1
T
T
I
I
Ể
Ể
U
UL
L
U
U
Ậ
Ậ
N
N
:
:
ó
ó
i
iđ
đ
ầ
ầ
u
uao động là vốn quý là yếu tố cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi
hình thái kinh tế xã hội, chính vì lẽ đó đảng và nhà nước ta luôn đặt vấn đề dân số-
lao động-việc làm vào vị trí hàng đầu trong các chính sách kinh tế xã hội. Chính sách
đó được thể hiện trong việc hoạch định các chiến lược phát triển kinh tế xã hội, đặt
con người vào vị trí trung tâm, lấy lợi ích của con người làm điểm xuất phát của mọi,
kế hoạch, chương trình phát triển. Chiến lược kinh tế xã hội thực chất là chiến lược
con người, chiến lược bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực và giải phóng mọi tiềm
năng của con người .
Thái Bình là một tỉnh đồng bằng thuộc châu thổ Sông Hồng, diện tích đất tự
nhiên 1538,5 Km
2
. dân số trung bình năm 1999 là 1.786 ngàn người tổng số người
lao động (từ 15 tuổi trở lên ) chiếm 73,23% dân số. Trong điều kiện một tỉnh mà sản
xuất nông nghiệp là chủ yếu, diện tích đất bình quân chỉ có 550 m
2
/người. Công
à
à
n
nt
t
h
h
i
i
ệ
ệ
n
nC
C
ô
ô
n
n
g
gt
t
i
i
ệ
ệ
c
cl
l
à
à
m
mở
ởt
t
ỉ
ỉ
n
n
h
h
đ
đ
o
o
ạ
ạ
n
n2
2
0
0
0
0
1
1
-
-
2
2
0
0
0
0
5
5
"
"
một cách khoa học và toàn diện hơn.
P
P
h
h
ầ
ầ
n
nI
I
:
:L
L
í
í
v
v
ấ
ấ
n
nđ
đ
ề
ềl
l
a
a
o
ođ
đ
ộ
ộ
n
n
g
g
N
N
h
h
ữ
ữ
n
n
g
gn
n
ộ
ộ
i
id
d
u
u
n
n
g
g
đ
đ
ề
ềl
l
a
a
o
ođ
đ
ộ
ộ
n
n
g
g-
-
v
v
i
Tuy nhiên, để lao động thực sự trở thành động lực thì nó phải
được sử dụng
vào quá trình sản xuất, có điều kiện vận dụng sức lao động của mình để tạo ra của
cải vật chất tinh thần cho xã hội, đó chính là quá trình lao động ( sự kết hợp giữa
sức lao động và tư liệu sản xuất để sáng tạo ra của cải vật chất cho xã hội).
Lao động-việc làm không chỉ đơn thuần là vấn đề kinh tế mà nó còn là mang tính
chất xã hội sâu sắc, vì vậy vấn đề lao động -việc làm với người lao động là một trong
những vấn đề có tính chất toàn cầu, là mối quan tâm lớn của hầu hết các quốc gia, trong
đó có Việt Nam.
Quá trình giải quyết những vấn đề nêu trên đồng thời là quá trình nẩy sinh nhiều
mâu thuẫn mà việc giải quyết nó không thể giản đơn và nhanh chóng được. Vấn đề lao
động việc làm nếu được giải quyết tốt sẽ góp phần ổn định xã hội, ổn định chính trị để
phất triển nền kinh tế xã hội của đất nước. Sau đây ta tìm hiểu một số nội dung cơ bản liên
quan đến vấn đề lao động - việc làm và sự tác động của nó đến sự phát triển của nền kinh tế
xã hội.
I
I
1
1
.
.N
N
g
g
u
c
c
á
á
c
cy
y
ế
ế
u
ut
t
ố
ốả
ả
n
n
h
h
1
_____________________________________________________________________
_________________________________________________⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪
⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪
⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪
_________________________⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪ ⨪
____________________________________________________________________
___________________________________ Nhật Bản, Singapor, Hàn quốc. Nhờ có
chiến lược phát triển con người một cách hợp lí mà nó đã tạo cho các quốc gia này
một lợi thế hết sức to lớn về nhân lực trong phát triển.
Lao động chính là một nội lực quan trọng nhất của mỗi quốc gia, đặc biệt
đối với những nước đang phát triển như Việt Nam. Tuy nhiên để trở thành động lực
của sự phát triển cần có nhiều điều kiện khác để có thể khai thác được nguồn lực
này. Trong đó đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, đó chính là vốn.
Để hiểu rõ hơn nguồn lao động và các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn lao động ta
xem xét sơ đồ sau.
sơ đồ 1
DÂN Số__Trong tuổi lao động_Ngoài tuổi lao dộng__Không có khả năng lao
động_Có khả năng lao động._tham gia lao động T-X_Không tham gia lao
động_
_
_Nguồn lao động_
_
_Có việc làm -TX_Thất nghiệp_
Tỷ lệ ra tăng trung bình hàng năm là thước đo để đánh giá tốc độ gia tăng
dân số, cho biết tốc độ gia tăng dân số hàng năm của khu vực đó, dựa vào đó mà ta
có thể xác định được tốc độ gia tăng nguồn lao động hàng năm của địa phương (
thường trễ hơn sau một khoảng thời gian nhất định ).
b. Cơ cấu dân số
Sự phân chia toàn bộ dân số thành các bộ phận khác nhau theo những đặc trưng
riêng tạo lên cơ câú dân số. Các đặc trưng chủ yếu được dùng để phân chia là độ tuổi,
giới tính, tôn giáo, dân tộc, trình độ văn hoá, mức sống với cách tiếp cận, như vậy sẽ
1
có nhiều cơ cấu dân số tương ứng, trong đó có cơ cấu dân số theo độ tuổi, theo giới tính
là những cơ cấu dân số nền tảng và được sử dụng nhiều trong phân tích dân số, nguồn
lao động cũng như các vấn đề khác có liên quan .
c.Chất lượng dân số
Được đánh giá trên các mặt như: Dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho người dân ( số
lượng bác sĩ trên một vạn dân , số dường bệnh trên môt vạn dân, số cơ sở y tế , trạm xá
trong khu dân cư ). Trình độ văn hoá giáo dục ( số học sinh được đến trường trong độ
tuổi đi học, số sinh viên trên một vạn dân ). Việc hưởng thụ các dịch vụ công cộng,
các phương tiện thông tin đại chúng, khu vui chơi giải trí của người dân
1.2 Dân số trong tuổi lao động - ngoài tuổi lao động
a. Dân số trong tuổi lao động
Để có thể sống và phát triển, con người phải tiêu dùng một lượng của cải nhất
định: lương thực, thực phẩm, vải vóc nhà ở, phương tiện giao thông liên lạc,thuốc
phòng chữa bệnh Nhưng những tư liệu sinh hoạt này không phải là "quà tặng của
thượng đế ", mà nó là sản phẩm của quá trình lao động. Song không phải toàn bộ dân
số tham gia sản xuất, mà chỉ một bộ phận có đủ sức khoẻ và trí tuệ mà thôi.
quá trình lao động ( bị dị tật bẩm sinh không có khả năng lao động )
1.4 Dân số ngoài tuổi lao động tham gia lao động - không tham gia
a. Dân số ngoài tuổi lao động tham gia lao động: là những người lao động đã qua
tuổi lao động những thực tế có tham gia lao động
b. những người không tham gia lao động :là những người ngoài tuổi lao động và
họ không muốn tham gia lao động.
1.5 nguồn lao động :
( Ta sẽ xem xét kỹ ở phần sau)
1.6 một số khái niệm khác
a . Nguồn nhân lực
1
Theo giáo trình Kinh Tế Lao Động. Nguồn nhân lực là nguồn lực về con
người và được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh.
Với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, bao gồm toàn bộ dân cư
có cơ thể phát triển bình thường.
Với tư cách là yếu tố của sự phát triển kinh tế xã hội là khả năng lao động của xã
hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả
năng lao động. Với cách hiểu này, nguồn nhân lực tương đương với nguồn lao động.
Nguồn nhân lực còn có thể hiểu là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể
tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố vật chất tinh thần được huy
động vào quá trình lao động . Với cách hiểu này nguồn nhân lực bao gồm những
người từ giới hạn dưới độ tuổi lao động trở lên( ở nước ta là tròn 15 tuổi ).
Các cách hiểu trên chỉ khác nhau về việc xác định quy mô nguồn nhân lực, song
đều nhất trí với nhau đó là nguồn nhân lực nói lên khả năng lao động của xã hội.
Nguồn nhân lực được xem xét trên hai giác độ: Số lượng và Chất lượng.
định bao gồm toàn bộ những người từ đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc không có
việc làm, nhưng có nhu cầu làm việc.
d. dân số không hoạt động kinh tế :
Bao gồm toàn bộ những người từ đủ 15 tuổi trở lên không thuộc bộ phận có việc
làm và không có việc làm. Những người này không hoạt động kinh tế vì các lí do: Đang
đi học, làm công việc nội trợ, già cả ốm đau, tàn tật, không có khả năng lao động, hoặc ở
vào tình trạng khác. 2. nguồn lao động và các yếu tố ảnh hưởng
2.1 khái niệm
a. Khái niệm .
Theo Giáo trình kinh tế lao động :
1
Nguồn lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động , có khả năng lao
động ( không kể trạng thái có việc làm hay không ).
Như vậy, theo cách hiểu này thì một số người được tính vào nguồn nhân lực
nhưng không phải là nguồn lao động đó là những người lao động không có việc làm
nhưng không tích cực tìm việc làm, những người đang đi học, làm việc nội trợ trong gia
đình và những người thuộc tình trạng khác.
Trong thực tế có những người thuộc độ tuổi lao động quy định nhưng bị tàn phế, mất
khả năng lao động nên không thuộc nguồn lao động .
Ngựơc lại có số người ngoài tuổi lao động nhưng thực tế có tham gia lao động
,vẫn làm việc thường xuyên, khẳng định họ vẫn có khả năng lao động nên vẫn được tính
vào nguồn lao động.
phép đánh giá năng lực sản xuất xét từ góc độ nguồn nhân lực từ đó có các giải pháp
cụ thể trong công tác đào tạo, bố trí lao động cho phù hợp với đặc điểm của từng
giới.
- Cơ cấu nguồn lao động theo độ tuổi: Cho phép đánh giá năng lực sản xuất. Do khả
năng lao động ở các độ tuổi ở các giới là khác nhau, từ đó có các kế hoạch đào tạo, đào
tạo lại nguồn lao động cho thích hợp .
- Cơ cấu lao động theo vùng, địa phương: Dựa vào đặc điểm kinh tế xã hội của địa
phương,từng vùng qua đó có những kế hoạch phân bổ, sắp xếp nguồn lao động theo
từng địa phương, từng vùng sao cho phù hợp qua đó có thể đánh giá việc sử dụng nguồn
nhân lực .
- Cơ cấu lao động theo mức độ huy động: Xem xét theo tiêu thức có việc
làm .Toàn bộ dân số chia thành dân số có việc làm và sống nương nhờ, toàn bộ
nguồn lao động được chia thành lao dộng có viêc làm và lao động chưa hoặc
không có việc làm. Đối với việc làm theo tính chất công việc lại được chia thành
những người có việc làm thường xuyên và những người có việc làm tạm thời. Cơ
cấu nguồn lao động theo mức độ huy động cho phép đánh giá mức độ huy động
nguồn nhân lực vào sản xuất kinh doanh .
1
- Cơ cấu theo lĩnh vực sử dụng : Nguồn lao động được chia thành lao động làm
việc trong lĩnh vực sản xuất vật chất và lĩnh vực phi sản xuất vật chất, những người
làm việc trong khu vực quốc doanh, khu vực ngoài quốc doanh , những người học tập
thoát li sản xuất.
- Theo nhóm nghành: Cơ cấu lao động được chia thành lao động hoạt động
trong nhóm nghành nông-lâm-ngư nghiệp, Công nghiệp xây dựng, dịch vụ, quản lí
sự nghiệp đảng, đoàn thể.
ố
ốả
ả
n
n
h
hh
h
ư
ư
ở
ở
n
n
g
gđ
đ
ế
ế
n
n
l
l
a
a
o
ođ
đ
ộ
ộ
n
n
g
g.
.a
a
.
.
trợ hoặc ở trong tình trạng khác .
1
Như vậy ,để xác định tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ta xác định theo
công thức sau:
L
L
F
F
R
R
(
(
%
%
)
)
=
=
F)
)
.
.Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động thường được sử dụng để ước tính quy mô
dự trữ của nguồn lao động trong phạm vi một nền kinh tế và có vai trò quan trọng
trong thống kê thất nghiệp.
Nó có thể được tính đối với toàn bộ dân số hoặc với một bộ phận dân số theo
độ tuổi, giới tính .
c. Thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp:
Thất nghiệp bao gồm những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm
việc làm.
Số người không có việc làm sẽ ảnh hưởng đến số người làm việc và ảnh hưởng
đến kết quả hoạt động của nền kinh tế . Như vậy số người thất nghiệp cao hay thấp
sẽ ảnh hưởng tới số lượng của nguồn lao động .
Thất nghiệp là vấn đề đang được sự quan tâm của mọi quốc gia vì nó không
chỉ có tác động về kinh tế, mà tác động cả về khía cạnh xã hội.
d. Thời gian lao động .
Thời gian lao động thường được tính bằng số ngày làm việc trong năm, số giờ
làm việc trong năm, số ngày làm việc trong tuần , số giờ làm việc trong tuần hoặc số
giờ làm việc trong ngày.
Xu hướng chung của các nước là thời gian làm việc sẽ giảm đi khi trình độ phát triển
kinh tế được nâng cao . Như vậy thời gian lao động ít hay nhiều cũng sẽ ảnh hưởng trực
tiếp đến số lượng người tham gia lao động .
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng nguồn lao động .
công nghệ thay đổi, sản xuất ngày càng phát triển mạnh mẽ, phân công lao động xã
hội ngày càng sâu sắc, nhiều nghành nghề, chuyên môn cũ thay đổi, chuyên môn
1
mới ra đời. Từ đó đòi hỏi trình độ tay nghề của người lao động phải được đào tạo
nâng lên cho phù hợp với yêu cầu của sản xuất .
Kết quả của giáo dục, đào tạo là làm tăng lực lượng lao động có trình độ chuyên
môn, tạo khả năng đẩy nhanh quá trình đổi mới công nghệ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế .
Nước ta đang bước vào thời kì CNH-HĐH. Sau những thắng lợi của sự nghiệp đổi
mới nền kinh tế, song còn nhiều nguyên nhân dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực thấp .Vì
vậy, đảng ta đã xác định rõ vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực hướng vào mục
tiêu " Nâng cao đầu tư đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, xây dựng đội ngũ trí thức,
nhà kinh doanh, nhà quản lí,chuyên gia công nghệ và công nhân lành nghề”, nhằm đáp
ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước .
b. Chăm sóc sức khoẻ cho người lao động .
Giống như giáo dục đào tạo, sức khoẻ làm tăng chất lượng của nguồn nhân lực cả
hiện tại và tương lai . Người lao động có sức khoẻ tốt có thểm
m
a
a
n
n
g
.
.V
V
i
i
ệ
ệ
c
cl
l
à
à
m
m-
-
t
t
h
h
ấ
Trong thời kỳ này việc tuyển dụng sắp xếp, bố trí, sử dụng lao động theo một kế
hoạch đã định sẵn từ trung ương đến địa phương, các nghành sản xuất trong xã hội do nhà
nước quản lí, sản xuất kinh doanh theo kế hoạch nhà nước giao, lỗ lãi đều do nhà nước
gánh chịu, trong cơ chế này quan điểm việc làm được coi như là sự bắt buộc, hạn chế lựa
chọn và di chuyển lao động, cột chặt người lao động vào ruộng đất và xí nghiệp, phân
phối bình quân, lợi ích cá nhân bị coi nhẹ chính điều đó là nguyên nhân làm cho người
lao động thờ ơ với kết quả lao động cụ thể của mình không quan tâm đến chất lượng sản
phẩm, không phát huy được tính năng động sáng tạo của cá nhân trong quá trình sản xuất.
Xã hội không thừa nhận hiện tượng thất nghiệp, thiếu việc làm, lao động dư thừa, việc
làm không đầy đủ.
Trong chiến lược ổn định kinh tế xã hội đến năm 2000 được thông qua tại đại hội toàn
quốc lần thứ VII vấn đề việc làm đã được đề cập đến một cách mới mẻ :" Mọi nghề mang lại
thu nhập cho người lao động và có ích cho xã hội đều được tôn trọng ". Đây là một luận điểm
có tính khái quát, tuy nhiên trong khi xã hội mới chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa thì “ Tính có ích” cho xã hội cần phải được định lượng bằng pháp luật.
Vì vậy, vấn đề việc làm theo quy định tại điều 13 của Bộ Luật Lao Động Việt Nam
ban hành năm 1994:
1
" Mọi hoạt động lao động có ích không bị pháp luật ngăn cấm và đem lại
thu nhập lao người lao động đều được coi là việc làm ".
Như vậy theo quy định trên việc làm là những hoạt động liên quan đến :
- Các hoạt động có ích
- Các hoạt động kinh tế không bị pháp luật ngăn cấm .
- Các hoạt động có ích cho bản thân hay xã hội .
b. Phân loại :
Thực tế người ta phân chia việc làm thành hai nhóm :
Việc làm đầy đủ :
- Là sự thoả mãn nhu cầu về việc làm cho bất cứ ai có khả năng lao động trong nền
kinh tế quốc dân hay nói cách khác việc làm đầy đủ là trạng thái mà mỗi người có khả
năng lao động, muốn có việc làm thì có thể tìm được việc làm trong thời gian ngắn. Theo
quan điểm này, đó chính là trạng thái cân bằng của thị trường lao động của mỗi quốc gia .
Việc làm hợp lí :
Phản ánh khả năng tạo ra việc làm hợp lý theo trình độ và năng lực của người lao
động nhằm đạt hiệu quả cao nhất hay nói khác đi trình độ học vấn, nghề nghiệp của ngời
lao động được khai thác một cách tốt nhất .
Việc phân nhóm trên chỉ mang tính chất tương đối và phản ánh khái niệm việc làm
theo số lượng ( việc làm đầy đủ ) và theo chất lượng (việc làm hợp lí ). Theo nguyên tắc
của nền kinh tế thị trường, chỉ có khái niệm việc làm hợp lí và là tiêu chí quan trọng để
thực hiện phân công lao động xã hôị .
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây chúng ta chỉ lưu ý nhiều đến khái
niệm việc làm đầy đủ, việc làm cho tất cả mọi người, không có khái niệm thất nghiệp, không
quan tâm đến sự hợp lí của lao động, do đó lao động với năng suất thấp hiệu quả kém kìm
hãm sự phát triển của nền kinh tế .
Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội là nhằm thoả mãn nhu cầu việc làm cho mọi
người lao động muốn lao động trong xã hội nhưng đồng thời phải đảm bảo tính hơp lý và
1
hiệu quả của lao động. Việc sử dụng lao động hợp lí có thể loại bỏ nhiều người lao động
ra khỏi quá trình sản xuất và họ phải tự đào tạo lại mình cho phù hợp với các cơ hội việc
làm trong cơ chế thị trường Một mặt họ phải tự đào tạo lại nhưng mặt khác nhà nước
hệ thống các chính sách của nhà nước như: Chính sách thu hút lao động, tạo diều kiện
môi trường thuận lợi cho việc kết hợp hai yếu tố đó tuy nhiên kết quả như thế nào còn
phụ thuộc vào khả năng quản lí , thị trường tiêu thụ
Theo các nhà kinh tế tạo việc làm là một quá trình gồm 4 khâu, bốn khâu trên có
liên hệ chặt chẽ với nhau và không thể tách rời.
* Một là tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất ( Vốn đầu tư, tiến bộ khoa
học kĩ thuật áp dụng vào sản xuất, khả năng quản lí , sử dụng kĩ thuật, công nghệ).
* Hai là tao ra số lượng và chất lượng sức lao động ( Quy mô dân số , lao động,
giáo dục dào tạo , phát triển nguồn nhân lực .).
* Ba là hình thành môi trường thuận lợi Có sự kết hợp các yếu tố sức lao động và
tư liệu sản xuất. Mổi trường đó là sự kết hơp giữa các yếu tố trong hệ thống chính sách
phát triển kinh tế xẫ hội, chính sách khuyến khích , thu hút người lao động , chính sách
bảo hộ sản xuất , chính sách thất nghiệp ,chính sách khuyến khích đầu tư
* Bốn là các giải pháp duy trì việc làm ổn định: quản lí , điều hành, thị trường ,khai
thác có hiệu quả công suất máy móc thiết bị , nâng cao chất lượng lao động
1.3 Một số mô hình mới về giải quyết việc làm nước ta
a. Một số mâu thuẫn trong vấn đề GQVL cho người lao động ở nước ta
Mâu thuẫn giữa nhu cầu việc làm ngày càng lớn với khả năng giải quyết còn rất
hạn chế, trong khi tiềm năng phát triển kinh tế tạo mở việc làm cũng rất lớn, song chưa
được khai thác và phát huy, chưa gắn lao động với tiềm năng đất đai và thiên nhiên .
Mâu thuẫn giữa lao động việc làm ngày càng gay gắt khi đất nước đang tiến hành
công cuộc đổi mới cùng với điều chỉnh cơ cấu kinh tế phải tổ chức lại lao động trên toàn xã
hội , chuyển dịch cơ cấu lao động cho phù hợp với cơ cấu mới của nền kinh tế tất yếu dẫn
1
đến hiện tượng và xu thế đẩy lao động tách khỏi việc làm, và do đó làm cho một bộ phận
o
ođ
đ
ộ
ộ
n
n
g
g.
.b. Một số kết luận từ mô hình tạo việc làm ở các nước
- Một là: tạo việc làm phụ thuộc vào mức đầu tư của nhà nước và tư nhân ( trong và
ngoài nước). Khi mức đầu tư tăng sẽ có nhiều cơ hội có việc làm, các nước đang phát triển
có mức đầu tư từ nhà nước thấp, do vậy phải chú trọng khuyến khích đầu tư của tư nhân
trong nước và nước ngoài .
-Hai là : các nước đang phát triển đầu tư chủ yếu vào khu vực thành thị vì lý do tỷ
lệ lợi nhuận / đầu tư cao. Việc này đã dẫn đến cơ hội có việc làm nhiều hơn ở đô thị
nhưng chưa chắc đã dẫn đến giảm đựơc tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực đô thị.
- Ba là: có sự chuyển dịch lao động đô thị - nông thôn nên chính sách việc làm phải
chú ý đến cả hai khu vực đô thị và nông thôn, công nghịêp và nông nghiệp. không chú ý
đầu tư khu vực nông thôn có thể dẫn đến tăng tỷ lệ thất nghiệp cao ở đô thị .
- Bốn là: tạo việc làm liên quan trực tiếp đến quyền lợi người sử dụng lao dộng.
kinh tế xã hội của từng địa phương.
2. Thất nghiệp.
1
2. 1 Khái niệm
a. Thất nghịêp-
Cũng như vấn đề nhận thức về nền kinh tế hàng hoá trước đây, chúng ta đã sai lầm
cho rằng: Thất nghiệp là phạm trù gắn liền với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và khẳng
định trong chế độ xã hội chủ nghĩa không có khái niệm
thất nghiệp. Đến khi chuyển sang
nền kinh tế hàng hoá thì quan niệm đó mới được thay đổi. Thất nghiệp gắn liền với nền
sản xuất hàng hoá và không là điều gì xấu xa, tồi tệ. Vấn đề là ở chỗ làm sao để tỷ lệ thất
nghiệp ở mức thấp nhất hợp lý, đặc biệt là thái độ chính sách của nhà nước quan niệm và
dư luận của xã hội về vấn đề này như thế nào đó mới là tiêu chí thể hiện tính ưu việt của
một chế độ xã hội.
Thất nghiệp theo đúng nghĩa của từ là sự mất việc làm hay sự tách rời sức lao
động khỏi tư liệu sản xuất. Hiện nay còn có những cách hiểu khác nhau về vấn đề thất
nghiệp .
Có quan niệm cho rằng: Thất nghiệp là hiện tượng gồm những người mất thu nhập
do không có khả năng tìm được việc làm trong khi họ còn trong độ tuổi lao động, có khả
năng lao động mốn làm việc và đã đăng kí ở cơ quan môi giới về lao động nhưng chưa
được giải quyết.
Một quan niệm khác cho rằng: Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một người
trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền
công đang thịnh hành, còn những người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao