Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên Trường Đại học Thủ đô Hà Nội - Pdf 34

LỜI CẢM ƠN
Em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến PGS.TS Trần Ngọc Giao
– người đã tận tụy hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ, động viên, chia sẻ với em
những khó khăn vừa qua.
Em xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô khoa Quản lý giáo dục,
Trường Đại học Sư phạm đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong toàn bộ
khóa học và quá trình nghiên cứu.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trường Đại học Thủ đô Hà
Nội đã giúp đỡ em hoàn thành luận văn này.
Đặc biệt, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, những người bạn luôn
động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện về vật chất và tinh thần để tôi hoàn thành tốt
nhất luận văn.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do còn hạn chế về điều kiện nghiên
cứu cũng như kiến thức về khoa học giáo dục, sự hạn hẹp về thời gian nên
luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự
đóng góp ý kiến của quý thầy cô.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Mười Ngọc

1


NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Viết tắt
CBQL
ĐG
ĐGKQHT
ĐH


2


MỤC LỤC

3


4


DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
1. Danh mục hình

5


PHẦN MỞ ĐẦU
1.

Lí do chọn đề tài
Trong tiến trình thực hiện công cuộc cải cách giáo dục nước nhà, hội
nhập giáo dục khu vực và thế giới, việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào
tạo là chủ đề được bàn luận rộng rãi trên các diễn đàn khoa học, trong các hội
thảo chuyên môn; là vấn đề sống còn của toàn ngành giáo dục. Giải pháp
trọng tâm nhằm tạo sự chuyển biến rõ nét và cơ bản về chất lượng và hiệu quả
giáo dục được đề cập trong Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 “ tập
trung vào quản lý chất lượng giáo dục”, “xây dựng hệ thống kiểm định độc
lập về chất lượng giáo dục”.

Hoạt động đánh giá kết quả học tập và quản lý hoạt động đánh giá kết
quả học tập được hầu hết các nhà khoa học, các nhà giáo dục và các nhà quản
lý giáo dục quan tâm; là một lĩnh vực vô cùng quan trọng liên quan chặt chẽ
đến hoạt động quản lý giáo dục trong mỗi nhà trường. Tuy vậy, việc thực hiện
quản lý hoạt động đánh giá theo hướng đổi mới của các cán bộ quản lý giáo
dục và các nhà quản lý ở các trường chưa đạt được kết quả như mong muốn.
Trong những năm gần đây Trường Đại học Thủ đô Hà Nội đã có những
cố gắng rất đáng trân trọng về việc tổ chức quá trình đào tạo của nhà trường,
trong đó có việc tổ chức và quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của
sinh viên. Tuy nhiên việc thực hiện đánh giá kết quả và quản lý hoạt động này
theo xu hướng đổi mới giáo dục hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, vì vậy rất
cần được quan tâm, tìm hiểu, nghiên cứu để tìm ra những biện pháp khắc
phục phù hợp cho nhà trường.
Từ những lí do trên chúng tôi đã lựa chọn đề tài: "Quản lý hoạt động
đánh giá kết quả học tập của sinh viên Trường Đại học Thủ đô Hà Nội".

7


2.

Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về đánh giá, quản lý công tác đánh giá
kết quả học tập của sinh viên, và đề xuất một số biện pháp quản lý đánh giá cho
Trường Đại học Thủ đô Hà Nội nhằm nâng cao hiệu quả đối với công tác này.

3.
3.1.

Khách thể và đối tượng nghiên cứu


Trường Đại học Thủ đô Hà Nội.
Giả thuyết khoa học
Trong thời gian qua công tác quản lý hoạt động đánh giá kết quả học
tập của sinh viên Trường Đại học Thủ đô Hà Nội đã đạt được những kết quả
nhất định, tuy nhiên vẫn còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế. Nếu được tổng
hợp lý luận, nghiên cứu khách quan thực trạng, đưa ra một số biện pháp về
quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên một cách khoa học
và đồng bộ thì sẽ nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động đánh giá kết quả
8


học tập nói riêng và chất lượng đào tạo của Trường Đại học Thủ đô Hà Nội
nói chung.
7.
7.1.

Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa những vấn đề lý luận
cơ bản làm cơ sở nghiên cứu thực tiễn các biện pháp quản lý hoạt động đánh
giá kết quả học tập của sinh viên tại trường ĐHTĐHN.

7.2.
-

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát: Quan sát giờ học, tính tích cực của SV trong giờ học;
Quan sát hoạt động liên quan đến hoạt động đánh giá kết quả học tập GV và


Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập
của sinh viên ở trường đại học

9


Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của
sinh viên Trường Đại học Thủ đô Hà Nội
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của
sinh viên Trường Đại học Thủ đô Hà Nội

10


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNGĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ
HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.

Trong lịch sử phát triển của hoạt động giáo dục nói chung và hoạt động
dạy học nói riêng, vấn đề đánh giá kết quả của người học được coi như là một
khâu quan trọng của quá trình dạy học. Quản lý hoạt động dạy học thông qua
việc quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của người học nhằm tác động
trực tiếp đến người dạy để họ thực hiện đầy đủ và khoa học quá trình đánh giá
trên cơ sở công bằng khách quan nhằm thúc đẩy quá trình học tập của sinh


Mỹ…
Những tài liệu nghiên cứu về quản lý hoạt động đánh giá như: cuốn
“Monitering Educational Achivement của N.Postlethwait [45] (2004); cuốn
mười bước tiến tới hệ thống giám định đánh giá dựa trên kết quả” của Jody
Zall Kusek, Ray C.Rist [11] (2005)
Những năm qua, lĩnh vực nghiên cứu về đánh giá trên thế giới đã đạt
được những thành tựu đáng ghi nhận. Có thể nói, hầu hết các tác giả tiêu biểu
đã tập trung nghiên cứu và làm sáng tỏ định nghĩa, chức năng, vai trò của
ĐGKQHT đối với việc phát triển tri thức, năng lực, đặc biệt là tính tích cực tự
giác của người học, giúp các em tự tin hơn trong học tập và tự ĐGKQHT của
mình. Nghiên cứu vấn đề ĐGKQHT theo những quan điểm, trường phái khác
nhau song các tác giả đều nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng của ĐGKQHT,
xây dựng cơ sở lý thuyết và thực tiễn quá trình đánh giá phù hợp với hệ thống
giáo dục của từng quốc gia.
Ở Việt Nam vấn đề chất lượng, quản lý chất lượng đào tạo nói chung
và quản lý đánh giá kết quả học tập hiện đang được nhiều người quan tâm.
Hoạt động nghiên cứu lý luận về vấn đề này ngày càng được nâng lên một
tầm cao mới trong những năm gần đây. Nhiều nhà nhiên cứu đã chỉ ra những
yêu cầu về chất lượng thi, đánh giá nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo con người
trong thời đại mới. Dưới đây là một số tài liệu nghiên cứu về đánh giá của các
chuyên gia hàng đầu ở Việt Nam:
Tác giả Hà Thị Đức [10] đã nêu lý luận và việc thực hiện các chức
năng KT –ĐG theo đơn vị kiến thức là phương pháp đánh giá khách quan
nhất trong Lý luận dạy học hiện đại – NXB Giáo dục, Hà Nội 2004; Đặng Vũ
12


Hoạt [15] đã nêu hệ thống chức năng KT –ĐG trong Lý luận dạy học hiện
đại; Đặng Bá Lãm [18], Kiểm tra - đánh giá trong dạy – học đại học, NXB –

hướng phát triển năng lực tại trường Cao đẳng Ngô Gia Tự Bắc Giang”. Luận
văn Thạc sĩ Giáo dục học Nguyễn Thị Quý [27].
Các công trình nghiên cứu đã thể hiện sự nghiên cứu sâu về lý luận
ĐGKQHT của SV, chỉ rõ mục đích, ý nghĩa của ĐGKQHT, các phương pháp,
13


hình thức, các nguyên tắc , yêu cầu ĐGKQHT, các kỹ thuật, công cụ đánh
giá. Qua những công trình nghiên cứu, các tác giả đều cho rằng việc
ĐGKQHT của người học cần được thực hiện thường xuyên, liên tục góp phần
nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục. Mặt khác, các tác giả cũng chỉ ra
rằng việc đổi mới công tác đánh giá cho phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo
dục hiện nay có thể được coi là khâu đột phá tạo chuyển biến cơ bản nâng cao
chất lượng đào tạo trong nhà trường. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa
phản ánh sâu sắc vấn đề ĐGKQHT dựa trên định hướng phát triển năng lực
cho người học.
1.2. Các khái niệm cơ bản
1.2.1.

Quản lý
Khoa học quản lý xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội loài
người. Nó là phạm trù tồn tại khách quan, ra đời một cách tất yếu do nhu cầu
của mọi chế độ xã hội, mọi thời đại.
Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến, nhưng chưa có một
định nghĩa thống nhất. Khái niệm quản lý phụ thuộc với loại hình và lĩnh vực
nghiên cứu. Các nhà khoa học trên thế giới và trong nước đã đưa ra nhiều
quan điểm khác nhau.
Các tác giả nước ngoài bàn về quản lý như:
Aunapu [1] cho rằng: “Quản lý hệ thống xã hội là một khoa học, nghệ
thuật tác động vào một hệ thống mà chủ yếu là những con người trong hệ

của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [22].
Từ một số định nghĩa trên có thể rút ra một số điểm chung về quản lý:
Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều
khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi, hoạt động của con người
nhằm đạt được mục đích, đúng với ý chí của nhà quản lý, phù hợp với quy
luật khách quan.

15


Trong quản lý bao giờ cũng có chủ thể quản lý và đối tượng quản lý,
quan hệ với nhau bằng những tác động quản lý. Những tác động quản lý
chính là những quyết định quản lý, là những nội dung chủ thể quản lý yêu cầu
đối với đối tượng quản lý.
Hoạt động quản lý chính là sự tác động qua lại một cách tích cực giữa
chủ thể và đối tượng quản lý qua con đường tổ chức; là sự tác động điều
khiển, điều chỉnh tâm lý và hành động của các đối tượng quản lý, lãnh đạo
cùng hướng vào việc hoàn thành những mục tiêu nhất định của tập thể xã hội.
Công cụ quản lý
Chủ thể quản lý

Đối tượng quản lý

Mục tiêu quản lý

Phương pháp quản lý
Hình 1.1. Sự tác động của các quá trình quản lý
1.2.2.

Quản lý giáo dục

hiện và biến đổi phù hợp với ý chí của chủ thể quản lý đã đề ra.
Trong quá trình quản lý, chủ thể quản lý thực hiện các chức năng quản
lý như: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. Cũng có thể gọi đây là chu
trình quản lý, được sơ đồ hóa như sau:

17


Kế hoạch hóa Tổ chức
Chỉ đạo
Kiểm tra
1/ Soạn thảo kế hoạch
1/ Tiếp nhậm nguồn dự trữ
1/ Nắm quyền chỉ huy 1/ Đánh giá trạng thái
2/ Duyệt nội bộ 2/ Đưa kế hoạch đến người thực2/hiện
Động viên, kích thích 2/ Phát hiện lệch lạc và nguyên nhâ
Thiết lập cấu trúc tổ chức bộ máy
3/ Giám sát, điều chỉnh, 3/
canĐiều
thiệp
chỉnh, uốn nắn
3/ Trình duyệt cấp3/trên
4/ Xác lập cơ chế phối hợp, công tác, giám sát
5/ Nâng cao trình độ, cải tiến đời sống cán bộ

Thông tin quản lý
Hình 1.2. Chu trình quản lý
Chức năng lập kế hoạch: Là chức năng hạt nhân quan trọng của quá
trình quản lý. Kế hoạch được hiểu là tập hợp những mục tiêu cơ bản được sắp
xếp theo những trình tự nhất định, logic với một chương trình hành động cụ

trường) nhằm thực hiện có chất lượng, hiệu quả mục tiêu phát triển giáo giục,
đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục.
Đối với cấp độ vi mô: QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự
giác (có ý thức, mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể
quản lý đến tập thể GV, tập thể HS-SV, cha mẹ HS và các lực lượng xã hội
trong và ngoài nhà trường, nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục
tiêu giáo dục của nhà trường.
Như vậy có thể hiểu khía niệm QLGD là hệ thống những tác động có
mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ
thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục.
1.2.3. Kết quả học tập

19


Hoạt động dạy học là hoạt động cơ bản trong nhà trường, kết quả mà
SV đạt được trong quá trình dạy học là cơ sở quan trọng để đánh giá chất
lượng của hoạt động dạy học.
Theo lí luận dạy học hiện đại, học tập là hoạt động nhận thức của người
học được thực hiện dưới sự tổ chức điều khiển của nhà sư phạm. Mục đích
của hoạt động học tập là tiếp thu nền văn hóa nhân loại và chuyển chúng
thành năng lực thể chất, năng lực tinh thần của mỗi cá nhân. Đối tượng của
hoạt động học là hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng được thể hiện ở
nội dung của môn học, bài học với hệ thống khái niệm khoa học và môn học.
Sản phẩm của hoạt động dạy học, lao động sư phạm trên lớp học, trong
phòng thí nghiệm, xưởng trường, bãi tập,… rất đa dạng và phức tạp, khó xác
định. Những sản phẩm đó là người học đã thay đổi ít hoặc nhiều trong phẩm
chất và năng lực của họ sau một thời gian học tập nhất định hay nói cách khác
là đã có các giá trị gia tăng – đó chính là kết quả học tập của người học, thành
tố chủ yếu tạo nên chất lượng của hoạt động dạy học trong nhà trường.

Đánh giá trong giáo dục là sự so sánh giữa những thông tin thu nhận
được về quá trình giáo dục với tiêu chuẩn tương ứng nhằm đưa ra quyết định
phù hợp. Đối với đánh giá trong giáo dục, tiêu chí đánh giá có vai trò đặc biệt
quan trọng. đó là chuẩn để so sánh, đối chiếu, xác định mức độ kết quả của
đối tượng được đánh giá.
Nhiều tác giả như Tylor, Croubanh, Alkin, Stuffebean, Stake,
Scriven… đã đưa ra định nghĩa về đánh giá trong hệ thông giáo dục như sau:
“Đánh giá, trong bối cảnh giáo dục, có thể định nghĩa như một quá trình được
tiến hành có hệ thống để xác định mức độ đạt được của học sinh về mục tiêu
đào tạo. Nó có thể bao gồm những sự mô tả (liệt kê) về mặt định tính hay
định lượng những hành vi (hoạt động) của người học cùng với những nhận
xét, đánh giá những hành vi này với sự mong muốn đạt về hành vi đó”
Khi đánh giá thường dựa vào các thông tin dữ liệu như:
+ Số đo (Measurement): Là diểm số làm bài kiểm tra của sinh viên

21


+ Lượng giá (Assessment): dựa vào số đo đưa ra những kết luận ước
lượng trình độ kiến thức, kỹ năng của từng sinh viên.
+ Lượng giá theo chỉ tiêu (Norm reference assessment): so sánh số đo
mỗi cá nhân trong tổng hợp chung của cả lớp.
+ Lượng giá theo tiêu chí (Criterion reference assessment): so sánh số
đo của mỗi cá nhân với chỉ tiêu đề ra ban đầu.
Trong dạy học, đánh giá là quá trình thu thập thông tin về năng lực,
phẩm chất của một sinh viên và sử dụng thông tin đó để đưa ra quyết định về
người học và việc tổ chức quá trình dạy học.
-

Đánh giá năng lực học tập hay đánh giá kết quả học tập gồm có đánh giá kiến

thể thiếu được của quá trình dạy học. Trong quá trình dạy học đánh giá không
chỉ là hoạt động sau mỗi bài giảng mà nó còn quan hệ hợp thành với việc
quyết định của giáo viên. Đánh giá đúng đắn, chính xác sẽ cung cấp cho GV
thông tin để ra quyết định có ý nghĩa quan trọng trong quá trình dạy học, giúp
cho GV có thể đi đến những quyết định phù hợp, nâng cao hiệu quả giảng
dạy. Những thông tin ngược giúp GV tự điều chỉnh và hoàn thiện hoạt động
giảng dạy. Thông qua đánh giá, GV thu được những thông tin ngược từ SV,
biết được kết quả học tập của SV cũng như nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực
trạng kết quả đó. Đây là cơ sở thực tế để GV hoàn thiện hoạt động của SV và
hướng dẫn SV tự điều chỉnh, tự hoàn thiện hoạt động học của bản thân mình.
Ý nghĩa của hoạt động đánh giá: Đánh giá có ý nghĩa vô cùng quan
trọng. việc đánh giá có hệ thống, thường xuyên cung cấp kịp thời những
thông tin “liên hệ ngược” giúp SV điều chỉnh hoạt động học. Về mặt giáo
dưỡng chỉ cho SV thấy mình đã tiếp thu điều vừa học đến mức độ nào, còn
thiếu sót chỗ nào cần bổ khuyết. Về mặt phát triển năng lực nhận thức giúp
SV có điều kiện tiến hành các hoạt động trí tuệ như ghi nhớ, tái hiện, chính
xác hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa kiến thức, tạo điều kiện cho họ phát triển
tư duy sáng tạo, linh hoạt vận dụng kiến thức để giải quyết các tình huống
thực tế. Về mặt giáo dục giúp SV có tinh thần trách nhiệm cao trong học tập,

23


có ý chí vươn lên để đạt kết quả cao hơn, cũng có lòng tin vào khả năng của
mình, nâng cao ý thức tự giác, khắc phục tinh thần chủ quan tự mãn.
Quy trình đánh giá:
-

Nắm vững mục tiêu của việc đánh giá tri thức sinh viên.
Xác định các tiêu chuẩn cơ bản khi đánh giá tri thức sinh viên

Quá trình đánh giá cần thực hiện có hệ thống, theo kế hoạch, theo quy
chuẩn nhất định và cần phải thực hiện thường xuyên. Đánh giá một cách có hệ

24


thống giúp thu thập chính xác, đầy đủ thông tin cần thiết cho việc đánh giá
khách quan, toàn diện. Ngoài ra, để có lượng thông tin đầy đủ chúng ta cần tiến
hành đánh giá thường xuyên làm cơ sở chắc chắn để thực hiện việc điều chỉnh
hoạt động giáo dục. Do vậy cần thực hiện thường xuyên, đánh giá định kỳ. Số
lần, hình thức kiểm tra cần phù hợp đảm bảo cho việc ĐGKQHT của SV.
-

Nguyên tắc đảm bảo tính xác nhận và phát triển
Việc đánh giá phải khẳng định được nội dung cần đánh giá so với mục
tiêu đánh giá (về mặt định tính, định lượng) và nguyên nhân của hiện trạng
đó, dựa trên những tư liệu chính xác và lập luận xác đáng. Tuy nhiên, giáo
dục có bản chất nhân đạo và phát triển nên việc đánh giá cũng mang tính chất
nhân đạo và phát triển. Nói cách khác, đánh giá trong dạy học không đơn
thuần là phán xét kết quả học tập của người học mà thực sự là một nội dung
của hoạt động dạy học.

-

Nguyên tắc đảm bảo tính thiết thực
Đánh giá bao giờ cũng gắn với việc học tập của SV, kèm theo những
lời nhận xét để SV biết sai sót của mình về kiến thức, kỹ năng, phương pháp.
Theo Stuffebean và Guber, 5 nguyên tắc chung trong đánh giá kết quả
học tập là:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status