những phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác vận động nông dân của các đảng bộ xã ở tỉnh vĩnh phúc trong giai đoạn hiện nay - Pdf 11

LUẬN VĂN: Những phương hướng, giải pháp chủ yếu
nhằm tăng cường công tác vận động nông
dân của các đảng bộ xã ở tỉnh Vĩnh Phúc
trong giai đoạn hiện nay Mở đầu

tuyên truyền, vận động, tập hợp nông dân, lôi cuốn nông dân tham gia các phong trào
cách mạng. Nhờ có sự quan tâm, chỉ đạo chặt chẽ của Đảng, Nhà nước, công tác vận
động nông dân ở Vĩnh Phúc đã có những chuyển biến mạnh mẽ và đạt được nhiều kết
quả quan trọng. Các cấp uỷ đảng đã có nhiều biện pháp vận động nhân dân, chăm lo lợi
ích cho nông dân, có nhiều chương trình, dự án phát triển nông nghiệp, nông thôn, tạo sự
chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới, đời
sống nông dân không ngừng được cải thiện và nâng cao, nông dân luôn tin tưởng vào sự
lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác vận động nông dân của các
Đảng bộ xã tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn qua còn tồn tại một số hạn chế và khuyết
điểm. Đời sống nông dân còn nhiều khó khăn. Giao thông của một số xã vùng trung du,
miền núi chưa phát triển; điều kiện sản xuất khó khăn, mặt bằng trình độ dân trí thấp hơn
các xã vùng đồng bằng. Các hoạt động văn hoá thể thao, thông tin tuyên truyền chậm
phát triển, việc tổ chức quán triệt học tập Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, đưa Nghị quyết
của Đảng vào cuộc sống hiệu quả chưa cao; lòng tin của nông dân đối với Đảng, chính
quyền có lúc giảm sút. Mối quan hệ giữa cán bộ, đảng viên với nhân dân thiếu bền chặt.
Có lúc, có nơi cấp uỷ, chính quyền chưa thật sự coi trọng công tác vận động nông dân.
Không ít cấp uỷ, chính quyền còn lúng túng về nội dung, hình thức và phương pháp vận
động nông dân. Những tồn tại hạn chế đó phần nào còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát
triển kinh tế - xã hội ở cơ sở, đến phong trào nông dân và đời sống nông dân.
Bước vào thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
nhiệm vụ vận động nông dân càng nặng nề. Tình hình kinh tế xã hội đang có những diễn
biến phức tạp; kinh tế thị trường đang có những tác động tiêu cực đến tâm trạng, lòng tin
của nhân dân; công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đòi hỏi
phải tập trung nhiều nguồn lực to lớn hơn nữa, phải huy động đông đảo các tầng lớp nhân
dân ở nông thôn tham gia. Vì vậy, Đảng bộ các xã phải tăng cường công tác vận động
nông dân hơn nữa, tạo ra nhiều phong trào nông dân rộng lớn để đẩy nhanh công cuộc
CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn, làm cơ sở để để đẩy nhanh CNH - HĐH trên các
lĩnh vực khác.



- “Công tác vận động nông dân trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước”, của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội,
1999.
- “Mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân trong thời kì đổi mới đất nước, vấn đề và
kinh nghiệm”, của Nguyễn Văn Sáu, Trần Xuân Sầm, Lê Doãn Tá đồng chủ biên, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
- “Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong thời kì CNH - HĐH
đất nước”, bài đăng trên báo Nhân dân từ số 19203, ngày 17 tháng 3 năm 2008 đến số
19207 ngày 21 tháng 3 năm 2008. Ngoài ra còn nhiều bài viết đăng trên các báo, tạp chí,
các hội thảo khoa học có liên quan đến đề tài nông dân và công tác vận động nông dân.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập khá nhiều nội dung về vấn
đề nông dân và công tác vận động nông dân dưới các góc độ khác nhau. Nhiều bài viết
luận giải khá sâu sắc về vị trí, vai trò của nông dân Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng
của Đảng. Một số công trình, bài viết đề cập đến thực trạng nông thôn, nông nghiệp,
nông dân và công tác vận động nông dân, đồng thời đề xuất nhiều giải pháp nhằm tăng
cường công tác vận động nông dân của các cấp uỷ đảng, chính quyền trong thời kỳ mới.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình, bài viết nào nghiên cứu một cách sâu sắc
về nông dân và công tác vận động nông dân của các đảng bộ xã tỉnh Vĩnh Phúc trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tế, luận văn đề xuất
những phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác vận động nông dân
của các đảng bộ xã ở tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ một số vấn đề lý luận chủ yếu về công tác vận động nông dân.
- Phân tích đặc điểm, vai trò của nông dân ở tỉnh Vĩnh Phúc trong lịch sử cũng như
trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Đánh giá thực trạng công tác vận động nông dân của các đảng bộ xã tỉnh Vĩnh
phúc, xác định rõ nguyên nhân, rút ra kinh nghiệm thực tiễn.
Chương 1
Công tác vận động nông dân của các đảng bộ xã thuộc tỉnh Vĩnh Phúc - những vấn đề lý
luận và thực tiễn

1.1. Nông dân và các Đảng bộ xã thuộc tỉnh Vĩnh Phúc - đặc điểm, vị trí, vai trò
1.1.1. Khái quát đặc điểm địa lý, dân cư các xã thuộc tỉnh Vĩnh Phúc
1.1.1.1. Về đặc điểm địa lý tự nhiên
Vĩnh Phúc là một tỉnh đồng bằng có trung du và miền núi nằm bên tả ngạn Sông
Hồng, phía Bắc giáp tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên; phía Nam giáp tỉnh Hà Tây (cũ); phía
Đông giáp với Hà Nội; phía Tây giáp với tỉnh Phú Thọ.
Vĩnh Phúc có diện tích tự nhiên 1231,77km
2
, dân số 1.014.488 người. Dân số sống ở
nông thôn trên 80%, toàn tỉnh có 30 dân tộc anh em cùng sinh sống, dân tộc kinh chiếm
đa số, dân tộc thiểu số chỉ chiếm 2,7%. Mật độ dân số trung bình 837 người/km
2
.
Do cấu trúc địa hình tự nhiên, tỉnh Vĩnh Phúc được chia thành 3 vùng rõ rệt. Phía
Bắc là vùng rừng núi với dãy Sáng Sơn và Tam Đảo, có đỉnh cao nhất là 1.590m so
với mặt biển, là gianh giới tự nhiên giữa Vĩnh Phúc với Tuyên Quang và Thái
Nguyên. Vùng rừng núi tuy diện tích không lớn nhưng có giá trị kinh tế cao với trên
620 loài cây, nhiều loài quý hiếm như: pơ mu, lát, nghiến, cùng nhiều loài cây thuốc
có giá trị mà nơi khác không có được. Về chim, thú có hàng trăm loài trong đó có loài
thuộc diện đặc biệt quý hiếm. Núi Tam Đảo còn là nơi nghỉ mát lý tưởng của du
khách trong và ngoài nước. Phía Nam là đồng bằng rộng lớn chạy dọc theo ven Sông
Hồng thuộc các huyện Vĩnh Tường, Yên Lạc, Bình Xuyên… Nơi đây đất đai màu mỡ,
được coi là vựa lúa của tỉnh, cung cấp lương thực cho nhân dân địa phương và còn là
sản phẩm hàng hoá đem lại một nguồn thu lớn cho nông dân. Xen kẽ giữa vùng núi và

quốc tế Nội Bài, rất thuận lợi cho việc tiếp nhận và ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến,
phát triển các khu sản xuất hàng hoá tập trung, các loại rau màu cao cấp cung cấp nông
sản, thực phẩm tươi, sạch cho thủ đô Hà Nội và các vùng lân cận. Nơi đây còn là địa bàn
thuận lợi cho thu hút đầu tư nước ngoài phát triển các ngành công nghiệp tiên tiến, tạo
việc làm và giải quyết nguồn lao động dư thừa trong nông thôn, đồng thời là nơi có điều kiện để phát triển chăn nuôi, thuỷ sản, gia súc, gia cầm tập trung theo quy mô trang trại,
phát triển kinh tế tổng hợp VAC.
Do vị trí địa lý thuận lợi với cơ chế thu hút đầu tư thông thoáng, những năm gần đây
công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc phát triển mạnh đã hình thành các khu công nghiệp lớn
như: Khu công nghiệp Kim Hoa (thị xã Phúc Yên), KCN Khai Quang (thành phố Vĩnh
Yên), KCN Bá Thiện (Bình Xuyên). Tỉnh đang tiếp tục quy hoạch, mở mang nhiều khu
công nghiệp khác ở các huyện Tam Dương, Vĩnh Tường và thành phố Vĩnh Yên. Cùng
với sự phát triển của công nghiệp, các hoạt động dịch vụ du lịch cũng đang được mở
mang, xây dựng phát triển ở Tam Đảo, Đại Lải, Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên thu hút
ngày càng đông du khách trong và ngoài nước tới tham quan, các khu vui chơi giải trí,
nhà hàng khách sạn, sân ga… ở thành phố Vĩnh Yên, huyện Tam Dương, Tam Đảo và thị
xã Phúc Yên đang được đầu tư xây dựng.
- Khi hậu toàn vùng thuộc khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, với 4 mùa rõ rệt.
Lượng mưa trung bình từ 1500mm đến 1700mm/năm. Nhiệt độ trung bình khoảng 23,2
đến 25 độ C. Số ngày nắng trong năm khá cao. Nhìn chung đặc điểm khí hậu thuận lợi
cho sản xuất nông, lâm nghiệp. Tuy nhiên, vẫn bị ảnh hưởng của rét đậm vùng núi phía
bắc và ảnh hưởng của mưa lũ, lốc xoáy có thể gây ra thiệt hại đáng kể cho sản xuất nông
nghiệp.
1.1.1.2. Về đặc điểm dân cư
Qua tài liệu lịch sử, địa lý các huyện trong tỉnh Vĩnh Phúc cho thấy, con người đã
sinh sống ở đây nhiều năm, mật độ khá đông đúc. Phần lớn dân cư trong vùng sống bằng
nghề nông, đại đa số là người kinh, có một bộ phận là người Sán dìu, Cao lan, Tày ở
các huyện Lập Thạch, Tam Đảo, Bình Xuyên. Số người theo tôn giáo khá đông nhưng

cấp là chính và phụ thuộc rất lớn vào thiên nhiên. ở các xã vùng cao của Tam Dương,
Tam Đảo, Lập Thạch, Sông Lô và Bình Xuyên sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn do
phụ thuộc lớn vào thiên nhiên. Các xã thuộc vùng đồng bằng của các huyện Vĩnh Tường,
Yên Lạc và một số xã huyện Bình Xuyên thuộc vùng đất phù sa Sông Hồng, đất đai màu
mỡ thuận lợi cho cấy lúa và trồng rau màu các loại. Nông dân của thị trấn Thổ Tang
(Vĩnh Tường), thị trấn Minh Tân (Yên Lạc) trồng nhiều loại rau màu cao cấp, có giá trị
kinh tế cao như: hành, tỏi, ớt, khoai tây, súp lơ,… cung cấp cho Hà Nội và các tỉnh biên giới phía bắc. Nông dân thị trấn Tam Đảo được thiên nhiên ưu đãi phát triển mạnh nghề
trồng su su, tạo thành thương hiệu rau su su nổi tiếng trong vùng. Với phương châm tăng
vòng quay của đất để đem lại hiệu quả kinh tế cao trên đơn vị diện tích, nông dân Vĩnh
Phúc gieo trồng hai vụ lúa, một vụ màu trong năm. Với tinh thần cần cù, sáng tạo, nông
dân Vĩnh Phúc có sáng kiến phương pháp trồng ngô, bầu trên đất lầy, thụt nhờ đó mà vừa
tăng vụ, vừa mở rộng diện tích trồng ngô đồng, nên Vĩnh Phúc luôn là tỉnh có diện tích
gieo trồng ngô đồng lớn nhất của miền bắc. Với cơ chế chính sách của tỉnh hỗ trợ giống
vật tư, phân bón, nông dân Vĩnh Phúc đã đưa nhiều giống lúa năng suất chất lượng cao
vào sản xuất đưa năng suất lúa bình quân đạt 55 tạ/ha. Các huyện quy hoạch vùng sản
xuất lúa chất lượng cao đem lại hiệu quả rõ rệt trên một đơn vị diện tích như huyện Vĩnh
Tường, Yên Lạc.
Cùng với sự phát triển của cây trồng, ngành chăn nuôi thuỷ sản ngày càng phát triển
mạnh, đã xuất hiện nhiều trang trại chăn nuôi lợn, gà thịt, gà đẻ trứng với quy mô lớn
hàng trăm lợn nái ngoại sinh sản/ trại, hàng ngàn lợn thịt/ trại, hàng ngàn gà giống bố mẹ,
gà thịt/hộ gia đình. Điều sáng tạo trong chăn nuôi là nông dân tự đóng máy ấp trứng gia
cầm, cung cấp con giống tại chỗ cho nông dân trong vùng và sử lý chất thải làm Bioga
tạo ra chất đốt và điện thắp sáng. Nhiều trang trại bò thịt, bò sữa ở vùng trung du phát
triển với quy mô ngày càng mở rộng. Các loại cây ăn quả ngày càng được cải tạo và nhân
giống như: xoài úc, xoài Thái Lan, bưởi Diễn, nhãn Trữ Lương (Trung Quốc). Nhiều
vùng trung du bà con trồng cây sưa là cây lấy gỗ có giá trị kinh tế cao thay cây nông
nghiệp. Thông qua việc dồn ghép ruộng đất, nhiều hộ nông dân tích tụ ruộng đất phát

qua đó nhiều Chi hội phát động học tập phong trào “Người có giúp người khó” để tăng
thêm tình đoàn kết gắn bó giữa các hội viên. Qua đó góp phần đẩy mạnh hoạt động của
các phong trào “Nông dân đoàn kết giúp nhau phát triển sản xuất xoá đói, giảm nghèo và
làm giàu chính đáng” làm cho các phong trào và hoạt động công tác Hội ngày càng phát
triển.
- Nông dân Vĩnh Phúc có truyền thống cách mạng, yêu nước nồng nàn, một lòng, một
dạ gắn bó với Đảng và luôn đi theo Đảng. Là một bộ phận của cộng đồng dân tộc Việt Nam, trải qua hàng ngàn năm dựng nước và
giữ nước, nông dân Vĩnh Phúc sớm có truyền thống yêu nước, đấu tranh kiên cường chống
ngoại xâm và ách thống trị của đế quốc và phong kiến.
Từ buổi bình minh của lịch sử, thế kỷ ba trước công nguyên, nông dân Vĩnh Phúc đã
cùng An Dương Vương xây Thành Cổ Loa chống giặc ngoại xâm, chống quân xâm lược
Triệu Đà, quân xâm lược Nam Hán. Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược dưới triều
Lý, nông dân Vĩnh Phúc tham gia nhiều công sức đắp luỹ, đào hào, xây dựng phòng
tuyến từ dãy núi Tam Đảo đến Nham Biển (Bắc Ninh) để quân và dân cả nước đánh tan
quân xâm lược Tống. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, Mông thế kỷ XIII,
nông dân Vĩnh Phúc cùng vua tôi nhà Trần làm nên chiến thắng Bình Lệ Nguyên (Tam
Canh - Bình Xuyên). Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thế kỷ XV của Lê Lợi chống quân Minh
xâm lược, hàng vạn con em Vĩnh Phúc do Trần Nguyên Hãn chỉ huy đã luyện tập võ
nghệ ở Rừng Thần (Xuân Lôi - Lập Thạch) để tham gia khởi nghĩa.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, khi phong trào Cần Vương bị dập tắt,
nông dân Vĩnh Phúc tích cực ủng hộ nghĩa quân Đề Thám lấy vùng núi Sáng Sơn - Lập
Thạch làm căn cứ kháng chiến. Năm 1917 - 1918 nhân dân Vĩnh Phúc tích cực giúp đỡ
Đội Cấn ở Vũ Di, Vĩnh Tường kháng chiến chống thực dân Pháp. Năm sau 1927, một số
tổ chức yêu nước theo khuynh hướng quốc gia tư sản được thành lập tại Hà Nội lấy tên là
Quốc Dân Đảng, Nguyễn Thái Học cùng nhiều thanh niên yêu nước người Vĩnh Phúc đã
tham gia tổ chức này.
Từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, truyền thống yêu nước, tinh thần cách

ba đảm đang” và phong trào “Tay cày, tay súng” của nông dân Vĩnh Phúc đã diễn ra sôi
nổi, rộng khắp ở cả nông thôn đồng bằng và miền núi, nông dân tích cực chuẩn bị mọi
mặt đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm, đồng thời sẵn sàng phục vụ và tham gia
chiến đấu, tham gia xây dựng các trận địa tên lửa phòng không, nhân dân khắp mọi nơi
tham gia tiếp tế lương thực, thực phẩm cho bộ đội, phong trào “Tiếng hát át tiếng bom”
phát triển khá sôi nổi trong nông dân. Mặc dù nhiệm vụ sản xuất và chiến đấu ở địa
phương đòi hỏi công sức của nhân dân rất lớn, nhưng với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến
tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, nhiều con em Vĩnh Phúc lên đường tòng quân giệt Mỹ, phong trào “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, các phong
trào “Mở hội tòng quân”, “Trao gậy Trường Sơn” đã diễn ra ở tất cả các địa phương, các
vùng nông thôn trong tỉnh. Những đóng góp của quân và dân Vĩnh Phúc, trong đó nông
dân là lực lượng chủ yếu đã góp phần tô thắm thêm truyền thống cách mạng của nhân
dân Vĩnh Phúc, đồng thời cùng quân và dân cả nước giải phóng hoàn toàn miền Nam
thống nhất đất nước.
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như trong sự nghiệp đổi mới do
Đảng khởi xướng và lãnh đạo, nông dân Vĩnh Phúc luôn luôn nêu cao ý thức tự lực, tự
cường, đoàn kết phấn đấu thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng, tiếp tục đẩy
mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn theo tinh thần
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ
XIV, quyết tâm phấn đấu xây dựng tỉnh Vĩnh Phúc trở thành một trong những tỉnh giàu
có, phồn vinh nhất ở miền Bắc như lời của Bác Hồ khi về thăm Vĩnh Phúc năm 1963.
Gần 80 năm trôi qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nông dân Vĩnh
Phúc hăng hái đi theo tiếng gọi của Đảng, góp phần cùng nông dân cả nước viết lên trang
sử vàng của đất nước và quê hương trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc cũng
như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Qua các phong trào
cách mạng đã khẳng định vai trò to lớn của nông dân Vĩnh Phúc, một lực lượng đông
đảo, cơ bản trong cách mạng giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng.
- Nông dân Vĩnh Phúc có tinh thần cộng đồng cao, đoàn kết, sống trọng nghĩa, trọng

sức mạnh của cộng đồng dân cư giúp họ khắc phục vượt qua khó khăn thử thách trong
cuộc sống, giúp họ vững bước đi lên. Đây là đặc điểm tốt cần phát huy trong công tác vận
động nông dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Tuy
nhiên, tính cộng đồng làng xã cũng tạo cho nông dân tư duy bảo thủ, coi “Phép vua thua
lệ làng”, sống nặng tình cảm, tuỳ tiện, tư tưởng cục bộ bình quân, đố kỵ lẫn nhau không
muốn cho ai phát triển hơn mình.
Ngày nay, trong thời kỳ đổi mới và hội nhập dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã
thu được nhiều thành tựu về nông nghiệp, nông dân và nông thôn, làm cho bộ mặt nông
thôn có nhiều đổi mới, đời sống nông dân không ngừng cải thiện và nâng cao, phần nào
đã hạn chế được mặt tiêu cực của tính cộng đồng. Nhưng dấu ấn của nó vẫn tồn tại trong đời sống nông dân ở các thôn xã hiện nay, phần nào gây hạn chế trong hiệu quả điều
hành, lãnh đạo, quản lý ở các xã trong việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của tỉnh về
phát triển kinh tế xã hội ở mỗi cơ sở.
- Nông dân các xã tỉnh Vĩnh Phúc còn bị ảnh hưởng của tư tưởng thời kỳ phong kiến
và thời kỳ bao cấp.
Do chế độ thực dân phong kiến cai trị lâu dài, nông dân các xã tỉnh Vĩnh Phúc còn
tồn tại một số phong tục tập quán, thói quen, hành động, tư duy, suy nghĩ lạc hậu, chậm
đổi mới gây trở ngại trong cuộc sống CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn và xây dựng
nông thôn mới văn minh, hiện đại. Một bộ phận nông dân cố tình không chấp hành chủ
trương của tỉnh về phát triển công nghiệp, cương quyết không giao đất để giải phóng mặt
bằng, đưa ra các ưu sách đòi giá đền bù cao, đòi đất dịch vụ đẹp,… Họ không có tinh
thần cộng đồng làng xã mà suy nghĩ cá nhân đòi lợi bản thân mình mà không vì lợi ích
tập thể. Trong quá trình thực hiện quyền làm chủ, một bộ phận nông dân không dám bày
tỏ chứng kiến, nguyện vọng của mình, không nhận thức đầy đủ nghĩa vụ, quyền lợi và
trách nhiệm của người công dân mà chỉ biết nhìn nhận, đòi hỏi lợi ích cho bản thân mình,
trong cuộc sống và hoạt động xã hội họ thường cam chịu và làm tròn bổn phận.
Trong dòng tộc, họ hàng, gia đình, tư tưởng phong kiến vẫn còn ảnh hưởng, mọi vấn đề
hệ trọng trong dòng họ đều do Trưởng họ, người cao tuổi quyết định. Trong gia đình, ông bà,

nông dân ở đảng bộ các xã, tỉnh Vĩnh Phúc là đẩy mạnh công tác tuyên truyền chủ trương
chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước. Vận động nông dân thực hiện nghiêm chỉnh
pháp luật của Nhà nước. Chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu kỹ thuật nông nghiệp theo hướng
sản xuất hàng hoá, mở rộng thị trường tiêu thụ, phát triển công nghệ chế biến và bảo quản
sau thu hoạch. Tích cực hỗ trợ sản xuất phát triển, khuyến khích phát triển học tập và
nhân rộng các điển hình tiên tiến. Vận động nông dân cải tạo các thủ tục phong kiến, tập
quán, tư duy lạc hậu không phù hợp với nếp sống mới, gây cản trở quá trình sản xuất và
phát triển xã hội. Đẩy mạnh thực hiện quá trình dân chủ hoá, xây dựng nông thôn mới
văn minh hiện đại ở các địa phương.
1.1.1.3. Vai trò của nông dân Vĩnh Phúc
C.Mác và F.Ăng ghen trong quá trình sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học luôn
luôn đánh giá cao vai trò to lớn, vị trí quan trọng của nông dân trong tiến trình lịch sử xã hội, đã nhận thấy ở nhiều quốc gia, nông dân vẫn là “Nhân tố rất cơ bản của dân cư, của
nền sản xuất và của lực lượng chính trị”. Phân tích cuộc đấu tranh giai cấp ở Pháp,
C.Mác đã chỉ rõ, trong cuộc đấu tranh chống lại mọi sự cường quyền, áp bức và nô lệ, sự
nổi dậy của giai cấp nông dân chống bạo lực tư bản là một điều kiện không thể thiếu để
cách mạng có thể thắng lợi.
Nhận thức rõ vai trò của giai cấp nông dân nhất là ở các nước thuộc địa và nửa thuộc
địa, V.I.Lênin cho rằng vấn đề giải phóng dân tộc thực chất là giải phóng giai cấp nông
dân. Sự liên minh của giai cấp nông dân với giai cấp công nhân là điều kiện có tính bắt
buộc và quyết định cho sự thành công của cách mạng vô sản. Giai cấp công nhân sẽ
không hoàn thành nhiệm vụ của mình “Nếu không đoàn kết giai cấp lao động ở nông
thôn chung quanh Đảng cộng sản và giai cấp vô sản thành thị, nếu Đảng cộng sản của
giai cấp vô sản không giáo dục giai cấp lao động ở nông thôn” [52, tr.208].
Kế thừa và phát triển những tư tưởng, quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng
ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc và đánh giá đúng đắn vị trí, vai trò của
nông dân trong tiến trình cách mạng của dân tộc. Đảng ta coi giai cấp nông dân là lực
lượng rất quan trọng trong khối liên minh công nhân, nông dân, trí thức. Cùng với giai

những năm 1959 - 1960, phong trào làm phân chuồng, phân xanh được triển khai tích cực
những chiến dịch “Làm phân vùi thân Mỹ - Diệm” được triển khai nhanh. Phong trào làm
thuỷ lợi, phong trào làm ngô bầu,… đặc biệt là phong trào khoán hộ năm 1968 đã đánh
dấu bước chuyển đổi to lớn trong sản xuất nông nghiệp, tạo ra tính tự chủ trong sản xuất,
thúc đẩy sản xuất phát triển năng xuất lao động tăng cao, các phong trào cải tiến cơ chế
quản lý phong trào dồn điền, đổi thửa đưa cơ giới hoá vào nông nghiệp và phong trào
thâm canh tăng vụ ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất được triển khai
đồng bộ, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Các phong trào làm
đường giao thông nông thôn, kiên cố hoá kênh mương, xây dựng trường học, nhà trẻ, nhà
mẫu giáo, bệnh xá, xây dựng làng xã văn hoá,… được đông đảo nông dân hưởng ứng
tham gia, đem lại hiệu quả cao.
Trong thời kỳ đổi mới, nông dân Vĩnh Phúc có vai trò to lớn trong việc chuyển đổi
cơ cấu kinh tế, bước đầu hình thành những vùng sản xuất hàng hoá tập trung, nhiều trang
trại và khu nuôi trồng thuỷ sản phát triển, cơ giới hoá từng bước được khuyến khích đưa vào sản xuất, hiệu quả sản xuất lao động ngày càng cao, năng xuất và chất lượng nông
sản hàng hoá từng bước được nâng cao, tạo sức cạnh tranh trên thị trường trong nước,
cung cấp ngày càng nhiều nông sản, hàng hoá, thực phẩm tiêu dùng cho nhân dân trong
tỉnh, thủ đô Hà Nội và các vùng lân cận.
Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Vĩnh
Phúc, nông dân là lực lượng lao động cơ bản, chủ lực quân tiến công vào đói nghèo, lạc
hậu. Họ là lực lượng nòng cốt, trực tiếp tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn; cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho các ngành công
nghiệp của tỉnh và của vùng.
Có thể nói, trong lịch sử cách mạng cũng như trong công cuộc đổi mới, tiến hành
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nông dân Vĩnh Phúc có vai trò rất quan trọng,
luôn luôn là chủ lực quân, lực lượng xung kích trên các mặt trận, trong cuộc đấu tranh
bảo vệ và xây dựng quê hương Vính Phúc, cùng với nông dân và các lực lượng khác
trong xã hội góp phần làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

phố (thuộc thị trấn) [24].
Căn cứ Hiến pháp và Điều lệ Đảng, hiện nay, tổ chức đảng của tỉnh Vĩnh Phúc được
lập theo các đơn vị hành chính là đảng bộ tỉnh; đảng bộ cấp huyện và đảng bộ cấp xã.
Các đảng bộ xã là các đảng bộ trực thuộc đảng bộ huyện. Trong đảng bộ xã có các chi bộ
thôn, làng, bản trực thuộc.
Theo cơ cấu tổ chức được quy định như trên, hiện nay toàn tỉnh Vĩnh Phúc có 237
đảng bộ cơ sở, trong đó có 137 đảng bộ xã, phường; 340 chi bộ với tổng số 47.324 đảng
viên.
Đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp cơ sở của Vĩnh Phúc bao gồm
các chức danh: Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch, Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân; Chủ
tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Mặt trận, trưởng các đoàn thể Thanh
niên, Phụ nữ, Nông dân, Cựu chiến binh; các đồng chí trong Ban thường vụ, Ban Chấp
hành Đảng ủy xã. Dưới cấp xã là các thôn, làng bản có các chi bộ trực thuộc. Mỗi chi bộ
có một bí thư và từ một đến hai phó bí thư. Ngoài ra, trong bộ máy cấp xã còn có một số
chức danh chuyên môn khác. Đây là những nhân cốt trong lãnh đạo, quản lý và điều hành các hoạt động trên địa bàn xã, có trách nhiệm tổ chức lãnh đạo chăm lo phát triển kinh tế
xã hội của địa phương, chăm lo đời sống nhân dân, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã
hội trên phạm vi địa bàn của xã.
1.1.2.2. Chức năng, nhiệm vụ của các đảng bộ xã
- Căn cứ Điều lệ Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của
Đảng, các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư, chức
năng, nhiệm vụ của Đảng bộ, chi bộ cơ sở xã ở tỉnh Vĩnh Phúc được quy định như sau:
- Đảng bộ, chi bộ cơ sở xã là hạt nhân chính trị, lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lãnh đạo phát triển kinh tế - xã
hội; xây dựng hệ thống chính trị ở xã vững mạnh, nông thôn giàu đẹp, văn minh; không
ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, động viên nhân dân làm tròn
nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Lãnh đạo chính quyền thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội

hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, tích cực tạo nguồn cán bộ, từng bước trẻ hoá đội ngũ
cán bộ, công chức xã; thực hiện chính sách đối với cán bộ ở cơ sở theo phân cấp; giới
thiệu những người đủ tiêu chuẩn, có tín nhiệm trong tổ chức đảng và nhân dân để bầu vào
các chức danh chủ chốt của HĐND, UBND, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân
theo luật định và điều lệ của mỗi tổ chức; lựa chọn, giới thiệu cán bộ tham gia vào các cơ
quan lãnh đạo của Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân ở cấp trên và cán bộ chủ chốt ở
cơ sở do cấp trên quản lý.
- Lãnh đạo xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở xã vững mạnh,
thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ theo luật định và điều lệ của mỗi đoàn thể. Lãnh đạo
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng, bảo vệ đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước và các nhiệm vụ của địa phương,
trước hết là những chủ trương, chính sách về nông nghiệp, nông dân và nông thôn.
- Thường xuyên chăm lo xây dựng tổ chức đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở vững
mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên,
nhất là việc phát hiện và đấu tranh chống tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các biểu
hiện tiêu cực khác; chú trọng củng cố, xây dựng và nâng cao chất lượng lãnh đạo của các
chi bộ, tổ đảng ở thôn (ấp, bản…). Thực hiện đúng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ tự phê bình và phê bình; thực hiện có nền
nếp và nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng nhất là sinh hoạt chi bộ, đảm bảo tính lãnh
đạo, tính giáo dục và tính chiến đấu.
- Giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên nêu cao vai trò tiền phong, gương mẫu. Có biện
pháp quản lý, phân công nhiệm vụ và tạo điều kiện để đảng viên hoàn thành nhiệm vụ được
giao. Làm tốt công tác động viên khen thưởng, kỷ luật đảng viên; xử lý nghiêm, kịp thời
những cán bộ, đảng viên vi phạm điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước. Làm tốt công tác
tạo nguồn và phát triển đảng viên.
1.2 Công tác vận động nông dân của Đảng bộ xã tỉnh Vĩnh phúc - quan niệm, vị
trí, vai trò và nội dung, phương thức vận động nông dân
1.2.1. Quan niệm công tác vận động nông dân của Đảng bộ xã tỉnh Vĩnh Phúc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status