Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Quá trình gia nhập WTO đã tạo ra một sân chơi bình đẳng hơn cho các
doanh nghiệp trong nước cũng như doanh nghiệp nước ngoài. Đối với các
doanh nghiệp đang hoạt động, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân thì vấn đề
lợi nhuận luôn được đặt lên hàng đầu. Ngày nay, sự cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp trong việc tiêu thụ và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
nhằm tối đa hoá lợi nhuận ngày càng diễn ra gay gắt và quyết liệt hơn bao giờ
hết. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài luôn chiếm vị thế nhất định
so với các doanh nghiệp Việt Nam về nguồn lực tài chính, về khoa học công
nghệ và về công tác quản lý…. Bên cạnh đó là những khó khăn nhất định, các
doanh nghiệp muốn xâm nhập sâu, rộng vào thị trường Việt Nam buộc phải
hiểu kỹ hơn về môi trường kinh tế, chính trị, luật pháp, về văn hoá xã hội để
thấy được thị hiếu của người Việt. Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực phân phối các thiết bị công nghiệp thì việc nghiên cứu thị trường
Việt Nam là rất quan trọng để có thể đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm của
mình. Có một chiến lược hợp lý là điều mà các doanh nghiệp luôn luôn mong
đợi.
Công ty TNHH Thiết bị bán dẫn và đo lường điều biến độ rộng xung Phát
Minh – Chi nhánh Hà Nội là một doanh nghiệp ngoài quốc doanh được thành
lập vào tháng 09/2006. Đây là nhà phân phối được uỷ quyền tại Việt Nam của
hai tập đoàn sản xuất hàng đầu Nhật Bản là YASKAWA ELECTRIC chuyên
về biến tần(inverter), bộ điều khiển AC servo và TDK-LAMBDA chuyên về
bộ nguồn switching power supply, bộ lọc nhiễu(Noise Filter)… Được thành
lập muộn hơn so hai chi nhánh là chi nhánh TP Hồ Chí Minh và chi nhánh
Sinh viên: Ngô Thị Hồng Phương Lớp: Kế hoạch 46B
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Đồng Nai nhưng đây là một đơn vị hạch toán độc lập.Trong 2 năm hoạt động
tại thị trường Miền Bắc doanh số của chi nhánh liên tục tăng và đạt chỉ tiêu kế
hoạch: Trong năm 2006 doanh thu của chi nhánh là 120 nghìn USD, năm
công ty TNHH thiết bị bán dẫn và đo lường điều biến độ rộng xung Phát
Minh – chi nhánh Hà Nội.
Chương 2: Thực trạng thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty TNHH
thiết bị bán dẫn và đo lường điều biến độ rộng xung Phát Minh – chi nhánh
Hà Nội trong thời gian qua.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển thị trường tiêu thụ sản
phẩm ở công ty TNHH thiết bị bán dẫn và đo lường điều biến độ rộng xung
Phát Minh – chi nhánh Hà Nội.
Do còn nhiều hạn chế về kiến thức và những điều kiện khác trong quá
trình thực tập tại doanh nghiệp nên bài viết của em còn nhiều hạn chế. Em
mong nhận được sự góp ý kiến của các anh chị trong phòng kế hoạch của
doanh nghiệp, các thầy cô để bài viết của em được hoàn thiện hơn. Em xin
chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo TS. Nguyễn Thanh
Hà trong suốt thời gian qua để em có thể hoàn thiện bài viết này!
Sinh viên: Ngô Thị Hồng Phương Lớp: Kế hoạch 46B
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG 1: SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
TIÊU THỤ SẢN PHẨM Ở CÔNG TY TNHH THIẾT BỊ BÁN DẪN
VÀ ĐO LƯỜNG ĐIỀU BIẾN ĐỘ RỘNG XUNG PHÁT MINH –
CHI NHÁNH HÀ NỘI
1.1.THỊ TRƯỜNG VÀ ĐẨY MẠNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM:
1.1.1.Khái niệm:
1.1.1.1.Thị trường:
Theo quan niệm Marketing thị trường là nơi diễn ra các cuộc trao đổi giữa
người mua và người bán. Người mua là người có mong muốn, có khả năng
mua và sẵn sàng mua một sản phẩm nào đó. Người bán là người có khả năng
cung ứng và sẵn sàng cung ứng một sản phẩm nào đó.Như vậy, quy mô của
thị trường là phụ thuộc vào cầu của người tiêu dùng. Khi cầu của người tiêu
dùng về một sản phẩm nào đó là cao ( cầu về lương thực thực phẩm, cầu về
Doanh nghiệp nước ngoài cũng thuận lợi hơn khi đầu tư vào thị trường Việt
Nam bởi chính sách mở cửa đầu tư ngày càng hoàn thiện và thông thoáng
hơn. Chính điều đó đã gây ra khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam .
Thị trường luôn luôn diễn biến đầy phức tạp, khó dự đoán nên khi quyết
định đầu tư vào đâu các doanh nghiệp phải tìm hiểu thật kỹ yếu tố kinh tế, xã
hội, nhu cầu của chính cư dân sống trong vùng đó.
1.1.3. Phân loại thị trường:
1.1.3.1. Phân theo địa lý:
Tùy theo quy mô và tính chất của sản phẩm mà doanh nghiệp lựa chọn
vùng địa lý cho mình. Một doanh nghiệp có thể hoạt động trong một vùng địa
lý nhỏ hẹp nào đó( tỉnh, thành phố), một khu vực rộng lớn hơn( Miền Bắc,
Miền Trung, Miền Nam), một quốc gia hay mở rộng mạng lưới sang nhiều
quốc gia khác tùy theo quy mô, tuỳ theo tính chất sản phẩm mà mình có. Khi
Sinh viên: Ngô Thị Hồng Phương Lớp: Kế hoạch 46B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
quyết định chọn đâu là thị trường mục tiêu, doanh nghiệp cần phải hiểu thật
rõ thu nhập, nhu cầu, tâm lý… của khách hàng tại chính thị trường đó. Một
yếu tố cũng vô cùng quan trọng để doanh nghiệp quyết định nên đầu tư vào
đâu đó là địa hình. Ở những vùng có mạng lưới giao thông phát triển sẽ tập
trung rất nhiều doanh nghiệp hoạt động ở đó, đặc biệt là các doanh nghiệp
lớn. Ngược lại, những vùng mà khó khăn cho công tác vận chuyển sẽ có ít các
khu công nghiệp hơn, các doanh nghiệp sẽ phải cân nhắc nhiều bởi chi phí
vận chuyển là khá lớn. Ví dụ: những hãng sản xuất ôtô thì khách hàng mà họ
hướng tới đó là những người có thu nhập cao nên các đại lý của họ thường đặt
tại các thành phố lớn. Còn đối với các hãng sản xuất hàng hoá thông thường
như hãng chuyên sản xuất thức ăn cho gia súc như hãng Con Cò thì thị trường
mà nó hướng tới là các vùng nông nghiệp.
1.1.3.2. Phân theo yếu tố tâm lý:
Yếu tố tâm lý là vô cùng quan trọng. Nó giúp doanh nghiệp xác định một
- Khái niệm:
Như chúng ta đã biết môi trường vĩ mô là những nhân tố nằm ngoài
ngành nhưng lại có ảnh hưởng đến mức cầu của ngành đó và qua đó tác động
đến lợi nhuận của công ty trong suốt quá trình hoạt động. Những nhân tố này
biến động không ngừng tạo ra những cơ hội và thách thức với doanh nghiệp.
Thấy được tầm quan trọng của các nhân tố vĩ mô, các doanh nghiệp cần có
công tác dự báo thật chính xác sự biến động của môi trường vĩ mô để có một
chiến lược hợp lý.
- Đưa ra sơ đồ môi trường vĩ mô để phân tích:
Sinh viên: Ngô Thị Hồng Phương Lớp: Kế hoạch 46B
7
Các DN
nội bộ
Sản phẩm
thay thế
Nhà cung
cấp
Đối thủ
tiềm ẩn
Khách
hàng
Kinh tế
Chính trịXã hội
Công
nghệ
Các DN
nội bộ
Sản phẩm
thay thế
Nhà cung
cung ứng thiết bị công nghiệp phát triển.
+ Tỷ lệ lãi suất:
Tỷ lệ lãi suất sẽ tác động khá lớn đến mức cầu đối với sản phẩm của
doanh nghiệp.Khi lãi suất tiền gửi mà cao người tiêu dùng sẽ có nhu cầu tiết
kiệm nhiều hơn và tiêu dùng ít hơn( cắt giảm chi tiêu ). Đối với những khách
hàng thường xuyên vay tiền để thanh toán các khoản mua bán hàng hoá của
mình thì sự thay đổi của lãi xuất là vô cùng quan trọng( thị trường nhà cửa, ô
tô, trang thiết bị sản xuất…được bán theo phương thức trả chậm, trả
góp ).Còn đối với doanh nghiệp khi mà lãi suất tiền vay cao doanh nghiệp sẽ
dè dặt hơn khi vay tiền để mở rộng quy mô sản xuất( bởi nếu gặp phải rủi ro
trong kinh doanh thì doanh nghiệp khó có khả năng thanh toán các khoản nợ
của mình ).Khi lãi suất tiền vay cao sẽ ảnh hưởng đến chi phí về vốn, về mức
đầu tư. Doanh nghiệp phải hết sức thật trọng khi đưa ra chiến lược kinh doanh
của mình.Với mỗi mức vay khác nhau( vay 3 tháng, vay 6 tháng, 1 năm…)có
một mức lãi suất tiền vay khác nhau.
Trong thời gian qua mức lãi suất huy động từ 12% đã giảm xuống còn
11% kể từ ngày 02 -04 -2008., đây vẫn là một mức lãi suất rất cao. Trong
tháng 04-2008, lãi suất cho vay qua đêm ở mức 5%-7%/năm, kỳ hạn 1 tuần là
7%-7.5%/năm, tháng là 9%-10%/năm. Mức lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng
là 10.13% với ngân hàng thương mại nhà nước và 11.78% với ngân hàng
thương mại cổ phần.Lãi suất cho vay tại khối quốc doanh ngân hàng khoảng
14.6%, trung và dài hạn là khoảng 13.5%-16.2%. Mức lãi suất cho vay đã
giảm đi đáng kể.
+ Tỷ giá hối đoái:
Sinh viên: Ngô Thị Hồng Phương Lớp: Kế hoạch 46B
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tỷ giá hối đoái được hiểu là sự so sánh về giá trị giữa đồng tiền trong nước
với đồng tiền của nhiều quốc gia khác. Hàng hoá trong nước sẽ có sức cạnh
tranh lớn hơn nếu giá trị của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ là thấp hơn và
bởi mức cung tiền trong lưu thông và dư nợ tín dụng liên tục tăng từ năm
2004-2007 ).
1.2.1.1.2.Yếu tố chính trị của môi trường vĩ mô:
+ Về chính sách:
Các chính sách mà một quốc gia đặt ra có thể đem lại những thuận lợi
cũng như khó khăn đối với doanh nghiệp.Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp
nước ngoài trước khi quyết định có nên đăng kí hoạt động kinh doanh hay
không họ phải có những xem xét rất kỹ lưỡng về cơ chế, chính sách mà chính
phủ của quốc gia đó đề ra( những quy định của chính phủ về sử dụng lao
động, về thuế thu nhập doanh nghiệp….).
+ Về vai trò của chính phủ:
Chính phủ có vai trò vô cùng quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế. Lý
thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại cho rằng thị trường là yếu tố cơ bản điều
tiết hoạt động của nền kinh tế.Trong lịch sử hiện đại, chính phủ đóng vai trò
ngày càng nhiều. Khi mở rộng kinh tế thị trường đòi hỏi phải có sự can thiệp
của Nhà nước bởi những khuyết tật mà thị trường gặp phải..Trong nền kinh tế
thị trường chính phủ có 4 chức năng cơ bản: phân bổ nguồn tài nguyên hợp
lý, phân phối lại thu nhập, xác định các chính sách nhằm ổn định kinh tế vĩ
mô, thiết lập hệ thống pháp luật. Chính phủ sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các
doanh nghiệp có thể hoạt động tốt và phát huy một cách tối đa năng lực của
mình. Đồng thời, chính phủ cũng đưa ra những định hướng cơ bản cho nền
kinh tế nên ưu tiên những gì trong từng thời kỳ nhất định. Chính phủ sẽ điều
tiết nền kinh tế thông qua các công cụ của mình như: Thuế, tín dụng, trợ
giá…
Sinh viên: Ngô Thị Hồng Phương Lớp: Kế hoạch 46B
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.2.1.2. Môi trường luật pháp:
+ Cải cách hành chính:
Công tác cải cách hành chính mà trước hết là các thủ tục hành chính đã
- Tạo sân chơi bình đẳng không phân biệt đối xử đối các loại hình doanh
nghiệp dẫn đến rất nhiều doanh nghiệp chuyển sang hoạt động theo Luật
Doanh Nghiệp.
- Phát triển đáng kể sức cạnh tranh, một nhân tố không thể thiếu trong nền
KTTT đặt ra yêu cầu thúc đẩy phát triển không chỉ thị trường sản phẩm, dịch
vụ mà còn thị trường khác.
- Quyền tự do kinh doanh được thừa nhận và bảo đảm kết hợp với thay đổi
tích cực của hệ thống pháp luật về kinh doanh tạo điều kiện tích cực để chủ
động hội nhập vào nền kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên bên cạnh đó còn nhiều hạn chế cần giải quyết:
+ Tác động của Luật Doanh Nghiệp chưa đều giữa các khu vực, còn nhiều
rào cản đối doanh nghiệp sau khi đăng ký kinh doanh nhất là trong huy động
vốn và tiếp cận được với mặt hàng kinh doanh, trong tính thuế và nộp thuế.
+ Sự phối hợp giữa Nhà Nước chưa đều còn một số văn bản chưa ban hành.
Các văn bản về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh
vẫn chưa tập hợp thành hệ thống thẩm quyền, thủ tục và điều điện cấp giấy
phép kinh doanh còn bất cập.
+ Cơ quan đăng ký kinh doanh của cả TW, tỉnh còn yếu chưa hoàn thành
nhiệm vụ, quản lý nhà nước còn lúng túng.
+ Tất cả những thay đổi trong Luật Doanh Nghiệp đều có ảnh hưởng trực tiếp
đến việc kinh doanh của doanh nghiệp trong thời gian tới
1.2.1.3. Môi trường văn hóa, xã hội:
1.2.1.3.1. Yếu tố văn hoá:
Sinh viên: Ngô Thị Hồng Phương Lớp: Kế hoạch 46B
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Văn hoá là một khái niệm đa nghĩa. Nếu các nhà triết học cho rằng: văn
hoá là những giá trị vật chất, giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra trong
suốt quá trình lịch sử và nó đặc trưng cho trình độ đạt được trong sự phát triển
lịch sử của xã hội.Còn theo UNESCO định nghĩa: văn hoá là những sáng tạo
tiết kiệm hơn nguồn nguyên liệu…).. Khoa học và công nghệ sẽ giúp các
doanh nghiệp gia tăng sức cạnh tranh của mình. Trong quá trình hoạt động
sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp nào cũng mong muốn tối đa hoá lợi nhuận.
Muốn vậy, các doanh nghiệp cần phải tối đa hoá doanh thu và tối thiểu hoá
chi phí đầu vào. Doanh nghiệp sẽ bán được nhiều sản phẩm hơn khi mà chất
lượng sản phẩm được nâng cao hơn( nhiều tính năng hơn, bền hơn…), bao bì,
mẫu mã được cải thiện và bắt mắt hơn. Tất cả sẽ thành hiện thực khi có sự tác
động mạnh mẽ của khoa học và công nghệ. Doanh nghiệp sẽ đủ sức và sẵn
sàng tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường khi có trong tay những bí
quyết công nghệ và vị thế của họ sẽ được nâng cao( sự gia tăng thị phần so
với đối thủ cạnh tranh ).
1.2.2. Môi trường vi mô( môi trường ngành ):
Đưa ra mô hình 5 áp lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp:
Sinh viên: Ngô Thị Hồng Phương Lớp: Kế hoạch 46B
Cạnh tranh
nội bộ
Đối thủ
tiềm ẩn
Khách hàng
Nhà cung cấp
Sản phẩm
thay thế
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.2.2.1.Đối thủ cạnh tranh (các công ty trong ngành):
Đây là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hoạt động trong ngành. Các
doanh nghiệp cần hiểu rằng đối thủ cạnh tranh thực tiếp của mình chính là các
doanh nghiệp trong ngành. Tính chất của cuộc cạnh tranh có gay gắt hay
không phụ thuộc nhiều vào cấu trúc của ngành( số lượng, quy mô của các
doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành ).
động khi mà hợp đồng của họ với công ty chưa kết thúc ), thứ hai là vấn đề uy
tín, vị thế thị trường, thứ ba là rào cản về mặt thiết bị, máy móc mang tính đặc
thù của ngành( các thiết bị này chuyên dùng để sản xuất ra một sản phẩm nào
đó, khi chúng được đưa vào ngành khác không thể sử dụng được nên công ty
không thể bán chúng. Công ty sẽ chịu một khoản thiệt hại lớn từ máy móc,
thiết bị này ). Thứ tư là do sức ép từ phía chính phủ và người lao động. Có
những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh thua lỗ nhưng buộc vẫn phải giữ
lại. Thứ năm là do ràng buộc về mặt chiến lược, nhất là những ngành mang
tính chất bổ trợ lẫn nhau.
1.2.2.2. Nhà cung cấp:
Nhà cung cấp là người nắm trong tay quyền lực đàm phán. Mức độ ảnh
hưởng của nhà cung cấp đến doanh nghiệp lớn hay nhỏ phụ thuộc rất lớn vào
quy mô tương đối của doanh nghiệp và nhà cung ứng. Khi mà số lượng của
doanh nghiệp là lớn, nhà cung ứng là ít hơn thì quyền lực đàm phán của nhà
cung ứng tăng lên đáng kể. Trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp muốn
chuyển đổi nhà cung ứng cũng rất khó khăn bởi chi phí chuyển đổi là rất lớn.
Đối với những sản phẩm mà doanh nghiệp cần mua nhưng lại có rất ít sản
phẩm có thể thay thế được thì doanh nghiệp phải chịu rất nhiều sức ép từ giá
của nhà cung cấp.
Sinh viên: Ngô Thị Hồng Phương Lớp: Kế hoạch 46B
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.2.2.3. Khách hàng:
Người mua là cái đích mà tất cả các doanh nghiệp đều hướng tới. Doanh
nghiệp sản xuất ra sản phẩm là để thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Khách
hàng nắm trong tay quyền lực đàm phán. Nếu quyền lực đàm phán của khách
hàng là lớn thì doanh nghiệp sẽ gặp phải nhiều khó khăn hơn cho việc bán sản
phẩm trên thị trường và ngược lại. Đối với những loại hàng hoá mà có nhiều
sản phẩm thay thế như café, đường…thì quyền lực đàm phán từ phía khách
hàng là khá lớn. Nếu số lượng khách hàng là lớn, trong khi chỉ có một số ít
nghiệp muốn tạo dựng hình ảnh, uy tín của mình buộc sản phẩm của họ phải
được kiểm chứng qua thời gian. Khi khách hàng đã trở nên khá thân thiết với
sản phẩm của doanh nghiệp rất khó để có thể thuyết phục họ dung sản phẩm
khác. Đối với thị trường xe gắn máy ở Việt Nam, người tiêu dùng đã quá
quen thuộc với dòng xe của các hãng lớn như Honda, Yamaha bởi chất lượng,
dịch vụ, mẫu mã. Một điều khá quan trọng khiến doanh nghiệp gần gũi với
khách hàng hơn đó là công tác PR( hãng xe Honda đã làm rất tốt điều này ).
1.2.2.5 Sản phẩm thay thế:
Sản phẩm thay thế được hiểu là những sản phẩm của ngành khác nhưng
lại có khả năng thoả mãn cùng một nhu cầu với sản phẩm hiện tại của ngành
như chè là sản phẩm thay thế của café, bia là sản phẩm thay thế của rượu…
Đối với một doanh nghiệp chuyên sản xuất và cung ứng loại sản phẩm mà có
nhiều sản phẩm thay thế thì họ sẽ phải chịu một áp lực khá lớn. Lợi nhuận, thị
phần của công ty sẽ sụt giảm đáng kể nếu người tiêu dùng thay đổi sở thích
của mình( thay vì uống café họ chuyển sang uống chè và các loại nước giải
khát khác ). Lúc này, buộc các doanh nghiệp phải thay đổi chiến lược của
mình. Họ có thể dùng một vài hình thức như khuyến mãi lớn, giảm giá hàng
bán, thay đổi mẫu mã, bao bì cho sản phẩm của mình.
Sinh viên: Ngô Thị Hồng Phương Lớp: Kế hoạch 46B
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.2.3.Các nhân tố thuộc về chính bản thân doanh nghiệp:
1.2.3.1. Tiềm lực tài chính:
Doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại và phát triển khi có tiềm lực tài chính.
Hàng năm, doanh nghiệp hoạt động và thu về lợi nhuận. Nguồn lợi nhuận mà
doanh nghiệp có được dùng để chia cho các cổ đông, dùng để tái đầu tư nhằm
mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Hàng năm, các doanh nghiệp đều đưa
ra kế hoạch tài chính bởi mục đích của kế hoạch tài chính là xây dựng hệ
thống quản lý tài chính hiệu quả để đạt được các mục tiêu chiến lược của
doanh nghiệp.
SẢN PHẨM Ở CÔNG TY TNHH THIẾT BỊ BÁN DẪN VÀ ĐO
LƯỜNG ĐIỀU BIẾN ĐỘ RỘNG XUNG PHÁT MINH - CHI NHÁNH
HÀ NỘI
1.3.1. Do ngành nghề kinh doanh và chức năng của công ty:
+ Ngành nghề kinh doanh:
+ Mua bán thiết bị máy móc ngành công nghiệp, đo lường, điện tử, bán dẫn
(không tái chế phế thải, phi mạ điện, gia công cơ khí tại trụ sở).
+ Đại lý mua bán, ký gửi hàng hoá ( doanh nghiệp chỉ kinh doanh khi có đủ
điều kiện theo quy định của pháp luật).
+ Dịch vụ kỹ thuật: thiết kế và lắp đặt các hệ thống tự động, hệ thống hoạt
động đồng bộ nhiều biến tần và các dự án về nguồn điện… theo yêu cầu của
khách hàng; bảo trì, sửa chữa các loại máy móc thiết bị đo lường, biến tần, bộ
nguồn, UPS của tất cả các nhãn hiệu khác trên thế giới( với quy trình sửa
chữa chuyên nghiệp, kỹ thuật viên nhiều kinh nghiệm được đào tạo bởi
YASKAWA ENGINEERING & NEMIC- LAMBDA dưới sự giám sát của
các chuyên gia Nhật Bản tại công ty cùng sự hỗ trợ của các thiết bị đo lường
Sinh viên: Ngô Thị Hồng Phương Lớp: Kế hoạch 46B
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chính xác cao độ, máy móc sau khi sửa chữa luôn đạt đến chuẩn mực cao
nhất.
+ Chức năng của công ty:
- Cung cấp thiết bị và dây chuyền sản xuất tự động hoá cho các xí nghiệp
hoạt động trong các khu công nghiệp: Khu công nghiệp Đại An, Quế Võ, Từ
Sơn, Phố Nối A…
- Phân phối thiết bị sản phẩm của hai thương hiệu hàng đầu Nhật Bản là
YASKAWA ELECTRIC, TDK-LAMBDA
1.3.2. Do thị phần của công ty:
Hiện nay, thị phần mà Chi nhánh có được là 3%.Với khoảng 40 công ty
hoạt động trong lĩnh vực này tại khu vực thị trường phía Bắc thì việc mở rộng
động, các sản phẩm YASKAWA luôn đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật cao
nhất với tiêu chuẩn chất lượng và giá cả hợp lý.
- TDK-LAMBDA là chuyên gia về bộ nguồn switching power supply, bộ lọc
nhiễu(Noise Filter)…TDK-LAMBDA cung cấp các sản phẩm cho mọi ứng
dụng khả thi và mọi nhu cầu của khách hàng. Doanh nghiệp luôn luôn tận tâm
trong vai trò của người tiên phong về kỹ thuật, TDK-LAMBDA sẽ tiếp tục
mở rộng các ứng dụng cho những giải pháp về nguồn điện.
Sinh viên: Ngô Thị Hồng Phương Lớp: Kế hoạch 46B
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sau 1 năm triển khai hoạt động tại thị trường Việt Nam mà chủ yếu là ở
Miền Nam công ty đã bước đầu có được sự thuận lợi nhất định , công ty quyết
định mở thêm những chi nhánh mới nhằm mở rộng mạng lưới phân phối trên
toàn quốc.
+ Đến 12/2004 công ty quyết định mở thêm một chi nhánh mới tại Đồng Nai.
+ Đến 09/2006 chi nhánh mới tại thành phố Hà Nội được thành lập với
người đại diện doanh nghiệp- chi nhánh Hà Nội là Ngô Văn Lưu. Trụ sở của
chi nhánh được đặt tại Phòng 1412-17T10 - Trung Hoà - Nhân Chính( Số
điện thoại:04.2811365 )
2.1.2.Sản phẩm kinh doanh:
Các thiết bị máy móc ngành công nghiệp như:
- Bộ nguồn LCS Power supplies với các sản phẩm: LCS 35-5,LCS
35-12,LCS 35-24,LCS 50-5,LCS 50-12,LCS 50-24,LCS 100-5,LCS
100-12,LCS 100-24.
- Bộ lọc nhiễu Noise Filter với các sản phẩm: PBF series( PBF- 1206- 22…).
Đây là thiết bị được thiết kế thoả mãn các tiêu chuẩn EM như: VCCI, CISPR,
VDE…sản phẩm này có chức năng làm giảm nhiễu do truyền dẫn và bức xạ
trên đường vào từ bộ nguồn, nó là đầu nối đơn giản với thiết kế nhỏ gọn dễ
tháo lắp bằng jack ghim, MBS1210- 22, MC12 Series, MAS Series,MX 13
series( đây là một sản phẩm thuận tiện để gắn trong tủ điều khiển, ứng dụng
hàng bán 290 682 1013 1395 1950
lợi nhuận
trước thuế
và lãi vay
85 198 287 405 550
Lãi tiền
vay
10 22 27 45 50
Lợi nhuận
Sinh viên: Ngô Thị Hồng Phương Lớp: Kế hoạch 46B
25