loại học viên.
1.4. QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC VIÊN BỔ TÚC VĂN
HOÁ ĐỘ TUỔI PHỔ THÔNG TẠI CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
1.4.1. Mục tiêu quản lý giáo dục đạo đức cho học viên bổ túc văn
hoá độ tuổi phổ thông tại các TTGDTX
Mục tiêu quản lý GDĐĐ trong xã hội nói chung, trong cơ sở giáo dục
nói riêng là làm cho các khách thể quản lý (CBQL, giáo viên, học viên và
các lực lượng tham gia giáo dục khác của Trung tõm) hướng tới sự phát triển
toàn diện nhân cách cho người học, làm cho quá trình GDĐĐ vận hành đồng

vào việc thực hiện từng nội dung giáo dục đạo đức.
- Quản lý việc thực hiện các phương pháp giáo dục đạo đức. Đó là
những tác động của chủ thể quản lý thông qua các chức năng cơ bản của
quản lý đến các khách thể quản lý (CBQL, giáo viên, học viên và các lực
lượng tham gia giáo dục khác của Trung tâm) tập trung mọi hoạt động giáo
dục của mình vào việc lựa chọn và đổi mới phương pháp giáo dục đạo đức.
- Quản lý việc thực hiện các hình thức tổ chức giáo dục đạo đức. Đó là
những tác động của chủ thể quản lý thông qua các chức năng cơ bản của
quản lý đến các khách thể quản lý (CBQL, giáo viên, học viên và các lực
lượng tham gia giáo dục khác của Trung tâm) tập trung mọi hoạt động giáo
dục của mình vào việc lựa chọn và đổi mới các hình thức giáo dục đạo đức.
- Quản lý việc phối hợp các lực lượng tham gia giáo dục đạo đức. Đó là
những tác động của chủ thể quản lý thông qua các chức năng cơ bản của
24
quản lý đến các đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội trong và ngoài Trung tâm
tập trung và chia xẻ với Trung tâm trong việc xây dựng mục tiêu, xác định
nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục đạo đức cho học viên.
- Quản lý việc đỏnh giá kết quả giáo dục đạo đức. Đó là những tác động
của chủ thể quản lý thông qua các chức năng cơ bản của quản lý đến các
khách thể quản lý (CBQL, giáo viên, học viên và các lực lượng tham gia
giáo dục khác của Trung tâm) tập trung vào việc đỏnh giá chính xác kết quả
giáo dục đào tạo theo các chuẩn mực đạo đức đã được thống nhất.
1.4.2.2. Các phương pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học
viên BTVH độ tuổi phổ thông tại các TTGDTX
Phương pháp quản lý hoạt động GDĐĐ là cách thức mà chủ thể quản lý
tác động vào học viên nhằm đạt được những mục tiêu quản lý đã đề ra.
Trong các TTGDTX thường sử dụng một số phương pháp quản lý dưới đây:
+ Phương pháp tổ chức hành chính: là phương pháp tác động trực tiếp
của chủ thể quản lý lờn cỏc đối tượng quản lý bằng các mệnh lệnh hành
chánh dứt khoát bắt buộc như nghị định, nghị quyết, quy định, nội quy,…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status