i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
LÊ VĂN LIÊM
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH CUNG CẤP VÀ SỬ DỤNG THỨC ĂN
TRONG NUÔI TÔM CÀNG XANH, CÁ TRA VÀ CÁ LÓC Ở
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS LÊ XUÂN SINH
2007
iiiXÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
Luận văn kèm theo đây với tựa đề là: “Khảo sát tình hình cung cấp và sử dụng
thức ăn trong nuôi tôm càng xanh, cá Tra và cá Lóc ở Đồng bằng sông Cửu
Long” do Lê Văn Liêm, học viên lớp Cao học Nuôi trồng Thủy sản - khóa 11
thực hiện và báo cáo đã được Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp cao học
thông qua.
Ủy viên Ủy viên, thư ký
Ts. Lê Xuân Sinh Ts. Phạm Văn Khánh
làm đề tài trên địa bàn các tỉnh này.
Sau cùng là lời cảm ơn đến gia đình và những người thân, bạn bè đã giúp đỡ
tôi rất nhiều trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Lê Văn Liêm
v
KÍNH TẶNG
vi
TÓM TẮT
Nuôi cá nước ngọt có tiềm năng lớn góp phần quan trọng trong phát triển kinh
tế xã hội ở Đồng bằng sông Cửu Long, các mô hình nuôi thủy sản tăng nhanh
và đa dạng dẫn đến việc cung cấp và sử dụng thức ăn trong quá trình nuôi
trồng thủy sản cần được xem xét trên một số mô hình nuôi.
Nghiên cứu này được thực hiện thông qua khảo sát 33 cơ sở nuôi cá Tra
(Pangasius hypophthalmus) thâm canh, 45 hộ nuôi tôm càng xanh
(Macrobrachium rosenbergii), 46 hộ nuôi cá Lóc (Channa striata), 19 nhà
máy sản xuất và Đại lý kinh doanh thức ăn NTTS. Thời gian nghiên cứu được
tiến hành từ tháng 11 năm 2006 đến tháng 10 năm 2007 trên địa bàn 3 tỉnh An
Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ. Nghiên cứu này nhằm đánh giá tình hình cung
cấp và sử dụng thức ăn cho nuôi trồng thủy, sản góp phần cải thiện hiệu quả
kinh tế - kỹ thuật các mô hình nuôi.
Đại lý cung cấp và kinh doanh thức ăn cho NTTS hàng năm bán ra bình quân
1.656 tấn TACN. Giá TACN dao động trong khoảng 5.990 - 7.000đ/kg. Với
nhà máy chế biến thức ăn thủy sản sản xuất bình quân 44.000 tấn/năm. Giá
TACN bán ra từ nhà máy sản xuất cho Đại lý và người nuôi dao động từ 5.000
- 6.780 đ/kg.
Mô hình nuôi cá Tra sử dụng trung bình 409±268 tấn TACN và 152±543 tấn
152±543 tones/ha/crop respectively. In term of prawn culture, golden snail,
pellet and trash fish with rates 21,366kg /crop/ha (89.7%), 2,020 kg/ha/crop
(8.5%) and trash fish was 364 kg/ha/crop respectively. Snakehead culture used
166±120 by-product from frozen factories and 241±275 kg/ha/crop.
The best duration for catfish culture was 5 - 6 months, in term of early or late
in harvesting were less economic effectives.
FCR for catfish, snakehead, and prawn culture were 1.75±072, 3.49±0.65 and
12.53±11.10 respectively. Research also found that needs more studying to
enhance ratios of trash fish in prawn culture, pellet need to be managed strictly
to limits products with low quality on market, need to research more on using
pellet to reduce impacts on the environment planning in exploiting fresh water
resource are necessary.
Keywords: feeding, feed, snakehead, prawn, catfish
viii
LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan luận văn này được hoàn thành dựa trên kết quả nghiên cứu
của chính tôi với sự hướng dẫn và giúp đỡ của các thầy cô và các bạn học
viên Cao học khóa 10 và 11 trong Khoa Thủy sản, trường Đại học Cần Thơ,
các anh chị em thuộc sở NN&PTNT 3 tỉnh Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp.
Các kết quả của nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp
nào.
Lê Văn Liêm
Ngày 05 tháng 12 năm 2007
ix
4.2. Thông tin từ các cơ sở nuôi trồng thủy sản 28
4.2.1. Thông tin chung về hộ nuôi trồng thủy sản 28
4.2.2. Thông tin về con giống 29
4.2.3. Thông tin kinh tế - kỹ thuật của các mô hình nuôi thủy sản 31
4.3. Thông tin về thức ăn trong nuôi trồng thuỷ sản 33
4.3.1. Các loại thức ăn được sử dụng phổ biến trong các mô hình nuôi 33
4.3.2. Lượng thức ăn sử dụng/ha/vụ hay /m
2
/vụ 35
4.3.3. Nguồn cung cấp của các loại thức ăn 37
4.4. Hiệu quả kinh tế kỹ thuật của các mô hình nuôi 40
4.5. Các y
ếu tố ảnh hưởng đến năng suất, lợi nhuận của các mô hình 41
4.5.1. Tương quan đa biến về NS và LN của mô hình nuôi TCX 41
x
4.5.2. T
ương quan đa biến về NS và LN của mô hình nuôi cá Tra 43
4.5.3. Tương quan đa biến về NS và LN của mô hình nuôi cá Lóc 45
4.5.4. Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến các mô hình nuôi 47
4.6. Ảnh hưởng của việc sử dụng các loại thức ăn đối với cạnh tranh thực phẩm, ô
nhiễm môi trường và sử dụng lao động 49
4.6.1. Cạnh tranh về thực phẩm cho cộng đồng khi sử dụng thức ăn TS 49
4.6.2. Khả năng gây ô nhiễm môi trường khi sử dụng thức ăn thuỷ sản 49
4.6.3. Tác động của các loại thức ăn đến việc sử dụng lao động 50
4.6.4. Một số đề xuất/giải pháp, hạn chế, tác động của thức ăn đến môi trường,
thực phẩm và sử dụng lao động 51
CHƯƠNG V : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 52
5.1. Kết luận 52
5.2. Đề xuất 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Hình 2.1: Sản lượng nuôi trồng và khai thác ở Việt Nam 4
Hình 2.2: Sản lượng nuôi trồng và diện tích nuôi ở Việt Nam 5
Hình 2.4: Mô hình nuôi cá Tra trong ao ở ĐBSCL 9
Hình 2.5: Mô hình nuôi tôm càng xanh trong ao, ruộng ở ĐBSCL 11
Hình 2.6: Mô hình nuôi cá Lóc và thị trường nội địa ở ĐBSCL 13
Hình 2.7: Nuôi trồng thủy sản và sử dụng thức ăn ở ĐBSCL 15
Hình 2.8: Nguyên liệu cá tạp từ các vựa phân phối cho các vùng NTTS 17
Hình:2.9: Nguyên liệu cá tạp từ các tàu khai thác phân phối cho các vùng NTTS 17
Hình1.10: Nguyên liệu cá tạp được nông hộ tự chế thức ăn cho NTTS 18
Hình 3.1: Bản đồ Đồng bằng sông Cửu Long 1
Hình 4.1: Sơ đồ phân phối thức ăn cho NTTS nước ngọt 25
Hình 4.2: Tháng cá tạp được bán nhiều trong năm (al) 26
Hình 4.3: Tỉ lệ các loại thức ăn được các Đại lý bán trên thị trường 27
Hình 4.4 : Các loại thức ăn được sử dụng trong nuôi cá Tra 33
Hình 4.5 : Các loại thức ăn được sử dụng trong nuôi TCX 34
Hình 4.6: Tỷ lệ các hộ sử dụng các loại thức ăn trong nuôi TCX 34
Hình 4.7: Tỷ lệ các hộ sử dụng các loại thức ăn trong nuôi cá Lóc 35
Hình 4.8: Tỷ lệ % lượng các loại thức ăn trong nuôi TCX 36
Hình 4.9: Lượng các loại thức ăn sử dụng/m
2
/vụ trong nuôi cá Lóc 37
Hình 4.10: Tỷ lệ nguồn cung cấp của TACN trong nuôi TCX (a) và cá Tra (b) 38
Hình 4.11: Tỷ lệ nguồn cung cấp OBV 38
Hình 4.12: Tỷ lệ nguồn cung cấp cá tạp biển (a) và cá tạp nước ngọt (b) 39
Hình 4.14 : Tổng Chi phí của mô hình nuôi cá Tra (a), TCX (b) và cá Lóc (c) 41
Hình 4.15a;b: Ảnh hưởng của Mật độ, % lượng TATS lên NS và LN của TCX 43
Hình 4.16a;b: Kích cỡ giống và mật độ thả nuôi ảnh hưởng đến NS và LN mô hình
cá Tra 44
TACN Thức ăn công nghiệp
TATS Thức ăn tươi sống
TC Total Costs (Tổng chi phí)
TCX Tôm càng xanh
TFC Total Fixed Costs (Chi phí cố định)
TP Thành phố
TR Total Revernue (Tổng thu nhập)
TVC Total Variable Costs (Chi phí biến đổi)
1
CHƯƠNG I
GIỚI THIỆU
Đất nước Việt Nam với mạng lưới sông ngòi chằng chịt kéo dài từ Lạng Sơn
đến mũi Cà Mau, có tiềm năng lớn cho phát triển nuôi trồng thủy sản (NTTS),
với 1.692.878 ha diện tích mặt nước, trong đó 911.740 ha diện tích mặt nước
ngọt và 761.138 ha diện tích mặt nước mặn lợ (Bộ Thủy sản, 2003). Diện tích
NTTS năm 2002 là 955.101 ha, sản lượng 976.100 tấn, trong đó NTTS nước
mặn, lợ là 530.000 ha, nước ngọt là 425.000 ha với nhiều đối tượng và mô
hình nuôi khác nhau (Bộ Thủy sản, 2003). Năm 2004 cả nước có 110.832
trang trại và năm 2005 tăng lên 119.586 trang trại. Bên cạnh đó, diện tích
NTTS cũng tăng lên qua các năm, năm 2004 cả nước có 920.100 ha diện tích
mặt nước dùng cho NTTS, năm 2005 tăng lên 959.900 ha (Niên giám thống
kê, 2005).
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), có nhiều dạng hình thủy vực rất thuận
lợi cho (NTTS), diện tích đất tự nhiên của ĐBSCL là 3,96 triệu ha. Năm 1995,
diện tích mặt nước NTTS của ĐBSCL là 189.400 ha, đến năm 2003 đã là
614.600 ha và theo định hướng quy hoạch đến năm 2010 sẽ là 649.430 ha (Bộ
Thủy sản, 2005).
Trong những năm gần đây, nghề nuôi thủy sản ở ĐBSCL đã có bước phát
hiện.
Mục tiêu của đề tài
Đề tài này nhằm phân tích và đánh giá tình hình cung cấp và sử dụng thức ăn
để góp phần cải thiện hiệu quả kinh tế - kỹ thuật trong các mô hình nuôi thủy
sản Tôm càng xanh, cá Tra và cá Lóc tại vùng nước ngọt của ĐBSCL.
Nội dung nghiên cứu
Đề tài được thực hiện với các nội dung sau:
- Phân tích và đánh giá tình hình cung cấp thức ăn cho NTTS ở địa bàn nghiên
cứu.
- Khảo sát thu thập thông tin về các mô hình nuôi tôm càng xanh (ao, ruộng),
cá Tra và cá Lóc ở ĐBSCL (An Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ).
- Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng thức ăn trong các mô hình nuôi được
nghiên cứu.
- Tìm hiểu khả năng cạnh tranh về thực phẩm cho cộng đồng, sử dụng lao
động và khả năng gây ô nhiễm.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế -
kỹ thuật của các mô hình nuôi qua cải tiến khâu cung cấp và sử dụng thức ăn.
3
CHƯƠNG II
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1. Tình hình phát triển thủy sản trên thế giới
Nguồn lợi và sản phẩm thủy sản mang lại từ các hoạt động nuôi trồng thủy
sản, bảo vệ và khai thác hợp lý từ con người đã đóng góp tích cực vào sự an
toàn thực phẩm cho con người trên khắp các châu lục. Tổng sản phẩm thủy
sản thế giới năm 2001 ước đạt 128,8 triệu tấn trong đó nuôi trồng là 37,5 triệu
tấn. Năm 2002 tổng sản lượng thủy sản thế giới là 133 triệu tấn trong đó sản
lượng nuôi trồng là 51,4 triệu tấn (Lowther, 2004).
Các thuộc địa cũ của Pháp như Tahiti, Martineque, Guadeloup, Guyana,
nuôi tôm càng xanh theo 2 phương pháp là nuôi gián đoạn và nuôi liên tục
Nam (Dương Nhựt Long và ctv., 2000; Nguyễn Văn Bá và ctv., 2003).
Theo FAO (trích bởi Lê Xuân Sinh, 2005) đã tổng hợp thông tin cho thấy phát
triển ngành thủy sản vào những năm cuối của thập niên 90, tỷ lệ sản lượng
thủy sản đã nâng lên 30% trong tổng sản lượng của các ngành chăn nuôi khác.
Trong các thập niên qua cho thấy xu thế tăng trưởng của sản phẩm nuôi trồng
thủy sản trong tổng sản lượng thủy sản của cả thế giới là rất đáng kể, đặc biệt
là năm 2000 - 2001 và dự đoán tổng sản lượng thủy sản thế giới tới năm 2010
có thể theo 2 hướng bi quan và lạc quan và sản lượng thủy sản nằm trong
khoảng 107 - 144 triệu tấn. Tuy nhiên, sản lượng thủy sản trong những năm
qua có chiều hướng tăng do phát triển mạnh việc nuôi trồng thủy sản hoàn
toàn tin tưởng vào khả năng lạc quan 144 triệu tấn là hoàn toàn có thể thực
hiện được.
2.2. Tình hình phát triển thủy sản Việt Nam
Ở Việt Nam trong thập niên 90 cũng như ba năm đầu thế kỷ 21, sản lượng
thủy sản nuôi trồng tương tự có tốc độ tăng trưởng rất cao, vượt xa tốc độ tăng
trưởng của khai thác. Từ năm 1990 - 2000, Việt Nam đã trở thành một trong
10 nước có sản lượng cá nuôi lớn nhất thế giới, sau Trung Quốc, Ấn Độ,
Indonesia, Nhật Bản, Thái Lan, Bangladesh (Bộ Thủy Sản, 2006).
Sản lượng (1000 tấn)
0
500
1000
1500
2000
2500
3000
3500
4000
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2010
Sản lượng khai thác Sản lượng nuôi trồng Tổng sản lượng
sản lượng thấp hơn sản lượng nuôi từ sau năm 2010, qua đây cũng cho thấy
sản lượng sau này sẽ phụ thuộc vảo sản lượng nuôi là chính.
0
200
400
600
800
1000
1200
1400
1600
1800
2001 2002 2003 2004 2005 2006
Sản lượng (1.000 tấn) Diện tích (1.000 ha)
Hình 2.2: Sản lượng nuôi trồng và diện tích nuôi ở Việt Nam
(Ngu
ồn: Bộ Thủy Sản, 2006)
6
Sản lượng nuôi tăng nhanh đồng nghĩa với việc tăng diện tích nuôi, năm 2001
diện tích nuôi 755 ngàn ha, năm 2002 tăng lên 797,7 ngàn ha, năm 2003 tăng
lên 867,6 ngàn ha, năm 2004 tăng lên 920 ngàn ha, năm 2005 là 959,9 ngàn
ha, năm 2006 là gần 1 triệu ha (975,5 ngàn ha). Từ năm 2003 năng suất nuôi
trung bình trên 1 tấn/ha. Điều này cho thấy mức độ thâm canh hóa ngày càng
cao.
Theo Trần Minh Phú & Nguyễn Thanh Phương (2007) cho rằng sản lượng cá
Tra trong những năm gần đây tăng lên đáng kể, từ năm 2004 sản lượng cá Tra
là 315 ngàn tấn, năm 2006 là 800 ngàn tấn tăng lên hơn 485 ngàn tấn (tăng
154%). Nhận thấy sản lượng năm 2006 tăng gấp 2,54 lần sản lượng năm 2004.
(Nguồn: Bộ Thủy Sản, 2005)
Diện tích nuôi thủy sản của ĐBSCL năm 2003 cả vùng có 610.773 ha diện
tích nuôi trồng thủy sản (chiếm 67,8 % cả nước), trong đó diện tích nuôi thủy
sản nước ngọt là 123.276 ha đạt sản lượng 363.359 tấn (Bộ Thủy sản, 2004).
7
Năm 2003, giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả vùng đạt trên 1,28 tỷ
USD, chiếm trên 57% kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Nuôi trồng thủy sản
ở ĐBSCL chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa quy mô lớn, từng bước trở
thành một nghề sản xuất quan trọng (Bộ Thủy Sản, 2003). Nuôi trồng thủy sản
ở ĐBSCL đóng vai trò quan trọng cho phát triển nền kinh tế - xã hội. Trong xu
thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng cao đòi hỏi hàng hóa sản phẩm phải có
chất lượng cao, sản lượng lớn, ổn định để đáp ứng cho tiêu dùng và xuất khẩu.
Môi trường trong nuôi trồng thủy sản là một vấn đề có tầm quan trọng cần
phải được quan tâm trong xu hướng phát triển nuôi trồng thủy sản công nghiệp
hóa và bền vững thân thiện với môi trường (Sở NN&PTNT An Giang, 2004).
Theo thống kê từ các tỉnh, năm 1999 ở ĐBSCL có trên 6.000 ha nuôi TCX,
đạt sản lượng 2.500 tấn (Bộ Thủy sản, 2000) đến năm 2002 TCX cả nước đạt
10.000 tấn nhưng chủ yếu là từ các tỉnh ĐBSCL (Bộ Thủy sản, 2003). Diện
tích nuôi thủy sản của thành phố Cần Thơ năm 2006 là 14.427,7 ha, tăng hơn
15% so kế hoạch năm 2006 (12.500 ha) và tăng gần 12% so với năm 2005
(12.880 ha). Trong đó cá nuôi ở ao 3.031 ha, cá Tra 797,8 ha, tôm càng xanh
376,2 ha. Sản lượng thu hoạch 154.778,1 tấn. An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp
và một số tỉnh khác có tiềm năng rất lớn để phát triển nuôi trồng thủy sản.
TCX là đối tượng có giá trị kinh tế cao và được tập trung phát triển vào những
năm gần đây, năng suất đạt trung bình là 592 kg/ha/vụ (Nguyễn Anh Tuấn,
2006). Nuôi TCX với nhiều hình thức khác nhau như: nuôi tôm kết hợp với
lúa đạt năng suất bình quân 184 kg/ha/vụ; nuôi luân canh với lúa đạt 686
kg/ha/vụ; nuôi ao đạt 1,2 tấn/ha/vụ và nuôi tôm đăng quầng trên sông đạt bình
quân 5,22 tấn/ha/vụ (Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2004). TCX được nuôi
đặc biệt là kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá Tra nhanh chóng được hoàn thiện thì
đến đầu năm 2000 nghề nuôi cá Tra phát triển ở diện rộng trong bè trên sông,
trong ao và đăng quầng, sản lượng cá Tra và Basa của ĐBSCL năm 2003 được
ước tính là 200.000 tấn. Năm 2004 thì ĐBSCL có thể sản xuất đến 430.000
tấn cá da trơn (Bộ Thủy sản, 2005). Như vậy tiềm năng sản xuất cá da trơn ở
ĐBSCL hiện rất lớn và có có thể tiếp tục tăng trong những năm tới.
Thành phố Cần Thơ là một trong những vùng nuôi cá Tra ao trọng điểm của
ĐBSCL mặc dù xuất phát chậm hơn các tỉnh khác như An Giang và Đồng
Tháp. Theo Sở NN &PTNT Cần thơ (2004) thì tính đến ngày 15/08/2004 toàn
tỉnh có 630 ha nuôi với sản lượng hơn 63.000 tấn. Các ao nuôi tập trung ở
Thốt Nốt, Ô Môn và Quận Ninh Kiều.
Đặc biệt là cá Tra đã có bước nhảy vọt đáng kể, năng suất nuôi tăng vọt và có
thể đạt sản lượng khoảng 166 kg/m
3
(nuôi bè), 345 tấn/ha (nuôi đăng quầng)
(Nguyễn Thanh Phương và ctv., 2004) và 212 tấn/ha (nuôi ao) (Dương Nhựt
Long và ct.,. 2004). Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv., (2004) thì hệ số tiêu
tốn thức ăn tự chế (FCR) trong nuôi cá Tra dao động từ 3,2 - 3,6 và điều này
cho thấy cứ 1 tấn cá được sản xuất ra thì dùng đến 3,2 - 3,6 tấn thức ăn được
sử dụng và thức ăn dư thừa thải ra môi trường là khá lớn và đáng quan tâm.
Hiện tại, việc mở rộng quá nhanh diện tích nuôi cá da trơn ở các tỉnh nước
ngọt ĐBSCL đang đặt ra một vấn đề lớn là quản lý môi trường ao nuôi và
vùng nuôi để đảm bảo sự phát triển bền vững. Đặc biệt ở các vùng nuôi tập
trung thì vấn đề ô nhiễm môi trường do chất thải từ các hệ thống nuôi cá da
9
trơn ngày càng trở nên nghiêm trọng và tiềm ẩn nhiều rũi ro cho sự phát triển
bền vững.
Cá Tra có những đặc điểm rất có lợi cho nghề nuôi như kích thước lớn, tăng
trưởng nhanh, sử dụng được nhiều loại thức ăn. Không những có những đặc
sản là ngành kinh tế mũi nhọn, kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2004 đạt
128,7 triệu USD chiếm 49,5% giá trị tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, sản
phẩm xuất khẩu chủ yếu là cá Tra phi lê. Sản lượng thủy sản nuôi đạt 152.800
tấn (Sở NN&PTNT An Giang, 2004), trong đó cá Tra nuôi chiếm chủ yếu
trong tổng sản lượng thủy sản nuôi của tỉnh.
Kết quả điều tra thủy sản của Trần Văn Nhì (2005) cho thấy, sản lượng cá Tra
chiếm 85,6% tổng sản lượng thủy sản nuôi, trong đó sản lượng cá Tra nuôi
trong ao và đăng quầng chiếm 48% và sản lượng cá Tra nuôi bè chiếm 37,6%.
Diện tích ao nuôi phổ biến từ 1.000 - 3.000 m
2
chiếm 53,3%, ao có diện tích
lớn hơn 3.000 m
2
chiếm 30% và ao nhỏ có diện tích từ 350 - 1.000 m
2
chiếm
16,7% (Trần Văn Nhì, 2005).
Bảng 2.2: Các chỉ tiêu tổng hợp tình hình nuôi cá Tra ở An Giang
Chỉ tiêu Đơn vị tính Kết quả
Tổng diện tích nuôi cá Tra ha 947,6
Ao nuôi cá Tra ha 916,9
Đăng quầng nuôi cá Tra ha 30,7
Sản lượng cá Tra nuôi ao, quầng tấn 42.630
Tổng sản lượng cá Tra nuôi tấn 75.925
(
Nguồn: Sở NN&PTNT An Giang, 2005
)
Tôm càng xanh được nuôi tập trung ở các tỉnh An Giang, Cần Thơ, Đồng
Tháp, Vĩnh Long, Bến Tre, Long An và Tiền Giang. Nghề nuôi tôm càng xanh
phổ biến với các hình thức nuôi như nuôi tôm trong ruộng lúa, nuôi trong
2
đạt năng
suất dao động từ 1,2 - 5 tấn/ha. Mô hình nuôi tôm càng xanh đăng quầng tập
trung nhiều nhất ở tỉnh Đồng Tháp. Tuy vậy, năng suất và hiệu quả của mô
hình này không ổn định vì tuỳ thuộc vào nước lũ hằng năm.
Năng suất bình quân của mô hình nuôi tôm xen canh với trồng lúa ở ba tỉnh
Cần Thơ, Trà Vinh và Vĩnh Long đạt 154 kg/ha/vụ (Nguyễn Việt Thắng,
1995). Theo Nguyễn Thị Dung (2000) thì nếu không làm lúa hè thu mà nuôi
tôm thì năng suất có thể đạt 752 kg/ha/vụ.
Nuôi tôm trên ruộng lúa bằng giống tự nhiên (5 - 10 g/con), mật độ 0,5 - 2
con/m
2
đạt năng suất 100 - 200 kg/ha ở Phụng Hiệp và 268 kg/ha ở Thốt Nốt
(Trần Thị Thanh Hiền và ctv., 1998).
Năm 2004 diện tích nuôi là 500 ha, mật độ nuôi 5 - 10 con/m
2
, thời gian nuôi
6 - 7 tháng và đạt năng suất từ 800 - 1.500 kg/ha (Sở NN&PTNT An Giang,
2004). Theo Trần Tấn Huy và ctv., (2004) thì nuôi tôm luân canh trên ruộng
lúa mật độ 5 - 7 tôm bột/m
2
thì sau 6 tháng nuôi đạt năng suất 1.253 - 1.573
kg/ha.
12
Ở tỉnh Vĩnh Long nuôi tôm luân canh trên ruộng lúa bằng nguồn giống nhân
tạo, cỡ giống 0,01 g/con mật độ thả 5 con/m
2
sau 6 tháng nuôi đạt khôi lượng
trung bình 18,2 - 30,2 g/con, năng suất 222 - 566 kg/ha (Trần Ngọc Hải và
dần, mật độ thả từ 1 - 3 con/m
2
. Sản lượng tôm càng xanh qua các năm phụ
thuộc vào mức nước lũ, năm 1997 có lũ lớn nên năng suất cao nhưng sang
năm 1998 mặc dù lượng giống thả gấp đôi năm 1997 nhưng không có có lũ
nên sản lượng giảm (Phạm Trường Yên & Trần Ngọc Nguyên, 2000). Nghiên
cứu nuôi tôm càng xanh trong ao với mật độ 13 con/m
2
, cỡ giống 3 - 4 g/con,
năng suất đạt 1,7 tấn/ha trong 160 ngày (Phạm Trường Yên & Trần Ngọc
Nguyên, 2000). Nguyễn Thanh Phương và ctv., (2002), nghiên cứu 28 hộ nuôi
tôm lúa luân canh, năng suất tôm biến động theo mật độ và kích cỡ giống thả
nuôi từ 42 - 566 kg/ha và kết quả điều tra 55 hộ nuôi tôm lúa luân canh năm
2002 - 2003 ở An Giang và Cần Thơ, năng suất trung bình khi canh tác hai vụ
lúa và một vụ tôm là 100 - 620 kg/ha, canh tác một vụ lúa và một vụ tôm,
năng suất đạt 500 - 1.500 kg/ha. Năm 2004 thành phố Cần Thơ có diện tích
nuôi tôm càng xanh luân canh trên ruộng lúa là 322 ha, năng suất nuôi dao
động từ 500 - 1.500 kg/ha/vụ với nguồn giống là nguồn nhân tạo PL
15-25
(60 -
80 con/g) (Sở NN&PTNT Cần Thơ, 2004). Theo Nguyễn Thanh Phương và
ctv., (2004), nuôi tôm trên ruộng lúa, mật độ 2 con/m
2
, sử dụng thức ăn công
nghiệp, sau 6 tháng nuôi đạt năng suất 180 - 200 kg/ha/vụ. Nguyễn Minh