KHÓ KHĂN tâm lí TRONG HOẠT ĐỘNG học tập các môn CHUNG của SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG VĨNH PHÚC - Pdf 42

B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI
----------

Lấ TH BCH HNH

KHó KHĂN TÂM Lí TRONG HOạT ĐộNG HọC TậP
CáC MÔN CHUNG CủA SINH VIÊN
TRƯờNG CAO ĐẳNG VĩNH PHúC
Chuyờn ngnh: Tõm lớ hc
Mó s: 60.31.04.01

LUN VN THC S TM L HC

Ngi hng dn khoa hc: PGS. TS. NGUYN TH HU

H NI - 2014


Lời cảm ơn!
====88====

Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, cho phép em được gửi
lời cám ơn đến:
Các thầy cô trong khoa Tâm lí – Giáo dục, phòng Sau đại học, trường Đại
học sư phạm Hà Nội đã tham gia giảng dạy, quản lí và giúp đỡ em hoàn thành
khóa học này.
Phó giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Thị Huệ, người trực tiếp hướng dẫn khoa học
đã tận tình chỉ bảo, động viên và giúp đỡ em về kiến thức cũng như phương pháp
luận trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ.
Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo, các sinh viên trường Cao Đẳng Vĩnh Phúc

Khó khăn
Khó khăn tâm lí
Phụ lục
Môn Chung
Sinh viên
Tâm lí
Tâm lí học


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
TLH Mác xít đã chỉ ra rằng, sự hình thành và phát triển nhân cách của
con người chịu sự quy định của nhiều yếu tố trong đó hoạt động cá nhân là
yếu tố quyết định trực tiếp. Cuộc sống của con người là một dòng các hoạt
động khác nhau, mỗi hoạt động lại có đặc điểm và cách thức tiến hành riêng.
Muốn thực hiện tốt một hoạt động nào đó con người phải thâm nhập vào
những điều kiện hoạt động, nắm được những quy tắc hoạt động, khắc phục
được những trở ngại của KKTL.
Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các KKTL có ảnh hưởng
nhất định đến hiệu quả trong công việc. Mỗi hoạt động khác nhau đều có
những KK riêng và mỗi người khác nhau đều gặp phải những KKTL riêng
trong một hoạt động nào đó. Cá nhân nào càng gặp nhiều KKTL và không có
biện pháp khắc phục thì hiệu quả công việc càng thấp.
Học tập là hoạt động cần thiết đối với mỗi con người, ai muốn trưởng
thành, phát triển đều phải học. Nhưng mỗi người đều gặp phải những KKTL
nhất định trong hoạt động học tập. Có thể nói HĐHT tạo ra khá nhiều áp lực
cho người học bất kì ở cấp học nào, người SV ở các trường cao đẳng, đại học
trong quá trình học tập cũng gặp không ít KK, trong đó đặc biệt là các KKTL.
Bất kì học sinh trung học phổ thông nào cũng đều có ước mơ trở thành

các KKTL...Đó là những vấn đề có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao chất
lượng đào tạo.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “KKTL trong
HĐHT các MC của SV trường CĐVP” để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu


Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực trạng luận văn đề xuất một số
biện pháp giúp SV trường CĐVP giảm bớt các KKTL trong HĐHT các MC.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện, mức độ các KKTL, các biện pháp và các yếu tố ảnh hưởng
đến KKTL trong HĐHT các MC của SV trường CĐVP.
3.2. Khách thể nghiên cứu
300 SV (42 SV nam và 258 SV nữ) và 20 giảng viên thuộc Bộ môn
Chung của Trường CĐVP.
4. Giả thuyết khoa học
SV trường CĐVP thường gặp những KKTL trong HĐHT các MC, các
KK đó được biểu hiện ở cả 3 mặt: nhận thức, thái độ, hành vi. Có sự khác biệt
về mức độ KKTL trong HĐHT các MC của SV các khoa và về giới tính.
KKTL trong HĐHT của SV chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó các
yếu tố thuộc về chủ quan có tác động mạnh mẽ hơn cả.
Những KKTL này ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả học tập của SV. Nếu
có các biện pháp tác động hỗ trợ tích cực, phù hợp sẽ giúp SV trường CĐVP
giảm bớt những KKTL đó.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận về KKTL, KKTL trong HĐHT các MC của SV
(các biểu hiện, mức độ, các yếu tố ảnh hưởng…).
5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng KKTL trong HĐHT các MC của SV trường
CĐVP và các yếu tố ảnh hưởng đến chúng.

1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong lịch sử nghiên cứu vấn đề KKTL đã được nhiều nhà TLH xem xét
dưới nhiều góc độ, nhiều loại khách thể với nhiều lĩnh vực khác nhau. Tuy
nhiên, nghiên cứu phát hiện ra những KKTL trong HĐHT các MC của SV còn
ít được đề cập. Ở Việt Nam các tác giả chủ yếu tập trung vào nghiên cứu những
KKTL trong giao tiếp. Một số tác giả xem xét nghiên cứu những KKTL trong
HĐHT nhưng chủ yếu là học sinh ở tiểu học.
1.1.1. Nghiên cứu ở nước ngoài
a. Nghiên cứu KKTL trong hoạt động giao tiếp
Năm 1985, E.V.Sucanova [ dẫn theo 25] với việc đưa ra cuốn sách
“Những KK của giao tiếp liên nhân cách”đã đánh dấu một mốc quan trọng
trong công việc nghiên cứu vấn đề KKTL trong giao tiếp. Trong công trình
này tác giả có đề cập đến những vấn đề sau:
- Bản chất TL của những KK trong giao tiếp liên nhân cách.
- Vị trí của hiện tượng giao tiếp, KK trong cấu trúc của vấn đề TL xã hội.
- Những đặc điểm của nhận thức, nguyên nhân gây ra KK trong giao tiếp.
- Nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của KK đến quá trình giao tiếp.
Qua quá trình nghiên cứu này, tác giả đã phát hiện được một số KKTL
trong giao tiếp và nguyên nhân nảy sinh chúng. Song cũng như các tác giả
trên ông chưa đưa ra được các định nghĩa về KKTL trong giao tiếp và chưa
phân loại chúng một cách cụ thể.
Năm 1987, trong công trình nghiên cứu về nhân cách sư phạm của GV,
V.A.Cancalic đã nêu ra một số trở ngại giao tiếp của GV:


- Không biết cách dàn xếp, tổ chức, tiếp xúc.
- Không hiểu lập trường của đối tượng giao tiếp.
- Thụ động trong giao tiếp.
- Có tâm trạng lo lắng, sợ hãi
- Lúng túng trong điều khiển trạng thái TL của bản thân khi giao tiếp.

tỏ KKTL trong giao tiếp là gì? Làm sao để phát hiện ra những KK đó?Thì
công trình nghiên cứu này chưa đề chưa đề cập tới.
Như vậy, bàn về KK giao tiếp có rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu,
các tác giả kể trên đã phát hiện và kể ra một số KKTL trong giao tiếp, nguyên
nhân làm nảy sinh những KK trong giao tiếp…
Nhưng để hiểu rõ khái niệm của KKTL trong giao tiếp, phân loại chúng
một cách cụ thể…, thì tất cả họ chưa ai làm được.
b. Nghiên cứu KKTL trong HĐHT
Học tập là phương thức để tiếp thu tri thức, kĩ năng nhằm mục đích
nhận biết, tác động, cải tạo thế giới hiện thực, phục vụ cho lợi ích của con
người. Lịch sử loài người đã chứng minh, chỉ thông qua con đường học tập,
thì những di sản văn hoá vật chất, tinh thần từ thế hệ trước mới được lưu
truyền cho thế hệ sau và cũng nhờ đó mà những giá trị này mới còn tồn tại.
Tuy nhiên, học tập không phải là một hoạt động đơn giản. Trong quá trình
biến tri thức của nhân loại thành vốn kinh nghiệm riêng của cá nhân con
người đã gặp không ít khó khăn, trong đó có nhưng khó khăn về mặt TL. Khi
bàn về KKTL trong học tập, ở thập kỷ 70 thế kỷ XX bà Bianka Zazzo, giáo sư
đại học EPHE Pari cùng các cộng sự thuộc trung tâm nghiên cứu trẻ em là 12
chuyên gia cấp cao về TL, y khoa và giáo dục đã nghiên cứu trẻ từ mẫu giáo
đến cuối lớp 1. Tác giả đã chỉ ra KKTL lớn nhất mà trẻ gặp phải làm cản trở
đến sự thích ứng với HĐHT là: “Sự thay đổi môi trường hoạt động, gọi là


chuyển dạng hoạt động chủ đạo, vui chơi trở thành hoạt động đa dạng, tính tự
do tùy hứng của cá nhân cao hơn là tính chỉ đạo của GV. Sang lớp 1, học tập
chủ đạo của học sinh phải nghiêm chỉnh theo sự chỉ đạo của GV, theo nguyên
tắc lớp học. Vì thế, trẻ nào vượt qua được KK này thì sẽ học tốt, còn không sẽ
dẫn đến tình trạng chán học, kết quả không cao” [dẫn theo 35;19].
Nghiên cứu về KKTL trong HĐHT của học sinh lớp 1, tác giả
đã chia KKTL của trẻ em khi đi học lớp 1 là 3 loại:

dẫn đến KK, đồng thời cũng chỉ ra được ảnh hưởng của nó tới HĐHT… Tuy
nhiên so với các lĩnh vực khác, KKTL trong HĐHT còn ít được các nhà khoa
học nước ngoài quan tâm nghiên cứu. Đặc biệt, nghiên cứu KKTL trong
HĐHT các MC của SV thì chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập tới. Mặc
dù đây là vấn đề quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập của SV.
1.1.2. Nghiên cứu ở Việt Nam
Do yêu cầu của xã hội nên ở nước ta KKTL bắt đầu được quan tâm nghiên
cứu. Đa số các nghiên cứu KKTL các tác giả tập trung vào hai hướng cơ bản sau:
- Nghiên cứu KKTL trong hoạt động giao tiếp.
- Nghiên cứu KKTL trong HĐHT.
a. Nghiên cứu KKTL trong hoạt động giao tiếp
Trong cuốn “Vấn đề giao tiếp” của Nguyễn Văn Lê [25], dưới góc độ
thông tin, tác giả đã bàn đến KKTL trong giao tiếp như:
+ Sự chênh lệch giữa người phát và người thu.
+ Khả năng xây dựng và trình bày thông điệp của người phát thông
tin, các tác giả cũng đưa ra các yếu tố TL gây trở ngại trong giao tiếp đó là:
Những chấn thương tình cảm, sự khác nhau về chính kiến… Tuy nhiên công
trình chỉ mang tính chất suy diễn. Mặc dù tác giả có bàn tới trở ngại TL
trong giao tiếp nhưng vẫn chưa dề cập đến nội hàm của khái niệm.


Tác giả Huyền Phan với bài viết “Những trở ngại TL khi giao tiếp” đã
cho biết, trong nhiều tình huống giao tiếp, chủ thể giao tiếp không đạt được
mục đích vì bị các trở ngại TL ngăn cản. Vì vậy, muốn giao tiếp đạt mục đích,
chủ thể giao tiếp cần phải vượt qua những trở ngại:
“+ Bức tường thành kiến do ác cảm với một người nào đó, do cái nhìn
thiên lệch tạo ra ấn tượng không tốt đẹp trong giao tiếp.
+ Bức tường ác cảm nảy sinh, khi có định kiến với đối tượng do có
thông tin sai lệch về đối tượng.
+ Bức tường sợ hãi xuất hiện do những suy nghĩ, băn khoăn dẫn đến

b. Nghiên cứu KKTL trong HĐHT
Với tác phẩm “Nỗi đau của con em chúng ta” bác sĩ Nguyễn Khắc Viện
đã nêu ra KKTL mà học sinh lớp 1 gặp phải.
Trong tác phẩm “6 tuổi vào lớp 1” trên tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số
2 trang 13(1992) tác giả Nguyễn Thị Nhất đã nêu những KK của học sinh lớp
1 phải vượt qua. Tác giả cho rằng: “Trong quá trình lớn lên của trẻ có những
bước ngoặt chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác đòi hỏi trẻ phải thay
đổi phương thức sinh hoạt một cách triệt để”. Đồng thời tác giả cũng nêu ra
một số KKTL cụ thể mà trẻ lớp 1 phải vượt qua:
“ + Trẻ phải rời bỏ cuộc sống thoải mái, vui nhộn, đa dạng, hoạt động tùy
hứng ở mẫu giáo và khép mình vào kỉ luật nghiêm khắc của lớp học phổ thông.
+ Trẻ gặp KK với quan hệ với thầy cô giáo.
+ Trẻ bị “vỡ mộng” khi vào lớp một vì sự hân hoan, hồi hộp chờ đón
những điều hấp dẫn được thay thế bằng những điều khác xa với tưởng tượng
trong đầu của trẻ” [27; 36].
Theo tác giả Nguyễn Thanh Sơn, khi phân tích: “Những KK của học
sinh miền núi khi học tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam” đã chỉ ra KK:
“+ Hoàn cảnh giao tiếp của học sinh miền núi bị hạn chế.


+ Vốn từ của học sinh miền núi còn yếu và thiếu.
+ Năng lực cảm thụ một câu thơ, một đoạn thơ của học sinh còn hạn chế”.
Theo tác giả nguyên nhân dẫn đến tình trạng này do “Tầm văn hóa, lối
sống, vốn hiểu biết của học sinh còn hạn chế. Vậy, để nâng cao cảm thụ văn
học của học sinh thì trước hết phải nâng cao tầm văn hóa, cần mở rộng tầm
hiểu biết cuộc sống cho học sinh. Những hoạt động ngoại khóa, tham quan,
câu lạc bộ văn học….là những hoạt động rất bổ ích đối với học sinh” [33; 12].
Trong bài viết “Một số trở ngại tâm lí của trẻ khi vào lớp 1”, tác giả Vũ
Ngọc Hà [12] đã nêu ra một số trở ngại TL khi vào lớp 1 trẻ em thường gặp phải:
+ KK trong việc thích nghi với môi trường

trưởng trường trung học cơ sở của 17 tỉnh tham gia dự án giáo dục trung học
cơ sở vùng KK nhất” [34] đã đưa ra và phân tích các tình huống cụ thể mà các
GV, hiệu trưởng và các nhà quản lí gặp phải trong quá trình giáo dục tại các
trường trung học cơ sở ở các vùng KK nhất. Tại đây học sinh không chỉ gặp
các KK trong học tập mà còn gặp rất nhiều KK trong cuộc sống và sinh hoạt
tạo ra vô vàn những KKTL ảnh hưởng trực tiếp đến việc tham dự đầy đủ các
khóa học. Trong tài liệu này, các tác giả cũng mạnh dạn đưa ra các giải pháp
nhằm không chỉ giúp các em học sinh có đủ điều kiện để đi học mà còn giúp
các nhà quản lí có những biện pháp quản lí hữu hiệu, khoa học.
Đầu năm 2014, với hội thảo bàn về “Những KKTL của học sinh Trung
học cơ sở hiện nay”. Nội dung của hội thảo đã đi sâu nghiên cứu các vấn đề:
Một số vấn đề lí luận về KKTL của học sinh Trung học cơ sở; Thực trạng về
KKTL của học sinh trong học tập, trong quan hệ giao tiếp với cha mẹ, thầy cô
giáo, bạn bè; Các nguyên nhân dẫn đến KKTL của học sinh, Các biện pháp
khắc phục, hạn chế những KKTL của học sinh Trung học cơ sở để quá trình
hình thành và phát triển nhân cách của các em diễn ra thuận lợi. Tiến sĩ
Dương Thị Thoan - Chủ tọa hội thảo đã tổng kết: “Tuổi học sinh Trung học


cơ sở được coi như một giai đoạn phát triển đặc biệt, các em phải đối mặt với
rất nhiều KKTL. Đây chính là những nguyên nhân ảnh hưởng không nhỏ đến
quá trình xã hội hóa của các em. Việc chỉ ra thực tế này cũng như đề ra các
biện pháp giúp các em vượt qua thời kì đầy KK là việc làm có ý nghĩa và giá
trị thực tiễn to lớn trong quá trình giáo dục học sinh Trung học cơ sở”.
Tóm lại, nghiên cứu KKTL trong HĐHT là một hiện tượng TL phức
tạp, vấn đề này hiện nay đã được các tác giả trong và ngoài nước chú ý nhiều
hơn. Các công trình kể trên ít nhiều đã xây dựng được hệ thống lí luận và thực
tiễn về vấn đề này. Tuy nhiên, hầu hết các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc đưa
ra khái niệm mà chưa làm rõ được bản chất của KKTL…Các tác giả đa phần
nghiên cứu KKTL trong hoạt động giao tiếp và học tập của học sinh tiểu học,

những trở ngại, rào cản khiến chúng ta phải tập trung, nỗ lực để thực hiện.
1.2.1.2. Khó khăn tâm lí
KKTL được xem xét trong hoạt động thuộc nhiều mối quan hệ khác
nhau... Và cùng để chỉ về KKTL, các tác giả đã sử dụng nhiều thuật ngữ khác
nhau như: “trở ngại TL”, “cản trở TL”, “hàng rào TL”...
Theo “Sổ tay tâm lí học” của Trần Hiệp và Đỗ Long [19] thì “Hàng rào
TL” là trạng thái TL thể hiện tính thụ động quá mức của chủ thể gây cản trở
việc thể hiện hành động. Cơ chế tình cảm của “Hàng rào TL" là sự gia tăng
những mặc cảm và tâm thế tiêu cực, hổ thẹn, cảm giác tội lỗi, sợ hãi... Trong
hành vi xã hội của con người “Hàng rào TL" như những cản trở làm nảy sinh
KK trong quá trình hiểu biết lẫn nhau và thiết lập hoạt động chung.
Theo Vũ Dũng [11] “Hàng rào TL” được hiểu là trạng thái TL thể
hiện tính thụ động quá mức của chủ thể gây cản trở trong việc thực hiện
một hành động.
Sự không phù hợp giữa đặc điểm TL của cá nhân với yêu cầu của hoạt
động được tác giả Nguyễn Xuân Thức [38] cụ thể hóa ở những mặt biểu hiện:
nhận thức – thái độ - hành vi. Tác giả cho rằng: KKTL là sự không phù hợp


giữa đặc điểm TL và hành vi ứng xử của nhân cách với nội dung, đối tượng,
hoàn cảnh hoạt động của chủ thể, được biểu hiện ở các dấu hiệu: nhận thức thái độ và hành vi ứng xử”.
Vũ Ngọc Hà [12] đã khẳng định: “KKTL là sự thiếu hụt TL của cá
nhân khiến cho hoạt động của cá nhân kém hiệu quả và được biểu hiện ở các
dấu hiệu: nhận thức – thái độ và hành vi ứng xử”.
Chúng tôi thấy có nhiều quan niệm khác nhau về KKTL, về cơ bản các
quan niệm này có nhìn nhận KKTL ở những khía cạnh sau đây:
- KKTL là hiện tượng thể hiện tính thụ động quá mức nảy sinh theo cơ
chế gây cản trở trong việc thực hiện hành động. Tính thụ động quá mức nảy
sinh theo cơ chế gia tăng mặc cảm, tâm thế tiêu cực, hổ thẹn, cảm giác tội lỗi,
sợ hãi... Sự tăng cường những trải nghiệm âm tính này cản trở trực tiếp hành

KKTL là những yếu tố TL về mặt nhận thức, thái độ và hành vi của cá
nhân, nảy sinh trong quá trình hoạt động, những yếu tố này gây cản trở
và ảnh hưởng tới tiến trình, kết quả của hoạt động.
1.2.2. Khó khăn tâm lí trong hoạt động học tập của sinh viên
1.2.2.1. Khái niệm sinh viên
* Khái niệm sinh viên và sinh viên sư phạm
Thuật ngữ “SV” có nguồn gốc từ tiếng Latinh là “Studens”; tiếng Anh là
“Student”; tiếng Pháp là “Etudiant” và tiếng Nga là “Студент”.... có nghĩa là
người làm việc, người học tập, nhiệt tình đang khai thác và tìm kiếm tri thức.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt [42]: SV là người học ở bậc đại học.
Theo X.L. Rubinstein: “SV là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt
được đào tạo trong các trường Đại học, Cao đẳng để chuẩn bị cho hoạt động
lao động sản xuất ra vật chất và tinh thần cho xã hội. Nhóm SV rất cơ động
được tổ chức theo mục đích xã hội nhất định nhằm chuẩn bị cho việc thực
hiện vai trò xã hội với trình độ nghề nghiệp cao trong các lĩnh vực kinh tế, xã


hội, văn hóa, giáo dục. SV là nguồn lực bổ sung cho đội ngũ tri thức được đào
tạo để trở thành người lao động trí óc, với nghiệp vụ cao và tham gia tích cực
vào các hoạt động đa dạng có ích cho xã hội” [36; 90].
Như vậy SV là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt, là những người
đang trong quá trình tích luỹ tri thức nghề nghiệp để trở thành những chuyên
gia có trình độ chuyên môn cao, hoạt động, lao động trong một lĩnh vực nhất
định có ích cho xã hội.
SV sư phạm: là những SV đang học tập, rèn luyện trong các trường
Đại học, Cao đẳng sư phạm. Họ được đào tạo theo các chương trình chuyên
biệt, SV có nhiệm vụ học tập, tích luỹ tri thức, trau dồi đạo đức, rèn luyện
nghiệp vụ sư phạm, phát triển nhân cách toàn diện để trở thành những GV
trong tương lai.
* Đặc điểm TL lứa tuổi SV

thành đạt, nhiều mơ ước và thích trải nghiệm, dám đối mặt với thử thách.
Song, hạn chế về kinh nghiệm nên SV có hạn chế trong việc chọn lọc, tiếp thu
cái mới. Các yếu tố này chi phối HĐHT, rèn luyện và phấn đấu của SV như:
Sự phát triển tự ý thức: giúp SV hiểu biết về thái độ, hành vi, cử chỉ
của bản thân; có khả năng đánh giá bản thân để điều chỉnh sự phát triển theo
hướng phù hợp. Chẳng hạn SV đang học ở các trường Sư phạm, nhận thức rõ
ràng về năng lực, phẩm chất, mức độ phù hợp của bản thân với nghề nghiệp,
qua đó họ xác định rõ ràng mục tiêu học tập, rèn luyện và thể hiện bằng hành
động học tập, thực tập nghề hay nghiên cứu khoa học. Nhờ khả năng tự đánh
giá phát triển mà SV có thể nhìn nhận, xem xét năng lực, kết quả học tập. Đặc
điểm TL này vừa là biểu hiện cao của mức độ phát triển trí tuệ, vừa đòi hỏi sự
phát triển các chức năng TL như: tư duy, trí nhớ, tưởng tượng, chú ý,... và quá
trình giải quyết các mối quan hệ xã hội. Do đó, nhà trường cần có những biện


pháp bồi dưỡng để nâng cao khả năng tự ý thức, tự đánh giá cho họ.
SV là những trí thức tương lai, ở các em sớm nảy sinh nhu cầu, khát
vọng thành đạt. Học tập là cơ hội tốt để SV được trải nghiệm bản thân, vì thế,
SV rất thích khám phá, tìm tòi cái mới, đồng thời, họ thích học hỏi, trau dồi,
trang bị vốn sống, dám đối mặt với thử thách để khẳng định mình.
Đời sống xúc cảm, tình cảm: Đây là thời điểm phát triển về tình cảm trí
tuệ, tình cảm đạo đức và tình cảm thẩm mĩ. Những tình cảm này biểu hiện
phong phú trong học tập và đời sống của SV. Tình cảm trí tuệ của SV biểu
hiện tích cực đối với việc chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo; ở việc tự khám
phá, lựa chọn, vận dụng sáng tạo các phương pháp và phương tiện học tập
phù hợp với điều kiện môi trường và hình thức tổ chức dạy học... nhằm thực
hiện có hiệu quả nhiệm vụ học tập. Đồng thời, tình cảm trí tuệ của SV còn thể
hiện ở việc họ vừa tích cực học tập để trở thành chuyên gia trong lĩnh vực
chuyên ngành, vừa học tập chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của chuyên
ngành khoa học khác đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của nghề nghiệp trong tương

, SV dễ dàng tiếp nhận cả những nét văn hoá không phù hợp với chuẩn mực
xã hội, với truyền thống tốt đẹp của dân tộc và không có lợi cho bản thân họ.
1.2.2.2. Hoạt động học tập
* Hoạt động
Đối với C.Mác và Ph.Ăngghen, hoạt động có nội hàm rất rộng và cơ
động. Nó là "sự sống", "sinh thành", "vận động", "tác động", "biến hoá" và
"sáng tạo". Ở thể tĩnh, nó là tồn tại có tính vật thể, là tiềm năng ở thể động, nó
chính là tác động của một tác nhân đến đối tượng. Mọi hoạt động đều bao hàm
một tác nhân thực hiện hoạt động và một đối tượng. Với nghĩa chung nhất như
vậy, hoạt động là đặc tính của giới tự nhiên, trong đó có con người, là phương
tiện để giới tự nhiên và con người (nói riêng) sản sinh và phát triển chính bản



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status