Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Phạm Văn Vận
MỤC LỤC
Đặc biệt, trong lĩnh vực lao động: ........................................................................................... 53
Ngô Thị Hoàng An Lớp: Kế hoạch 46A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Phạm Văn Vận
DANH MỤC BẢNG
Đặc biệt, trong lĩnh vực lao động: ........................................................................................... 53
Ngô Thị Hoàng An Lớp: Kế hoạch 46A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Phạm Văn Vận
MỞ ĐẦU
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, con người Việt Nam đã kiên cường đấu
tranh và giành thắng lợi trước rất nhiều kẻ thù xâm lược, từ đó xây dựng và
phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá để có một nước Việt Nam độc lập, tự do
và hạnh phúc như ngày nay. Có được điều đó là do sự hy sinh xương máu
trong chiến tranh cũng như công hiến sức lực trong hoà bình của các thế hệ
người Việt Nam, cả nam và nữ.
Nếu trong xã hội phong kiến xưa kia, người phụ nữ chưa được coi trọng
như không được học tập, không được làm quan cai trị thì qua các thời kỳ, vai
trò của người phụ nữ ngày càng được nâng lên. Đến nay, người phụ nữ đã
bình đẳng với nam giới trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Lao
động nữ hiện nay đã chiếm tới 50,6% lực lượng lao động xã hội, đóng góp
một phần rất lớn vào tăng trưởng kinh tế và sự phát triển của đất nước.
Đảng và Nhà nước ta cũng thể hiện sự quan tâm, ưu đãi đặc biệt với đối
tượng này bởi người phụ nữ ngoài việc thực hiện nghĩa vụ lao động như nam
giới, họ còn phải đảm nhận chức năng làm mẹ và chăm sóc gia đình. Điều đó
thể hiện qua việc ban hành các văn bản pháp luật dành riêng cho lao động nữ
như tại Chương X, Bộ Luật lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam và rất nhiều Nghị định, Nghị quyết, thông tư… để bảo đảm công
bằng trong lao động - việc làm đối với người lao động nữ.
Tuy nhiên, hiện nay, các quy định đối với lao động nữ chưa được thực
hiện một cách nghiêm túc và đầy đủ tại khu vực các khu công nghiệp, khu chế
4
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Phạm Văn Vận
Chương I
Sự cần thiết hoàn thiện chính sách lao động - việc làm
cho lao động nữ trong các khu công nghiệp và khu chế xuất
I. Đặc điểm lao động nữ và vấn đề việc làm cho lao động nữ
1. Đặc điểm lao động nữ
1.1. Giới tính và Giới
Giữa nam giới và nữ giới có những sự giống và khác, sự đối lập và
bổ sung cho nhau. Đó là những khác biệt về thuộc tính xã hội và thuộc
tính sinh học.
Về mặt sinh học, Giới tính là thuật ngữ để chỉ những khác biệt về mặt
sinh học nói chung giữa nam và nữ. Những đặc điểm về giới tính như hình
dáng cơ thể, nữ yếu đuối, nam mạnh mẽ, các cơ quan sinh sản và chức năng
của nó… là bẩm sinh và không thể thay đổi được. Những đặc điểm về cơ thể
cũng là chung cho tất cả đàn ông hay phụ nữ, ở bất kỳ dân tộc, chủng tộc hay
địa phương nào trên trái đất.
Về mặt xã hội, Giới đề cập đến những khác biệt về các mối quan hệ xã
hội giữa nam và nữ được nhận biết. Nó chịu ảnh hưởng của những hoàn cảnh
xã hội khác nhau nên có tính lịch sử cụ thể, thay đổi theo không gian và thời
gian. Những đặc trưng về giới như cách ứng xử của nam giới và nữ giới, cách
đối xử với giới nam và giới nữ, sự phân công giữa họ trong lao động xã hội và
lao động gia đình, sự hưởng thụ vật chất và văn hoá, lối sống của họ… tất cả
những yếu tố này đều chịu ảnh hưởng của những nét văn hoá đặc trưng riêng
biệt tại từng khu vực, từng quốc gia, từng vùng và không giống nhau cho tất
cả đàn ông và phụ nữ trên toàn thế giới.
Ngô Thị Hoàng An Lớp: Kế hoạch 46A
5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Phạm Văn Vận
Trình độ văn minh của nhân loại ở mỗi thời kỳ lịch sử cũng đã để lại
Con số này chỉ dao động đôi chút vào mùa vụ. Riêng với nữ nông dân ở miền
Bắc, Bắc Trung Bộ và miền núi, thường làm việc 14 giờ/ngày. Phụ nữ cô đơn
và phụ nữ nghèo là những người có ngày làm việc dài nhất, 16 giờ/ngày.
Cũng từ khảo sát trên còn cho biết chi tiết là phụ nữ nông thôn thường phải
dành mất 6 giờ/ngày cho các công việc gia đình (nhiều gấp 12 lần so với nam
giới). Do phải làm việc nhiều nên thời gian nghỉ ngơi của phụ nữ rất ít, hậu
quả là nhiều phụ nữ bị kiệt sức, mỏi mệt, suy nhược cơ thể, đau yếu, sinh
bệnh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, thậm chí cả tính mạng.
Bên cạnh thời gian lao động kéo dài, công tác bảo hộ lao động cho phụ
nữ cũng chưa được quan tâm đúng mức. Ước tính hiện nay, chỉ có 41,7%
doanh nghiệp có cán bộ chuyên trách về bảo hiểm lao động, do đó, gần một
nửa phụ nữ hầu như không được huấn luyện định kỳ về bảo hộ lao động và
chỉ có 1/3 số công nhân nữ biết các quy tắc an toàn vệ sinh lao động.
Đáng lo hơn, gần 70% lao động nữ trong các doanh nghiệp thường xuyên
phải tiếp xúc với các yếu tố độc hại. Một số kết quả nghiên cứu về điều kiện làm
việc và sức khỏe nữ công nhân cho thấy có tới 85,64% lao động nữ thuộc ngành
công nghiệp nhẹ có sức khỏe từ loại hai trở xuống, 25,96% bị mắc bệnh bụi phổi
bông, 10,8% bị mắc bênh bụi phổi silicon và 15,12% bị mắc bệnh sạm da nghề
nghiệp; 80% nữ công nhân ngành đường sắt bị thoái hóa cột sống, 60% bị dãn
tĩnh mạch kheo do mang vác nặng. Một số bệnh thường gặp ở lao động nữ làm
việc trong điều kiện công nghiệp ô nhiễm (bụi, ồn, hơi khí độc hại, nhiệt độ vượt
tiêu chuẩn cho phép) là bệnh bụi phổi, viêm xạm da, điếc, nhiễm độc chì... Tỉ lệ
nữ bị nhiễm bệnh do môi trường độc hại là 7,7%.
Lao động nặng nhọc, thiếu an toàn và mất vệ sinh cùng với điều kiện
sinh hoạt khó khăn và thiếu chăm sóc y tế đều có ảnh hưởng xấu tới sức khỏe
Ngô Thị Hoàng An Lớp: Kế hoạch 46A
7
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Phạm Văn Vận
người mẹ và con cái. Các số liệu của cơ sở y tế cho thấy tỷ lệ phụ nữ mang
thai thiếu máu và trẻ em bị suy dinh dưỡng khá cao. Trong cả nước có 77%
là 1,3%, trong khi nam là 2,5%.
Bảng 1.1: Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên theo trình độ chuyên môn và
giới năm 1993 (%)
Trình độ chuyên môn Nữ Nam Chung
Không có trình độ công nhân kỹ thuật 93.3 88.1 90.9
Công nhân kỹ thuật có bằng 0.9 3.7 2.2
Công nhân kỹ thuật không có bằng 1.2 2.6 1.8
Trung cấp 3.3 3.1 3.2
Cao đẳng, Đại học 1.9 2.5 1.3
Nguồn: Trích theo Lê Thi (Chủ biên),
Vấn đề tạo việc làm, tămg thu nhập, nâng cao địa vị người phụ nữ hiện nay.
Nhà xuất bản khoa học và xã hội. Hà Nội 1994. Tr.17.
Xét cơ cấu trình độ chuyên môn của dân số từ 13 tuổi trở lên năm 1999,
tỉ lệ nữ không được đào tạo về chuyên môn kỹ thuật là 93,92%, cao hơn tỷ lệ
nam giới là 90,75%. Cũng ở thời điểm 1999, trừ bậc trung học chuyên nghiệp,
tỷ lệ nữ được đào tạo ở các cấp khác nhìn chung đều thấp hơn nam, đặc biệt là
ở cấp trên đại học.
Ngô Thị Hoàng An Lớp: Kế hoạch 46A
9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Phạm Văn Vận
Bảng 1.2: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của phụ nữ và
nam giới 1999 (%)
Trình độ Nữ Nam Chung
Không có chuyên môn kỹ thuật 93.92 90.75 92.40
Công nhân kỹ thuật 1.17 3.46 2.27
Trung học công nghiệp 2.87 2.72 2.80
Cao đẳng, Đại học 1.94 2.92 2.40
Trên Đại học 0.02 0.08 0.05
Nguồn: Theo tổng điều tra dân số 1999
Công tác phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là việc đào tạo và bồi dưỡng
chính quy, tức là cha truyền con nối và tự học tự làm. Trong tổng số lao động
nông nghiệp chỉ có 0,82% được đào tạo ở các trường cao đẳng, đại học và
4,75% ở các trường trung học chuyên nghiệp hoặc trường công nhân kỹ thuật.
Trong khu vực quốc doanh, tỷ lệ lao động có tay nghề chung cho cả nam và
nữ chỉ chiếm 3 - 4%, thấp hơn ở khu vực tư nhân, tỷ lệ là 6 - 7%. Trong khi
các doanh nghiệp ngày càng có đòi hỏi cao về trình độ chuyên môn, tay nghề
của lao động thì có tới 80% số người đến tuổi lao động không có kỹ năng
nghề nghiệp.
Trong số những người có nhu cầu lao động đăng ký tại các trug tâm xúc
tiến việc làm ở Hà Nội thì có tới 77% chưa được đào tạo về nghề nghiệp, 52%
mới chỉ có trình độ học vấn phổ thông cơ sở.
Một mặt, nội dung và chất lượng đào tạo chuyên môn, tay nghề chậm cải
tiến, không theo kịp yêu cầu đa dạng và chuyên môn sâu của xã hội. Mặt
khác, nền kinh tế nặng về lao động chân tay, thủ công đang thời kỳ chuyển
đổi chưa tạo ra nhiều ngành nghè đòi hỏi kỹ thuật, công nghệ và tri thức cao.
Kết quả là hiện tượng thừa trí thức, một nghịch lý đang diễn ra ở nước ta. Một
số người có trình độ đại học, cao đẳng không tìm được việc làm có xu hướng
tăng lên trong thời gian gần đây. Năm 2007, số sinh viên tốt nghiệp đại học là
Ngô Thị Hoàng An Lớp: Kế hoạch 46A
11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Phạm Văn Vận
161 411, trong số đó có tới khoảng 101 690 người không có việc làm ngay,
chiếm tỷ lệ sinh viên ra trường chưa có việc làm lên tới 63%. Còn tại thời
điểm giữa những năm 90, con số này ước tính là 14 000 sinh viên, tốt nghiệp
ở 55 trường đại học, cao đẳng trong cả nước chưa có việc làm. Tại Hà Nội, tỷ
lệ số sinh viên tốt nghiệp chưa có việc làm tăng từ 13,4% năm 1990 lên
35,4% năm 1992.
Phụ nữ trí thức, lực lượng đi đầu trong khoa học và công nghệ, trong
công nghiệp hoá và hiện đại hóa đất nước đang có biểu hiện hẫng hụt về đội
ngũ, tụt hậu về kiến thức so với yêu cầu. Khảo sát tại đại học Tổng hợp Hà
những đóng góp vô cùng to lớn. Ngày nay, chị em phụ nữ lại tiếp tục sát cánh
cùng với nam giới phấn đấu xây dựng đất nước vì mục tiêu "Dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh".
Các tầng lớp phụ nữ đã đóng góp quan trọng vào sự nghiệp tăng trưởng
kinh tế và những thành tựu, tiến bộ trong lĩnh vực văn hoá - xã hội, đảm bảo
an ninh quốc phòng của đất nước. Hơn 90% phụ nữ biết đọc, biết viết. Tỷ lệ
nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%; thạc sĩ 33,95%; tiến sĩ 25,69%. Trong giới
báo chí, tỷ lệ các nhà báo nữ cũng ước tính lên tới gần 30%. Phụ nữ còn
chiếm ưu thế trong một số ngành như giáo dục, y tế, và dịch vụ. Trong công
tác chuyên môn, phụ nữ chiếm số đông trong các bộ môn văn học, ngôn ngữ,
y dược, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và kinh tế. Nếu tính tổng số giờ
Ngô Thị Hoàng An Lớp: Kế hoạch 46A
13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Phạm Văn Vận
làm việc của nữ giới (kể cả ở nhà và bên ngoài) cao hơn rất nhiều so với nam
giới. Ngoài ra, có tới 71% phụ nữ từ 13 tuổi trở lên là những người có thu
nhập. Số hộ nghèo do phụ nữ làm chủ đã giảm từ 37% năm 1998 xuống còn
8% năm 2004.... Đây là những con số sinh động, là một bằng chứng rõ ràng
chứng minh hiệu quả của những chính sách lớn dành cho phụ nữ của Đảng và
Nhà nước cũng như sự sáng tạo, cố gắng và phấn đấu hết mình của phụ nữ
Việt Nam.
Trong buổi tiếp các trưởng đoàn dự cuộc họp Mạng lưới lãnh đạo nữ lần
thứ 11 (WLN) của diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương
(APEC) diễn ra vào tháng 9 – 2006 tại Hà Nội, Chủ tịch nước Nguyễn Minh
Triết đã khẳng định, Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam nhận thức rõ về
vai trò của phụ nữ trong phát triển và hội nhập quốc tế. Chủ tịch nêu rõ: "Ở
Việt Nam, vai trò của phụ nữ rất quan trọng. Trong cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc, phụ nữ tham gia rất tích cực trong nhiều hoạt động. Trong thời kỳ
hòa bình và xây dựng đất nước, phụ nữ giữ cương vị lãnh đạo ở mọi lĩnh vực
kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật… Vai trò của phụ nữ hoàn toàn xứng
của phụ nữ trong đời sống xã hội của nhân loại. Biểu hiện đơn cử là chỉ số
giới của nước ta liên tục được cải thiện, tăng từ 0,668 năm 1998 lên 0,687
năm 2003 và 0,689 năm 2004 và xếp thứ 87 trên 144 quốc gia trên thế giới.
Kết quả đó còn thể hiện qua nhiều chỉ tiêu khác trong việc thực hiện các văn
kiện quốc tế như Công ước CEDAW (Công ước về xoá bỏ mọi hình thức
phân biệt đối xử với phụ nữ), Cương lĩnh hành động Bắc Kinh, Mục tiêu phát
triển thiên niên kỷ.
Với tỷ lệ 27,3% đại biểu Quốc hội là nữ, Việt Nam được xếp thứ nhất ở
Châu á, thứ hai trong khu vực Châu á - Thái Bình Dương và thứ 9 trong Liên
minh Nghị viện thế giới, đã cho thấy vai trò, vị thế và tiếng nói của người phụ
nữ Việt Nam không ngừng được cải thiện và nâng lên một tầm cao mới. Tỷ lệ
Ngô Thị Hoàng An Lớp: Kế hoạch 46A
15
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Phạm Văn Vận
nữ giữ các vị trí chủ chốt mang tính quyết định trong các doanh nghiệp là
không nhỏ. Đặc biệt, với năng lực, trí tuệ và đặc điểm giới tính, trong lĩnh vực
sản xuất, kinh doanh, tỷ lệ phụ nữ thành công cũng rất cao. Tuy nhiên, so với
nam giới, tỷ lệ nữ giữ các vị trí chủ chốt trong các cơ quan hành chính sự
nghiệp, đơn vị kinh tế vẫn còn thấp. Mặc dù vậy, với xu thế hiện nay, phần
lớn chị em ngày càng khẳng định năng lực hoạt động của mình trong mọi lĩnh
vực và với sự lãnh đạo của Đảng sẽ tạo được những chuyển biến tích cực,
mạnh mẽ về nhận thức đối với vai trò của phụ nữ trong đời sống xã hội; công
tác quy hoạch, đào tạo cán bộ nữ được chăm lo tốt hơn, từ đó tỷ lệ nữ giữ vai
trò chủ chốt trong các cơ quan, đơn vị sẽ được nâng lên trong những năm tới.
Như vậy, có thể nói, phụ nữ ngày nay đã có mặt ở hầu hết các lĩnh vực
hoạt động kinh tế xã hội và đóng góp công lao to lớn vào sự phát triển của đất
nước trong thời kỳ đổi mới, hội nhập.
2. Những việc làm phù hợp với lao động nữ
Trong xã hội hiện nay bao gồm rất nhiều các ngành nghề khác nhau. Mỗi
ngành nghề đều có những đặc thù và yêu cầu công việc riêng đòi hỏi người
- Nhóm những công việc cấm sử dụng lao động nữ đang trong thời kỳ có
thai và cho con bú (12 tháng tuổi) (83 công việc)
Trình bày chi tiết tại Phụ lục 1: Thông tư liên tịch số 03/TT-LB về
những công việc cấm sử dụng lao động nữ.
Nhiều công việc cấm sử dụng lao động nữ trong Thông tư này cũng là
những công việc bị cấm trong nhiều Công ước của ILO. Như, Điều 3 - Công
ước Chì trắng (sơn) số 13, ban hành năm 1921 quy định cấm sử dụng lao
động nữ tiếp xúc với chất chì trắng. Công ước Benzen số 136 năm 1971 cấm
lao động nữ tiếp xúc với các chất Benzen. Công ước số 45 năm 1953 về việc
Ngô Thị Hoàng An Lớp: Kế hoạch 46A
17
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Phạm Văn Vận
cấm sử dụng lao động nữ làm việc dưới lòng đất (Việt Nam đã phê chuẩn
công ước này).
II. Sự cần thiết phải hoàn thiện chính sách lao động - việc làm cho lao
động nữ trong các khu công nghiệp và khu chế xuất
1. Tình hình phát triển của các khu công nghiệp và khu chế xuất
Làn sóng đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất trong những
năm gần đây đã tạo nên một diện mạo mới cho nền kinh tế địa phương và các
khu công nghiệp, khu chế xuất đã góp phần rất quan trọng trong sự nghiệp
phát triển công nghiệp của đất nước.
Theo Báo cáo tổng kết của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại Hội nghị tổng kết
15 năm (1990 – 2005) xây dựng và phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất
thì: 15 năm xây dựng và phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất đã đạt được
các mục tiêu đề ra: hình thành hệ thống khu công nghiệp, khu chế xuất trên cơ
sở chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cả nước; chiến
lược, quy hoạch phát triển ngành, địa phương và vùng lãnh thổ.
Tính đến cuối năm 2005, đã có 131 khu công nghiệp, khu chế xuất được
Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập phân bố khắp 47 tỉnh, thành với
tổng diện tích đất tự nhiên gần 27.000 ha, trong đó đất công nghiệp có thể cho
Tuy nhiên, việc phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất trong thời
gian qua cũng đã bộc lộ một số hạn chế như: chất lượng quy hoạch còn thấp,
tổ chức thực hiện quy hoạch chưa triệt để; hiệu quả sử dụng đất chưa cao;
chất lượng lao động còn kém (mới có 4 - 5% lao động có trình độ đại học,
trên đại học; 4 - 5% kỹ thuật viên; 30% công nhân kỹ thuật có qua đào tạo;
còn lại hơn 60% là lao động giản đơn); đời sống của người lao động còn
nhiều bức xúc; môi trường trong khu công nghiệp, khu chế xuất còn nhiều
Ngô Thị Hoàng An Lớp: Kế hoạch 46A
19
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Phạm Văn Vận
vấn đề phải quan tâm, như hiện nay chỉ có 33 khu công nghiệp, khu chế xuất
xây dựng công trình xử lý nước thải tập trung, còn lại các khu khác đều thải
trực tiếp nước thải ra môi trường.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết từ nay đến năm 2015 sẽ tiếp tục đầu tư
đồng bộ, thành lập mới có chọn lọc khoảng 23.000 - 26.000 ha đất khu công
nghiệp; phấn đấu đạt tỷ lệ lấp đầy bình quân trên cả nước trên 60% diện tích;
phấn đấu thu hút thêm 6.500-6.800 dự án trong và ngoài nước; với tổng vốn
khoảng 36 - 39 tỷ USD, thực hiện đạt khoảng 50%. Và giai đoạn đến năm
2020 sẽ hoàn thiện cơ bản mạng lưới khu công nghiệp, khu chế xuất trên toàn
lãnh thổ, với diện tích 60.000 - 80.000 ha. Theo ước tính nhu cầu về vốn để
phát triển hạ tầng ngoài các khu chức năng của các khu kinh tế còn khoảng
2.000-3.000 tỉ đồng/khu kinh tế (thời kỳ 2006 - 2010). Với 8 khu kinh tế đã
được thành lập từ nay đến 2010 nhu cầu vốn phát triển hạ tầng ngoài các khu
chức năng của các khu kinh tế này ước khoảng 16.000 - 24.000 tỷ đồng.
Hướng phát triển các khu kinh tế đến năm 2020 xác định: để nền kinh tế
đạt mức tăng trưởng 8%/năm, phát triển mạnh các vùng lãnh thổ, ven biển với
các khu kinh tế lớn gắn với các đô thị làm động lực để hội nhập kinh tế mạnh
mẽ với bên ngoài; phấn đấu vùng ven biển và các vùng kinh tế trọng điểm có
mức tăng trưởng gấp 1,3 - 1,4 lần mức tăng trưởng chung của cả nước.
Phụ lục 2 trình bày: Danh sách các khu công nghiệp, khu chế xuất đến
nữ nào cũng nhận được sự thông cảm, chia sẻ từ người chồng, của xã hội mà
Ngô Thị Hoàng An Lớp: Kế hoạch 46A
21
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Phạm Văn Vận
thực tế nhiều trường hợp người phụ nữ đành phải lựa chọn hạnh phúc gia đình
hoặc cơ hội học tập thăng tiến… Người xưa có câu “hạnh phúc người đàn ông
là sự nghiệp, còn sự nghiệp của người đàn bà là tình yêu”, câu nói đó phần
nào phản ánh những hạn chế về giới, người phụ nữ thường xem hạnh phúc gia
đình là điều quý giá và khi bắt buộc phải lựa chọn thì đa số họ sẽ chọn hạnh
phúc gia đình.
Những đặc điểm của lao động nữ như vậy đòi hỏi pháp luật phải hoàn
thiện hơn nữa những quy định riêng giúp họ vừa thực hiện nghĩa vụ lao động,
vừa đảm bảo chức năng làm mẹ và chăm sóc gia đình, tạo điều kiện cho lao
động nữ phát triển tài năng.
2.2. Do tính chất công việc trong khu công nghiệp, khu chế xuất nói riêng
Đối với lao động nữ nói chung là vậy, nhưng đối với lao động nữ trong
các khu công nghiệp, khu chế xuất thì họ còn gặp phải rất nhiều vấn đề khó
khăn hơn nữa.
Sự phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất ngày càng thu hút nhiều
lao động đến làm việc, trong đó tỷ lệ nữ chiếm khá cao, riêng các ngành dệt,
may mặc, giày da - tỷ lệ này có thể lên đến 80%. Họ thường có độ tuổi từ 18
-30, độ tuổi vừa rời khỏi ghế nhà trường, hoặc chia tay với đồng ruộng để tìm
hướng thay đổi cuộc đời.
Bên cạnh niềm vui có được việc làm, những lao động nữ đến đây còn
gặp phải hàng ngàn khó khăn. Trong công việc, họ phải làm việc liên tục mỗi
ngày từ 10 – 12 tiếng, nếu có tăng ca, giãn giờ thì thời gian lao động của họ
lên tới 14 tiếng/ngày. Tuy làm việc vất vả như vậy nhưng đồng lương họ nhận
được còn quá thấp và chưa tương xứng với sức lao động. Ví dụ như thu nhập
cá nhân của công nhân dệt - may, hoặc giày dép tại thành phố Hồ Chí Minh,
Đồng Nai, Bình Dương vào khoảng 1,1 - 1,3 triệu đồng/người/tháng, khu vực
được điều kiện làm việc và đời sống xã hội tốt đẹp hơn.
Ngô Thị Hoàng An Lớp: Kế hoạch 46A
23
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS. Phạm Văn Vận
2.3. Do các chính sách hiện hành chưa hoàn thiện và chưa được thực hiện
nghiêm túc, đầy đủ trong thực tế các khu công nghiệp, khu chế xuất
Có thể thấy, Bộ luật lao động cũng như các chính sách về lao động hiện
nay mới chỉ có những quy định đối với lao động nữ và người sử dụng lao
động nữ nói chung mà chưa có các quy định riêng cho lao động nữ trong các
khu công nghiệp, khu chế xuất _ một bộ phận có tỷ lệ nữ tham gia lao động
rất cao và hiện đang gặp phải rất nhiều khó khăn.
Hơn nữa, những chính sách đã ban hành hiện nay cũng không được thực
hiện nghiêm túc và đầy đủ tại các khu công nghiệp, khu chế xuất. Hầu hết,
các chủ doanh nghiệp tại đây mới chỉ thực hiện một cách đối phó các điều
luật dành cho lao động nữ khiến những công nhân ở đây rất bất bình và dẫn
đến nhiều vụ đình công trong thời gian qua.
Với những đặc điểm của lao động nữ nói chung, của điều kiện lao động
tại khu công nghiệp, khu chế xuất nói riêng và việc thực hiện các chính sách
dành cho lao động nữ một cách đối phó như hiện nay đòi hỏi chúng ta phải
tiếp tục hoàn thiện các chính sách về việc làm dành cho lao động nữ trong các
khu công nghiệp để đảm bảo cho họ có một đời sống tốt đẹp hơn.
III. Các chính sách lao động - việc làm đối với lao động nữ hiện nay
Lao động nữ hiện nay chiếm tỉ lệ cao trong nguồn lao động và có những
đóng góp rất lớn vào sự phát triển kinh tế, xã hội. Hơn nữa, chức năng làm mẹ
của người phụ nữ cũng ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe, sự hình thành và
phát triển nhân cách của các thế hệ công dân trong tương lai. Vì thế lao động
nữ luôn là đối tượng được Đảng và Nhà nước quan tâm, thể hiện ở các Bộ
luật, nghị định và các chính sách liên quan.
Nếu xét theo chiều dọc, các quy định đối với lao động nữ được ban hành
tại văn bản cao nhất là Bộ Luật lao động – Chương X: Những quy định riêng
Ngô Thị Hoàng An Lớp: Kế hoạch 46A
25