Báo cáo nghiên cứu khoa học " Vấn đề dân tộc và phương thức hình dung về cộng đồng dân tộc trong những chuyển biến của thế giới " - Pdf 21

Vấn đề dân tộc
và phương thức hình dung về cộng đồng dân tộc
trong những chuyển biến của thế giới

PGS.TS Phạm Hồng Tung
(Đại học Quốc gia Hà Nội)

1. Những làn sóng thức tỉnh dân tộc chủ nghĩa trong thế giới cận - hiện đại
Nhìn một cách khái quát có thể thấy trong lịch sử cận - hiện đại thế giới đã
xuất hiện ít nhất ba làn sóng thức tỉnh của chủ nghĩa dân tộc với bản chất và đặc
điểm khác nhau.
Làn sóng thứ nhất gắn với trào lưu các cuộc cách mạng nổ ra ở Tây Âu và
Bắc Mỹ trong các thế kỷ 17 và 18, điển hình nhất là các cuộc cách mạng Anh
(1642), cách mạng Pháp (1789) và cuộc đấu tranh giành độc lập, đưa tới sự ra đời
của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ (1776). Kết quả của làn sóng này là sự hình thành
các nhà nước - dân tộc hiện đại (nation-state), và có thể nói, trong nền chính trị thế
giới, đây là thời kỳ ra đời của khái niệm "chủ nghĩa dân tộc" (nationalism) với
những nội hàm được xác định, trở thành cơ sở để nhận thức, nhận dạng và phân
tích các hình thức khác nhau của "chủ nghĩa dân tộc" trong các giai đoạn lịch sử
sau này.
Sự ra đời của các nhà nước - dân tộc và chủ nghĩa dân tộc ở phương Tây
cũng gắn chặt với sự ra đời của chủ nghĩa thực dân (colonialism), với quan niệm
về "đế chế" (empire), do đó dẫn tới sự ra đời của chủ nghĩa đế quốc (imperialism).
Có thể nói xét về bản chất, chủ nghĩa dân tộc hiện đại ra đời ở phương Tây gắn rất
chặt với sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản. Vì thế, các nhà nước -
dân tộc ra đời ở phương Tây thời kỳ này là nhà nước dân tộc mang bản chất tư bản
chủ nghĩa. Chủ nghĩa tư bản bành trướng ra toàn thế giới, kéo những phần còn lại
của châu Âu và thế giới vào trong quỹ đạo phát triển của nó. Đó chính là căn
nguyên của quá trình hình thành và bành trướng của chủ nghĩa thực dân, dẫn tới sự
ra đời của một số đế chế, như Đế chế Anh, Đế chế Pháp, Đế chế Nga và Đế chế
Đức.

Trong quan hệ với các “mẫu quốc” trước đây, nhiều nước, sau khi giành
được độc lập, đã phải tiến hành một hay nhiều cuộc chiến tranh khốc liệt để bảo vệ
nền độc lập ấy, chống lại những cuộc chiến tranh tái chiếm thuộc địa của “mẫu
quốc”. Trong khi đó, một số nước lại lựa chọn tồn tại trong những loại quan hệ
phụ thuộc với các mức độ khác nhau vào “mẫu quốc”, trong đó khối
Commonwealth là một ví dụ cụ thể.
Về phía các đế chế thực dân cũ, làn sóng thức tỉnh dân tộc chủ nghĩa của
các thuộc địa trước đây đã làm tan rã hệ thống thuộc địa và do đó đã buộc các đế
chế này phải thay đổi cách định nghĩa về khái niệm dân tộc và chủ nghĩa dân tộc
cũng như sứ mệnh lịch sử của chính các đế chế.
Làn sóng thức tỉnh dân tộc chủ nghĩa thứ ba diễn ra ngay sau khi kết thúc
cuộc Chiến tranh lạnh và kéo dài cho tới tận ngày nay.
Ngay sau khi bức tường Berlin sụp đổ và Liên bang Xôviết lâm vào khủng
hoảng nghiêm trọng, một phong trào dân tộc chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ ở
Đông Âu mà xu hướng chung là thoát ly các ràng buộc với Liên bang Nga. Xu
hướng này rất điển hình ở các nước mà trước đó là các nước cộng hoà hoặc những
khu vực sắc tộc tương đối khu biệt của Liên bang Xôviết. Thậm chí, xu hướng dân
tộc chủ nghĩa ly khai này dẫn tới những cuộc chính biến (gần đây được gọi là
những cuộc "cách mạng màu") và những cuộc xung đột đẫm máu kéo dài. Tuy
nhiên, xu hướng dân tộc chủ nghĩa ly khai không chỉ diễn ra ở khu vực thuộc về
Liên Xô cũ, mà còn ở cả những nước Đông Âu khác. Đó là sự chia cắt Liên bang
Tiệp Khắc thành hai nước, Cộng hoà Séc và Slovakia; đó là cuộc xung đột đẫm
máu giữa các bộ phận trước đây thuộc về Liên bang Nam Tư. Ngay cả ở Ba Lan,
Rumania và Hungary trào lưu này cũng rất rõ nét. Duy chỉ có việc sát nhập Đông
Đức vào CHLB Đức là một ngoại lệ.
Làn sóng thức tỉnh dân tộc chủ nghĩa mới không chỉ bùng phát ở khu vực
Đông Âu mà còn xuất hiện và phát triển mạnh mẽ ở một số khu vực khác, đương
nhiên là với những bản chất và đặc điểm khác. Cuộc chiến tranh lạnh kết thúc
cũng có nghĩa là những khối liên minh chiến lược cũ không còn tồn tại. Các quốc
gia, dân tộc và những cộng đồng người trước đó là thành viên hoặc gắn chặt với

những hiện tượng đặc biệt của thế giới đương đại. Ngày nay, đặc biệt là từ sau
ngày 11 tháng 9 năm 2001, dù phát ngôn dưới hình thức nào thì dường như các
nước và các cộng đồng cư dân theo Hồi giáo đều bị ám chỉ là nơi xuất phát của tất
cả các phong trào vũ trang và các phần tử khủng bố tàn bạo, cực đoan nhất. Đó
thực sự là một thứ định kiến sai lầm. Còn sai lầm hơn nữa nếu người ta tìm cách
giải thích rằng tinh thần cuồng tín tôn giáo (religious fanaticism) là động cơ duy
nhất hay động cơ chủ yếu nhất của các hành vi khủng bố của các nhóm tín đồ Hồi
giáo vũ trang.
Nếu đặt tất cả những chuyển biến trong thế giới Hồi giáo vào trong bối
cảnh chung của sự thức tỉnh dân tộc chủ nghĩa và của những thay đổi trong quan
hệ quyền lực quốc tế như đã trình bày ở trên, thì có lẽ chúng ta sẽ nhận thức được
những chiều cạnh khác của cái gọi là "chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo". Theo cách
nhìn nhận đó thì những phản ứng của thế giới Hồi giáo là nhằm chống lại trật tự
thế giới do các nước phương Tây, chủ yếu là Mỹ, áp đặt cho toàn nhân loại sau
Chiến tranh lạnh. Đây chính là cách mà cộng đồng Hồi giáo bảo vệ những lợi ích
và hệ giá trị của họ mà họ cho là đang bị đe doạ bởi quá trình toàn cầu hoá theo
kiểu phương Tây. Theo ý nghĩa đó thì hiện nay lòng sùng tín tôn giáo cuồng tín
của tín đồ Hồi giáo và các tổ chức và phong trào vũ trang Hồi giáo đã trở thành
công cụ (chứ không phải là nguồn gốc hay là động cơ) của "chủ nghĩa dân tộc Hồi
giáo".
Trên đây là những nét khái lược về ba làn sóng thức tỉnh dân tộc chủ
nghĩa trên thế giới ở ba thời đại khác nhau. Để góp phần tìm hiểu thêm về bản chất
và đặc điểm của chủ nghĩa dân tộc ở phương Đông và Việt Nam, bài viết này xin
bàn kỹ hơn về một số vấn đề liên quan tới trường hợp Việt Nam.
2. Một số cách hình dung về cộng đồng dân tộc: trường hợp nghiên cứu Việt
Nam
Nếu chúng ta nhất trí rằng dân tộc là một cộng đồng người thì chúng ta
cũng phải đồng ý rằng cộng đồng dân tộc ấy phải được cố kết bởi những yếu tố và
những quan hệ nào đó.
Thuật ngữ "dân tộc" (nation) vốn bắt nguồn từ gốc từ latin cổ "natio".

trình Hán hoá. Dân tộc ấy lại có đủ sức mạnh để bảo vệ thành công nền độc lập tự
chủ trước hàng chục cuộc xâm lăng của các thế lực láng giềng phương Bắc, đồng
thời còn tiến từng bước về phía Nam, cuốn theo vào bản thân nó những cộng đồng
người khác vốn không phải người Việt, để hình thành một quốc gia - dân tộc Việt
Nam quân chủ thuộc loại hùng mạnh nhất Đông Nam Á vào khoảng đầu thế kỷ 19.
Trong thế kỷ 20, chính dựa trên sức sống mãnh liệt và độ cố kết cộng đồng cao mà
dân tộc Việt Nam đã lật nhào ách thống trị thực dân, vượt qua các thử thách của
hai cuộc chiến tranh cực kỳ khốc liệt.
Vậy cộng đồng dân tộc Việt Nam đã hình thành và phát triển dựa trên
những yếu tố nào? Hay nói cách khác, cơ sở của độ cố kết cộng đồng cao và sức
sống mãnh liệt của dân tộc Việt Nam là những yếu tố gì?
Trong một số nghiên cứu của mình một số học giả Việt Nam và nước ngoài
đã đưa ra ít nhất ba cách giải thích khác nhau.
Cách giải thích thứ nhất dựa trên cơ sở kinh tế hay nói chính xác hơn là
dựa vào phương thức tổ chức sản xuất của nền nông nghiệp trồng lúa nước. Đây là
cách giải thích của một số sử gia marxist Việt Nam được một số học giả nước
ngoài ủng hộ. Theo họ thì nền nông nghiệp trồng lúa nước, đặc biệt là việc xây
đắp và bảo vệ hệ thống đê điều và tưới tiêu đòi hỏi những hình thức lao động tập
thể và một cơ chế điều phối chung. Nhà nước và dân tộc đã ra đời trên cơ sở đó -
và đó là cơ sở quan trọng nhất.
Cách giải thích thứ hai dựa trên cơ sở tổ chức của các thiết chế xã hội. Đây
là cách giải thích có lẽ bắt nguồn từ các nhà khoa học Pháp nghiên cứu về Việt
Nam trong những năm 30, 40 của thế kỷ trước và có ảnh hưởng đến một thế hệ
học giả phương Tây sau này. Theo họ thì cấu trúc xã hội căn bản của người Việt
Nam là những cộng đồng và mối liên hệ giữa các cộng đồng đó với nhau. Những
cộng đồng quan trọng nhất là gia đình - làng - nước (dân tộc). Càng về sau, những
nghiên cứu theo hướng này tiếp cận các loại hình cộng đồng của người Việt theo
nhiều chiều khác nhau đã chỉ ra rằng bên cạnh ba loại cộng đồng "căn bản" trên
còn có nhiều cộng đồng khác phức tạp, đa dạng hơn, cùng tạo nên cơ sở cho của
cộng đồng dân tộc Việt Nam. Chẳng hạn, ngoài gia đình thì còn có họ tộc; ngoài

tộc (Nationalbewusstsein / national conciousness). Và đến lượt nó, tình cảm và ý
thức dân tộc lại chính là yếu tố quan trọng nhất tạo nên sức bền cố kết của một
cộng đồng dân tộc, nếu chúng ta đồng ý rằng cộng đồng dân tộc không thể chỉ là
những "cộng đồng số phận" (Schicksalsgemeinschaft / Community of destiny)
được hình thành bởi sức ép do các yếu tố bên ngoài tạo ra, mà phải là những cộng
đồng được hình thành và cố kết do nội lực được tạo ra bởi những yếu tố bên trong.
Vì thế, khi nghiên cứu và trình bày lịch sử của dân tộc Việt Nam nhất thiết phải
nghiên cứu và trình bày về tình cảm cộng đồng dân tộc và ý thức dân tộc của
người Việt Nam.
Cũng như bất cứ tình cảm cộng đồng và ý thức cộng đồng nào, dù là cộng
đồng nhỏ hay lớn, tình cảm và ý thức dân tộc thường được xây dựng trên cơ sở
câu trả lời của câu hỏi: ai, những người nào thuộc về cộng đồng của chúng ta?
Đối với thành viên của các cộng đồng nhỏ với các "tiêu chí thành viên" (criterions
of membership) tương đối rõ ràng, ví dụ như gia đình, làng, đảng, hội kín vv thì
việc trả lời câu hỏi trên không khó. Tuy nhiên, đối với "thành viên" của cộng đồng
dân tộc thì việc trả lời câu hỏi đó hoàn toàn không đơn giản, không chỉ bởi lẽ các
"tiêu chí thành viên" của loại cộng đồng này không thể và không bao giờ được
"công bố" rõ ràng. Hơn nữa, cũng hiếm khi có ai có thể kiểm soát xem ai đó,
nhóm nào đó có "đáp ứng" (qualified) được các "tiêu chí" đó hay không.
Tình hình trên đây càng trở nên khó khăn hơn đối với người Việt Nam,
nhất là trong các khoảng thời gian tiền cận đại. Do điều kiện giao thông liên lạc
kém phát triển và cũng do thói quen khép kín của các cộng đồng làng xã, hiếm khi
(và trên thực tế là không bao giờ) một người hay một nhóm nông dân ở Đồng bằng
Sông Hồng có thể có bất cứ liên hệ trực tiếp nào với đồng bào của họ ở Đồng bằng
Sông Cửu Long. Vậy, làm thế nào họ (trừ thế hệ của những người mới di chuyển
từ Bắc vào) biết, cảm nhận và ý thức được về quy mô, về các chiều cạnh văn hoá
tinh thần của dân tộc họ? Làm thể nào để họ ngầm hiểu rằng họ có những người
"đồng bào" ở cách xa họ như vậy? Và làm thế nào để họ biết rằng ở đầu kia của
Tổ Quốc các "đồng bào" của họ cũng đang nhận biết về sự tồn tại của họ ở đầu
này?

người Việt Nam hình dung về cộng đồng dân tộc mình. Một mô thức trình bày lịch
sử dân tộc Việt Nam điển hình là: Khởi nguồn từ nước Văn Lang của các vua
Hùng, rồi tiếp theo là nước Âu Lạc của An Dương Vương, rồi tiếp theo là thời kỳ
Bắc thuộc. Kỷ nguyên độc lập bắt đầu với nước Đại Cồ Việt của các triều đại
Đinh, Tiền Lê, rồi tiếp theo là nước Đại Việt của các triều Lý, Trần, Hậu Lê, rồi
tiếp đó là nước Việt Nam - Đại Nam của nhà Nguyễn. Sau thời kỳ Pháp thuộc,
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời và hiện nay là nước CHXHCN Việt
Nam.
Cách trình bày này được coi là một thứ lịch sử dân tộc "chính thống", và
nó đã được chấp nhận bởi nhiều thế hệ người Việt Nam mà cho tới gần đây dường
như không có bất kể sự phê phán đáng kể nào. Do vậy, có thể nói đây là mô thức
hình dung về cộng đồng dân tộc phổ biến nhất của người Việt Nam, xưa và nay.
Tuy nhiên, gần đây đã có một số cách nhận thức lại và trình bày lại về lịch sử dân
tộc Việt Nam.
Cách trình bày quen thuộc và "chính thống" đó là ví dụ điển hình của loại
phương thức hình dung loại trừ (exclusive imagination) về cộng đồng dân tộc Việt
Nam. Nói cho chính xác thì theo cách hình dung này thì cái gọi là "cộng đồng dân
tộc Việt Nam" chỉ có nghĩa là cộng đồng dân tộc của người Kinh, của bộ phận
người Việt ở vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ mà thôi. Trong
thứ cộng đồng tưởng tượng có tính cách loại trừ (exclusive imagined communitiy)
đó, vai trò và vị trí của những sắc tộc người thiểu số và những cộng đồng người đã
gia nhập vào cộng đồng dân tộc Việt Nam ở những thời điểm lịch sử muộn hơn,
như người Champa và người Phù Nam, Chân Lạp (khmer) là rất không rõ ràng và
không tương xứng. Nhìn lại, có thể thấy là cách thức hình dung này không phản
ánh đúng bản chất, sự hình thành và lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, cho
dù nó đã được diễn đạt bởi nhiều bộ sử đồ sộ, những áng văn thơ kiệt xuất hoặc
những nghi lễ tôn giáo lâu đời.
Nhiệm vụ của người nghiên cứu không những là phải vạch ra tính sai lầm
của cách hình dung nói trên, mà còn phải vạch ra những nguyên nhân đã dẫn tới
cách hình dung như vậy.

các dân tộc láng giềng, trừ Trung Hoa, đều bị coi như mọi rợ, kể cả người Tây
Dương đến Việt Nam buôn bán và truyền đạo từ thế kỷ 16, 17 trở về sau.
Trong thời kỳ Pháp thuộc (1858-1945) có ba yếu tố quan trọng đã ảnh
hưởng tới cách hình dung của người Việt Nam về cộng đồng dân tộc mình. Thứ
nhất, đó là chính sách thống trị của thực dân Pháp. Thứ hai là sự du nhập những
quan niệm về dân tộc và chủ nghĩa dân tộc từ phương Tây vào Việt Nam. Thứ ba
là sự phát triển mạnh mẽ của phong trào yêu nước, giải phóng dân tộc của chính
nhân dân Việt Nam.
Về yếu tố thứ nhất, có thể nói chính sách thống trị của thực dân Pháp có
ảnh hưởng không nhỏ đối với vấn đề hình dung về cộng đồng dân tộc của người
Việt Nam. Ở đây cần nhấn mạnh ba khía cạnh trong chính sách của người Pháp.
Trước hết là chính sách "chia để trị" (devide et empera). Thực ra đây là một chính
sách "cổ truyền" được các cường quốc thực dân áp dụng phổ biến ở nhiều xứ
thuộc địa, mục đích là làm cho dân chúng bản xứ bị chia rẽ, không thể đoàn kết lại
trong một cuộc đấu tranh tự giải phóng mình, đồng thời cũng tạo điều kiện thuận
lợi hơn cho việc quản lý hành chính đối với các xứ thuộc địa. Trong trường hợp
Việt Nam, sau khi hoàn thành công cuộc chinh phục vào năm 1884, thực dân Pháp
đã quyết định chia nước Việt Nam mới khôi phục được sự thống nhất hơn 50 năm
thành ba xứ Bắc Kỳ (Tonkin), Trung Kỳ (Annam) và Nam Kỳ (Cochinchine).
Đồng thời người Pháp lại đặt ba xứ đó dưới ba chế độ thống trị khác nhau: Nam
Kỳ là xứ thuộc địa, Trung Kỳ là xứ do triều Nguyễn cai trị dưới sự bảo hộ của
nước Pháp, còn Bắc Kỳ là xứ bảo hộ của nước Pháp. Như vậy, dưới ách thống trị
của thực dân Pháp những khác biệt vốn có trong lòng cộng đồng dân tộc Việt Nam
không những không được thu hẹp mà còn bị khơi rộng, khoét sâu thêm, khiến cho
người Việt Nam khó có một hình dung chung về cộng đồng dân tộc mình.
Khía cạnh thứ hai trong chính sách thống trị của thực dân Pháp dường như
trái hẳn với chính sách "chia để trị" nói trên, nhưng trên thực tế thì đó là "mặt bên
kia của một đồng xu", tức là việc người Pháp gộp cả ba "xứ" Bắc Kỳ, Trung Kỳ,
Nam Kỳ vào với Campuchia và Lào để thành lập Liên bang Đông Dương (Union
indochinoise) theo Sắc lệnh của Tổng thống Pháp ngày 17 tháng 10 năm 1887.

nghĩa với khái niệm “nòi giống” và “chủng tộc”. Do vậy, ở khía cạnh “nòi giống”
thì dân tộc Việt Nam đồng nghĩa với “nòi giống Việt” và do đó, sự hình dung của
họ về cộng đồng dân tộc vẫn mang tính chất loại trừ (exclusive imagination). Vì
vậy trong một tác phẩm tuyên truyền của mình Phan Bội Châu vẫn coi việc tổ tiên
người Việt thành công trong cuộc “chống Tống, bình Chiêm” là một niềm tự hào
dân tộc.[2] Thế nhưng ở khía cạnh “chủng tộc”, hình dung về dân tộc Việt Nam
của ông lại mang tính không loại trừ rõ rệt (supra-inclusive imagination). Dân tộc
Việt Nam được coi như một bộ phận khăng khít của chủng tộc da vàng, văn minh
sánh ngang với chủng tộc da trắng:
“Giống vàng, giống trắng tinh anh,
Giống đen, giống đỏ, giống xanh ngu hèn”.[3]
Và do đó, trong cuộc đấu tranh chống thực dân phương Tây dân tộc Việt
Nam phải giương cao ngọn cờ “ái chủng”, tìm bạn đồng minh ở những dân tộc
“đồng văn, đồng chủng, đồng châu”. Sự thất bại của phong trào Đông du và Duy
tân 1905-1908 cũng đánh dấu sự phá sản của quan niệm về dân tộc dưới ảnh
hưởng của chủ nghĩa Đác-uyn xã hội ở Việt Nam.
Sau Thế chiến I ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng phương Tây đối với
hình dung về dân tộc và chủ nghĩa dân tộc được biểu hiện rõ trong quan niệm của
các nhóm trí thức Tây học Việt Nam khác nhau. Căn cứ vào lập trường của họ đối
với chế độ thực dân Pháp, các nhóm trí thức Tây học thường được ghép vào thành
hai nhóm lớn: nhóm chủ nghĩa dân tộc cải lương và nhóm chủ nghĩa dân tộc cách
mạng.
Từ sau Thế chiến I tới trước Thế chiến II đã xuất hiện nhiều nhóm "dân tộc
chủ nghĩa cải lương" khác nhau. Ở Bắc Kỳ, tiêu biểu là nhóm do Phạm Quỳnh
đứng đầu, trong khi ở Nam Kỳ nhóm có ảnh hưởng lớn nhất là Đảng Lập hiến với
lãnh tụ là Bùi Quang Chiêu. Điểm chung nhất của nhóm này là họ không đấu tranh
lật đổ chế độ thực dân và giành độc lập cho dân tộc Việt Nam, ngược lại họ luôn
luôn thề thốt trung thành với "mẫu quốc". Cái mà họ đòi chỉ là các cải cách trong
khuôn khổ của chủ nghĩa thực dân và lòng nhân từ của "mẫu quốc". Cách mà họ
hình dung về "cộng đồng dân tộc" chỉ là hình dung về một bộ phận hợp thành của

quốc tế.
Dưới ảnh hưởng của học thuyết đấu tranh giai cấp, hình dung của những
người cộng sản, tuy tưởng chừng như đã được "quốc tế hoá" (internationalized)
cao độ, nhưng lại mang tính khu biệt, loại trừ rất khắt khe. Những gì không thuộc
về công nông thì đều không được coi là lực lượng cách mạng. Chính vì vậy, trong
tuyên truyền, tổ chức và vận động cách mạng từ 1930 đến 1939 những người cộng
sản đã bị sa vào chủ nghĩa bè phái, cô độc, và thực tế là đã bỏ rơi ngọn cờ dân tộc.
Bằng chứng là trong các tài liệu tuyên truyền của Đảng thời kỳ này hiếm khi thấy
những người cộng sản nhắc tới các biểu tượng dân tộc như Hùng Vương, Hai Bà
Trưng, Trần Hưng Đạo, con Lạc, cháu Hồng vv.[5]
Thế chiến II bùng nổ và với sự trở về của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Đảng
Cộng sản Đông Dương đã quyết định chuyển hướng chiến lược, giương cao ngọn
cờ dân tộc và đoàn kết mọi tầng lớp người Việt Nam yêu nước vì mục đích duy
nhất là đấu tranh giành độc lập dân tộc. Trên cơ sở đó, cách hình dung về cộng
đồng dân tộc của những người cộng sản Việt Nam đã thay đổi căn bản.
- Đó là cộng đồng của dân tộc Việt Nam. Với việc Hội nghị Trung ương 8
quyết định đặt vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng dân tộc trên bán đảo Đông
Dương mà giải quyết và với quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh, những
người cộng sản Việt Nam lần đầu tiên đã vượt qua được những rào cản do chính
sách dân tộc của thực dân Pháp đặt ra.
- Đó phải là một hình dung, một ý thức về một cộng đồng dân tộc thống
nhất, không loại trừ (inclusive and unified national community), trên cơ sở của
khối đại đoàn kết dân tộc của tất cả những người Việt Nam yêu nước, không phân
biệt nguồn gốc, chủng tộc, tôn giáo và địa vị kinh tế - xã hội.
- Đó phải là một dân tộc có quyền tự chủ, tức là với một nhà nước - dân tộc
hiện đại, với cư dân và lãnh thổ xác định và chủ quyền đầy đủ.
- Dân tộc đó là một bộ phận trong trào lưu tiến bộ của thời đại: độc lập, tự
chủ, dân chủ chống phát xít và chống xâm lược.
Có thể nói, tới tháng 5 năm 1941 hình dung của những người cộng sản là
tiêu biểu nhất, là đỉnh cao của quá trình hình thành ý thức và tình cảm dân tộc chủ

đất và trong quá trình tập thể hoá XHCN. Trong bối cảnh của cuộc đấu tranh quyết
liệt chống giặc ngoại xâm, cách trình bày lịch sử hình thành dân tộc cũng mang
nặng tính chất loại trừ. Lịch sử dân tộc Việt Nam dường như chỉ có một dòng
“chính thống” nối liền từ Văn Lang, Âu Lạc tới Đại Việt rồi Việt Nam. Hơn nữa,
trong bối cảnh của cuộc Chiến tranh lạnh, việc hình dung và xác định vị trí của
dân tộc Việt Nam trên thế giới cũng có những hạn chế. Trong khi nhấn mạnh rằng
Việt Nam là một thành viên của cộng đồng các nước XHCN, thì tính chất là một
thành viên của cộng đồng khu vực thường bị xem nhẹ.
Những hạn chế trên đây của cách hình dung về cộng đồng dân tộc của
người Việt Nam dần dần đã được khắc phục trong thời kỳ Đổi mới. Ngày nay, trên
tất cả các phương diện, cộng đồng dân tộc Việt Nam đã được hình dung như một
cộng đồng không loại trừ (inclusive imagined community). Điều này được thể hiện
rất rõ trong việc thừa nhận và phát huy cao độ những giá trị văn hoá đa dạng,
phong phú của tất cả các tộc người, các vùng miền; ở quyền tự do tín ngưỡng được
đảm bảo thực sự của mọi công dân; ở việc thừa nhận tư cách pháp nhân của các
thành phần kinh tế khác nhau. Đặc biệt là ở cách trình bày mới về lịch sử dân tộc.
“Dòng chính thống” vẫn được thừa nhận nhưng được quan niệm lại như là sự hợp
lưu, hoà quyện của các dòng chảy lịch sử, văn hoá của tất cả các tộc người, các bộ
phận từng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay. Do vậy mà ý thức về bản
sắc dân tộc, về chủ quyền quốc gia, về chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã được
nâng lên một tầm cao mới. Hơn nữa, với việc Việt Nam đang nỗ lực chủ động hội
nhập vào cộng đồng khu vực và thế giới, hình dung chung của người Việt Nam về
vị trí của dân tộc mình trong thế giới hiện đại cũng đổi mới và phù hợp với xu thế
tiến bộ của nhân loại. Nhờ đó, vị trí quốc tế và khu vực của Việt Nam ngày càng
được củng cố.
Với cách hình dung mới về cộng đồng dân tộc, ý thức mới về quốc gia –
dân tộc, Việt Nam ngày nay thống nhất và giàu sức sống, sức sáng tạo hơn bao giờ
hết, đang hoà nhập vào cộng đồng nhân loại trong thiên niên kỷ mới.

Hà Nội, tháng 1 năm 2006


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status