TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
MỤC LỤC
Phần I: MỞ ĐẦU
Phần II: NỘI DUNG
1> Phương pháp học tập là gì? và tại sao học tập phải đi đối với
thực hành?
2> Phương pháp thu nhận tri thức kinh nghiệm trong hoạt động
nhận thức của sinh viên.
3> Phương pháp xây dựng và phát triển lý thuyết khoa học trong
hoạt động nhận thức của sinh viên
.
4> Phương pháp tạo lập một kế hoạch học tập hợp lý.
5> Bệnh thụ động trong học tập của sinh viên hiện nay.
6> Phương pháp đối thoại giữa thầy và trò trong việc xây dùng
bài giảng
Phần III: KẾT LUẬN
1
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
I. PHẦN MỞ ĐẦU
Thời đại mà chúng ta đang sống luôn có biến động tích cực về bộ
mặt văn minh xã hội, biến động về kinh tế biến động về khoa học công
nghệ. Thực tiễn đó là kết quả của tư duy sáng tạo, kết quả tư duy đổi mới
mạnh mẽ. Từ hiện thực đó nên hoạt động giáo dục, hơn lúc nào hết, phải
được coi là nền tảng, là động lực của mọi sự phát triển. Chính vì thế
trong hoạt động của mỗi con người, mà đặc biệt là trong học tập thì đều
phải có những phương pháp để có thể tiêp cận với nền tri thức mới và
tiếp thu những tri thức đó một cách hiệu quả nhất. Trong đó triết học
Mác -Lênin đóng vai trò rất quan trọng trong việc đổi mới phương pháp
học tập của sinh viên ngày nay. Trong thực tiễn, ngày nay việc học tập
của sinh viên là rất thụ động. Với cách học nhồi nhét, lý thuyết triền
miên, học nhưng không đi đôi với hành đã biến người học thành những
cải biến đối tượng đó theo nhu cầu của con người (ví dụ: phương pháp
thực nghiệm ). Phương pháp nhận thức là phương pháp sử dụng các giác
quan và tư duy nhằm nắm bắt bản chất, quy luật vận động và phát triển
của đối tượng( ví dụ: phương pháp quan sát, phương pháp phân tích tổng
hợp, đi từ trừu tượng đến cụ thể). Việc phân chia thành các phương pháp
như trên chỉ có tính chất tương đối. Mỗi loại phương pháp đó có chức
năng và nhiệm vụ khác nhau, không thể thay thế được cho nhau. Nhưng
giữa các phương pháp đó có mối quan hệ biện chứng với nhau, hỗ trợ
cho nhau trong quá trình nhận thức và cải tạo thực tiễn. Vì thế, không
3
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
nên cường điệu hoá phương pháp này, hạ thấp phương pháp kia mà phải
biết vận dụng tổng hợp các phương pháp. Cho nên, trong hoạt động nhận
thức, trong học tập của sinh viên hiện nay thì nên học tập đi đôi với thực
hành. Lý thuyết được học, được tiếp thu là cơ sở của hoạt động thực tiễn
và kết quả của hoạt động thực tiễn nó kiểm tra lại lý thuyết, để xác định
lý thuyết đó là đúng đắn hay sai lệch. Vì vậy, thực hành là rất cần thiết để
người sinh viên để dễ dàng tiếp cận với tri thức hơn và lý thuyết để người
sinh viên có thể hiểu sâu sắc, cặn kẽ. Nên thực hành và lý thuyết luôn
phải đi đôi với nhau chứ không nên đề cao lý thuyết và xem nhẹ thực
hành và ngược lại. Việc đề cao lý thuyết và xem nhẹ thực hành là một bất
cập đối với phần lớn các trường Đại học ở nước ta. Chính vì thế sinh viên
hầu như họ chỉ học lý thuyết triền miên, nhồi nhét, họ Ít có cơ hội dược
thực hành các kiến thức được học trong quá trình học tập vì thế sinh viên
Ít có tính sáng tạo, tính chủ động trong hoạt động nhận thức của mình.
Trong phương pháp nhận thức khoa học có thể chia một cách tương đối
thành hai nhóm; nhóm các phương pháp nhận thức ở trình độ kinh
nghiệm và nhóm các phương pháp xây dựng và phát triển lý thuyết khoa
học.
2> Phương pháp thu nhận tri thức kinh nghiệm trong hoạt
mà còn nhằm bác bỏ hay chứng minh một giả thuyết khoa học nào đó.
Trong nhận thức khoa học, giả thuyết khoa học giữ vai trò quan trọng.
Có thể nói giả thuyết là một hình thức phát triển của khoa học. Nhờ thí
nghiệm người ta chính xác hoá, chỉnh lý các giả thuyết và lý thuyết khoa
học. Ngày nay, thí nghiệm được sử dụng rộng rãi trong tự nhiên, trong
khoa học kĩ thuật và cả trong khoa học xã hội. Thí nghiệm như một dạng
cơ bản của thực tiễn, giữ vai trò là cơ sở của nhận thức khoa học và là
tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý của nhận thức khoa học. Vì thế, trong quá
5
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
trình học tập của sinh viên nên tổ chức những buổi thí nghiệm để sinh
viên có thể nắm vững lý thuyết và kiểm tra lại lý thuyết đã học đem đến
cho sinh viên những nhận thức đúng đắn.
3> Phương pháp xây dựng và phát triển lý thuyết khoa học
trong hoạt động nhận thức của sinh viên.
Trong phương pháp nhận thức khoa học còn có phương pháp xây
dựng và phát triển lý thuyết khoa học. Để xây dựng và pháp triển lý
thuyết khoa học có rất nhiều phương pháp khác nhau, những phương
pháp phổ biến mà triết học nghiên cứu là phân tích tổng hợp; quy nạp và
diễn dịch; lịch sử lôgic; từ trùi tượng đến cụ thể. Đối với phương pháp
phân tich và tổng hợp: phân tích là phương pháp phân chia cái toàn bộ ra
bộ phận để đi sâu nhận thức các bộ phận đó. Tổng hợp là phương pháp
liên kết, thống nhất các bộ phận đã được phân tích lại nhằm nhận thức
cái toàn bộ. Phân tích và tổng hợp có cơ sở khách quan trong cấu tạo và
trong tính quy luật của bản thân sự vật cũng như trong hoạt động thực
tiễn của con người. Trong hiện thực khách quan tồn tại cái toàn bộ và cái
bộ phận, yếu tố và hệ thống, phân tán và kết hợp. Trong hoạt động thực
tiễn của con người cũng có hai quá trình: quá trình chia tách các đối
tượng và quá trình hợp nhất các đối tượng đã tách ra vào thành thể thống
nhất mới. Những quá trình đó được di chuyển vào tư duy thành thao tác
nhau. Trước một nền tri thức vô tận đòi hỏi người sìh viên phải tiếp thu
một cách hiệu quả nhất thì phương pháp phân tích và tổng hợp nó giúp
cho ta phân chia cái toàn bộ ra thành từng bộ phận để đi sâu vào nhận
thức các bộ phận đó và đồng thời liên kết thống nhất các bộ phận đã
được phân tích lại nhằm nhận thức cái toàn bộ. Từ đó sinh viên mới nhận
thức được bản chất và quy luật của sự vật.Chẳng hạn như sau khi đã làm
bài tập áp dụng cho từng bài, cuối mỗi chương cần làm các bài tập để
7
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
nhìn lại các bài tập có tính chất tổng hợp và đó cũng là dịp tập huy động
kiến thức liên quan đếnviệc giải một bài tập. Việc làm này cần thiết vì
các bài mang tính chất tổng hợp thì thường gần giống với đề thi. Phương
pháp tổng hợp và phhân tích còn được sử dụng trong suốt cả quá trình
học tập lâu dài của sinh viên.Khi học bài ta không nên học khi quá mệt vì
học lúc mệt sẽ không mang lại kết quả tốt mà còn hai sức khoẻ. Khi học
nên tập trung cao độ để rút ngắn thời gian học mà lại đem đến hiệu quả
tốt nhất với người học. Cần phải phân chia thời gian sao cho việc học tập
thật đều đặn, bền bỉ và vừa sức.Gần đến ngày thi, nên giảm cường độ họ
tập .Mà việc học chủ yếu là đọc lại để sắp xếp kiến thức đã học, chú ý tới
lỗi thường vấp phải và các công thức mà mình hay quên. Đối với phương
pháp quy nạp và diễn dịch: quy nạp là phương pháp đi từ tri thức về cái
riêng đến tri thức về cái chung, từ tri thức Ít chung đến tri thứcchung
hơn; còn diễn dịch là phương pháp đi từ tri thức về cái chung đến tri thức
về cái riêng, từ tri thức chung đến tri thức Ít chung hơn. Quy nạp và diễn
dịch đều dẫn tới tri thức mới, từ cái biết rồi để tìm ra cái chưa biết, tức là
khám phá ra tri thức mới. Quy nạp là quá trình rót ra nguyên lý chung từ
sự quan sát một loạt những sự vật riêng lẻ. Điều kiện khách quan của quy
nạp là tính lặp lại của một loại hiện tượng nào đó. Phương pháp quy nạp
giúp cho việc khái quát khinh nghiệm thực tiễn về những cái riêng để có
được tri thức kết luận chung. Quy nạp đóng vai trò lớn lao trong việc
luận Êy và biến chúng thành tri thức đáng tin cậy. Quy nạp giúp chúng ta
hiểu được cái chung, còn diển dịch giúp ta đi từ cái chung để hiểu cái
riêng. Qúa trình nhận thức là quá trình đi từ cái riêng đến chung và đi từ
cái chung đến cái riêng.Vì vậy phải vận dụng tổng hợp cả hai phương
pháp quy nạp và diễn dịch trong nhận thức và nghiên cứu khoa học. Đối
với phương pháp lịch sử và lôgíc. Mỗi sự vậy hiện tượng trong tự nhiên,
hoặc trong xã hội đều có lịch sử phát triển và diệt vong củả nó.Đặc điểm
9
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
của lịch sử là nó diễn ra theo một trận tự thời gian với những biểu hiện cụ
thể, nhiều hình nhiều vẻ trong đó không chỉ có cái bản chất, cái ngẫu
nhiên, cả những ước quanh co của sự phát triển. ý thức, tư tưởng cũng có
lịch sử của mình với tính cách là lịch sử của quá trình phản ánh. Còn
phạm trù lôgíc có hai nghĩa; nghĩa thứ nhất, nó chỉ tính tất nhiên, tính
quy luật của sự vật, nó là:”lôgíc khách quan” của sự vật: nghĩa thứ hai,
nó chỉ mối liên hệ tất yếu nhất định giữa các tư tưởng phản ánh thế giới
khách quan vào nhận thức con người. Đó là lôgíc của tư duy, của lý luận.
Với nghĩa thứ hai, lôgíc là sự tái tạo dưới dạng hình ảnh tinh thần khách
thể đang vận động và phát triển với những mối liên hệ tát yếu nhất định.
Lôgíc còn nói lên trật tự giữa các bộ phận của tư tưởng( các phạm trù lý
thuyết ). Khác với quan điểm duy tâm và siêu hình, chủ nghĩa duy vật
biện chứng cho rằng lịch sử là tính thứ nhất,còn lôgíc của tư duy là tính
thư hai, lôgíc phản ánh lịch sử, lô gíc phải phục tùng lịch sử chứ không
phải ngược lại. Dó đó, lôgíc phải gắn bó hữu cơ với lịch sử phải phù hợp
với lịch sử. Thống nhất lôgíc và lịch sử là một nguyên tắc phương pháp
luận quan trọng của nhận thức khoa học và của việc xây dựng các lý
thuyết khoa học. Sức mạnh của lôgic tư duy là pháp hiện ra bản chất của
lịch sử, vạch ra quy luật phát triển của lịch sử, tước bỏ những cái gì là
bên ngoài, ngẫu nhiên, không bản chất của lịch sử, tái hiện lôgíc khách
quan của lịch sử trong lôgíc vận động của các khái niệm. Như vậy, lôgíc
nghiên cứu vật dưới hình thức phát triển tương đối hoàn thiện và chín
muồi nhất của nó. Nói cách khác”Lịch sử bắt đầu từ đâu thì quá trình tư
duy bắt đàu từ đó, và sự vận động tiếp tục của nó chẳng qua chỉ là sự
phản ánh quá trình lịch sử dưới một hình thái trùi tượng nhất quán về lý
luận; nó là sự phản ánh đã được uốn nắn, nhưng uốn nắn theo những quy
luật mà bản thân quá trình lịch sử hiện thực đã cung cấp, hơn nữa mỗi
một nhân tố đều có thể xem xét ở cái điểm phát triển mà ở đó quá trình
11
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
đạt tới chỗ hoàn toàn chín muồi, đạt tới cái hình thức cổ điển của nó”. So
với phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc có ưu thế hơn ở chỗ nó
không những phản ánh bản chất, tính tát nhiên, quy luật của sự vật mà
còn phản ánh được lịch sử pháp triển của sự vật( một cách tóm tắt, khái
quát,trên những giai đoạn chủ yếu). Phương pháp lôgíc có khả năng kết
hợp trong bản thân mình hai yếu tố của sự nghiên cứu: Nghiên cứu sự kết
cấu của sự vật cùng với việc hiểu lịch sử của sự vật đó trong sự thống
nhất chặt chẽcủa chúng.Phương pháp lôgíc có vai trò to lớn đối với sinh
viên trong việc tiếp nhận tri thức của những môn khoa học như là những
môn kinh tế học. Trong bộ “tư bản”để nghiên cứu phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa, C.Mác chủ yếu dùng phương pháp lôgíc. Bằng sự phân
tích lôgíc, bằng một hệ thống những khái niệm, phạm trù kinh tế được
sắp xếp theo một trình tự lôgíc hợp lý, Mác đã vạch ra quy luật phát sinh,
phát triển của chủ nghĩa tư bản . Phương pháp lịch sử và phương pháp
lôgíc là hai phương pháp nghiên cứu khác nhau, nhưng nó lại thống nhất
biện chứng vói nhau, gắn bó chặt chẽ với nhau. Bởi vì muốn hiểu biết
bản chất và quy luật của sự vật thì phải hiểu lịch sử pháp sinh, phát triển
của nó; đồng thời nắm được bản chất và quy luật thì mới có nhận thức
được lịch sử của nó một cách đung đắn và sâu sắc.Phương pháp lịch sử
cũng phải nắm lấy cái lôgíc, phải rót ra sợi dây lôgic chủ yếu của lịch sử
thông qua việc phân tích những sự kiện và hiện tượng cụ thể. Còn
hệ. Tuy nhiên ranh giới giữa cái trừu tượng và cái cụ thể chỉ là tương
đối,tuỳ thuộc vào mối quan hệ xác định. Nhận thức là sự thống nhất của
hai quá trình đối lập: Từ cụ thể đến trừu tượng và từ trừu tượng đến cụ
thể. Theo quá trình thứ nhất thì nhận thức xuất phát từ những tài liệu cảm
tính, qua phân tích rót ra những khái niệm đơn giản, những định nghĩa
trừu tuợng phản ánh từng mặt, thuộc tính của sự vật. Trong quá trình này,
toàn bộ biểu tượng đã biến thành một sự quy định trừu tượng. Quá trình
13
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
từ cụ thể đến trừu tượng tạo tiền đề cho quá trình thứ hai là quá trình từ
trừu tượng đến cụ thể. Trong quá trình thứ hai, nhận thức từ những định
nghĩa trừu tượng thông qua tổng hợp biện chứng đi đến cái cụ thể với tư
cách là kết quả của tư duy chứ không phải với tư cách là điểm xuất phát
trong hiện thực. Trong quá trình này, những sự quy định trừu tượng lại
dẫn tới mô tả lại cái cụ thể bằng con đường của tư duy. C.Mác coi đi từ
trừu tượng đến cụ thể là phương pháp nhận thức khoa học quan trọng.
Nói cách khác thì” phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể chỉ là cái
phương pháp nhờ đó nà tư duy quan triệt được cái cụ thể và tái tạo ra nó
với tư cách là một cái cụ thể trong tư duy”. Trước Mác, Hêghen là người
đã đề cập đến phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể và đã có những tư
tưởng hợp lý sâu sắc về nó. Hêghen cho rằng, nhận thứ phải bắt đầu từ
những khái niệm đơn giản nhất, trừu tượng và chuyển sang những khái
niệm ngày càng cụ thể, phủ định những khái niệm có trước và bao chứa
chúng như một nhân tố và một giai đoạn phát triển của nội dung. Tuy
nhiên phương pháp này của Hêghen mang tính duy tâm, thần bí. Ở
Hêghen quá trình đi từ trừu tượng đến cụ thể cũng là quá trình sản sinh ra
bản thân cái cụ thể hiẹn thực. Phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể đã
được C.Mác xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa duy vật. Phương pháp này có
vai trò đặc biệt trong việc xây dựng lý thuyết khoa học, nó cho phép xâm
nhập vào bản chất của đối tượng nghiên cứu, hình dung được tất cả các
dung cần học đều xuất phát từ đó. Chẳng hạn, trong chương trình đào tạo
Đại học cần phải chú trọng kiến thức nền tảng chứ không phải là kiến
thức về một quy trình cụ thể. Vì kiến thức nền tảng tạo cho sinh viên một
cái nền vững chắc để tiếp tục học tập những cái cụ thể khác. Cũng vậy kĩ
năng cơ bản là công cụ học tập suốt dời( chẳng hạn kĩ năng nghe, kĩ năng
đọc hiểu, kĩ năng về một ngoại ngữ quan trọng chứ không phải là kĩ
năng sử dụng một cái máy cụ thể, kĩ năng thao tác một công trình cụ thể).
15
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Trong từng lĩnh vực từng môn học có mênh mông các nội dung các ván
đề để học, người giảng viên phải biết lùa chọn nội dung gì, vấn đề gì để
người học rèn luyện năng lực tư duy cao nhất, được học cách học tốt
nhất. Ngoài ra bằng cách khêu gợi trí tò mò, tạo sự hấp dẫn của tri thức
bằng tấm gương học tập của mình, giảng viên cố gắng tạo nên niềm say
mê cho học viên.
4> Phương pháp tạo lập một kế hoạch học tập hợp lý.
Ngoài những phương pháp học rất hiệu quả đã được trình bày ở
trên thì trong quá trình học tập và hoạt động nhận thức, mỗi người sinh
viên phải tìm cách tạo cho mình một kế hoạch học tập hợp lý. Để tiết
kiệm thời gian và sức lực, đồng thời có hiệu quả cao nhất thì việc lập ra
một kế hoạch học tập là điều rất quan trọng. Cần thu xếp học bài trong
thời gian sớm nhất sau khi nghe giảng. Học ở đây có nghĩa là đọc và tìm
hiểu kĩ sách giáo khoa, sau đó làm bài tập áp dụng rồi đến nâng cao.
Càng để lâu thì càng tốn nhiều thời gian và sức lực hơn để đạt cùng một
kết quả. Khi nghe giảng, khi mới bắt đầu tiếp cận với tri thức mới có
những điều sinh viên hiểu chưa kĩ, nếu học sớm thì kiến thức sẽ được
khôi phục rất nhanh, dể lâu sẽ dẫn đến mờ dần và không hiểu sẽ tốn rất
nhiều thời gian mà chưa chắc đã hiểu được bài học. Điều này là rất dễ
thấy nhưng sinh viên thường hay có thãi quen đợi đén khi nào gần thi rồi
học, thật không hợp lý. Vì vậy cần thật sớm, tốt nhất là ngay sau khi
phải ghi chú và gạch từng ý trong giáo trình cho sinh viên Từ thực tiễn
như hiện nay thì việc xây dựng một cách học tập tự giác là điều vô cùng
quan trọng đối với mỗi người sinh viên: học tập liên tục, học tập suốt đời,
học có trường, học có líp, có thầy, học không trường, học không líp,
17
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
không thầy, học trong sách báo, học trong thư viện, ở các câu lạc bộ, học
tập bạn bè Chính vì vậy, mỗi người sinh viên cần phải xác định cho
mình một phương pháp học tập chủ động, luôn tìm sách, báo, tài liệu để
phục vụ cho quá trình học tập và nghiên cứu và trong hoạt động nhận
thức của mình.
6> Phương pháp đối thoại giữa thầy và trò trong việc xây dựng bài
giảng.
Mục đích của phương pháp này là phát huy cao độ tính tích cực, tính
năng động, tính độc lập, sáng tạo của người học để họ có đủ tư cách giữ
vai trò trung tâm trong hoạt động dạy học của mỗi buổi giảng. Giáo viên
là người hướng dẫn tuyệt vời, như một nhạc trưởng lão luyện điều khiển
cả dàn hợp xướng. Do vậy, phương pháp này yêu cầu người giảng không
chỉ nắm vững vấn đề trình bày mà cần phải năng động, nhạy bén và sáng
tạo ngay trong một giê giảng. Trên cơ sở này người giảng đưa vấn đề
trình bày một cách tự nhiên, sinh động và đầy hứng thó vì trong bài giảng
có phần đóng góp ý kiến của sinh viên, có phần nhận thức của họ. Nhờ
vậy, các thắc mắc của sinh viên được giải toả ngay trong giê học. Chính
nhờ phương pháp này làm cho sinh viên rèn luyện được tính độc lập, tính
sáng tạo và sự tự tin khi trình bày ý kiến của mình trước đông người.
18
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
III. KẾT LUẬN:
Giáo dục phải làm nòng cốt xây dựng một xã hội học tập thành công.
Chúng ta đang bước vào một giai đoạn lịch sử mà nền văn minh trí tuệ