lí luận chủ nghĩa mác- lê- nin về quá độ đi lên cnxh - Pdf 11


LUẬN VĂN: Lí luận chủ nghĩa Mác- Lê- nin
về quá độ đi lên CNXH

Lời nói đầu
Khi Liên Xô và các nước XHCH Đông Âu sụp đổ, các thế lực chống cộng đó hớ hửng
cho rằng: “CHXH là sai lầm của lịch sử, CNTB là chế độ xó hội vĩnh hằng ”. Ở nước ta

tiến bộ của phương thức sản xuất mới đó bắt đầu xuất hiện. Nhưng vỡ mới ra đời nên
cũn non yếu .Vỡ vậy lớ luận của chủ nghĩa Mỏc-Lờ nin khẳng định Thời kỡ quỏ độ là
cả một thời kỡ cải biến cỏch mạng khụng ngừng và triệt để .Từ một phương thức sản
xuất này sang một phương thức sản xuất khác.Trong thời kỡ quỏ độ đan xen những yếu
tố kinh tế của cả phương thức sản xuất cũ và mới.Vỡ vậy nú diễn ra một cuộc đấu tranh
rất quuyết liệt trên cả phương diện kinh tế ,chính trị,xó hội.
Thời kỡ quỏ độ lên CNXH là thời kỡ cải biến cỏch mạng sõu sắc và toàn diện từ xó
hội cũ sang xó hội mới –Xó hội XHCN.
Về kinh tế: Đây là thời kỡ liờn quan đến nhiều mặt, nhiều bộ phận của CNTB xen
kẽ XHCN,tác động lẫn nhau ,lồng vào nhau .Có nghĩa là đây là thời kỡ tồn tại nhiều
hỡnh thức sở hữu về TLSXtương ứng với nó là tồn tại nhiều thành phần kinh tế ,cả kinh
tế XHCN ,kinh tế TBCN ,kinh tế hàng hoá nhỏ cùng tồn tại ,phát triển vừa hợp tác
thống nhất vừa đối lập, cạnh tranh gay gắt với nhau
Thời kỡ quỏ độ bắt đầu khi giai cấp vô sản giành được chính quyền và kết thúc khi
xây dựng xong về cơ bản cơ sở vật chất, kinh tế của CNXH.Thời kỡ quỏ độ lại được
chia thành nhiều bước nhỏ, bao nhiêu bước tuỳ thuộc vào điều kiện của từng nước.
Song các nước càng lạc hậu mà tiến lên CNXH thời kỡ quỏ độ càng dài, càng chia ra
nhiều bước nhỏ .
Phương thức sản xuất TBCN và hai giai đoạn của nó. Đặc điểm của sản xuất TBCN là dựa trên cơ sở bóc lột lao động làm thuê là sự tách rời
đối lập giữa tư liệu sản xuất với sức lao động .Vỡ vậy, CNTB chỉ xuất hiện khi cú hai

điều kiện: Có một lớp người được tự do về thân thể nhưng lại không có TLSX; và tiền
của phải tập trung vào tay một số ít người với một lượng đủ để lập các xí nghiệp
CNTB phát triển qua hai giai đoạn cơ bản là CNTB tự do cạnh tranh và CNTB độc
quyền hay chủ nghĩa đế quốc. Cạnh tranh TBCN là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt
giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ
hang hoá để thu được lợi nhuận tối đa. Dưới CNTB có hai hỡnh thức cạnh tranh chủ yếu

hội chớn muồi cho sự ra đời của xó hồi mới-xó hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn
thấp là xó hội XHCN .Trong mấy chục năm qua sự phát triển vũ bóo của cỏch mạng
KH-KT và cụng nghệ đó và đang kéo theo sự biến đổi có tính chất cách mạng của cơ
cấu kinh tế và quản lí kinh tế. Đang hỡnh thành một LLSX xó hội hoàn toàn mới cơ sở
kĩ thuật mới đang thay thế dần cơ sở kĩ thuật cũ.Do vậy ,CNTB sớm hay muộn cũng bi
thay thế bằng chế độ xó hội mới cao hơn phù hợp với cơ sở kĩ thuật mới- xó hội CSCN
mà giai đoạn thấp là CNXH. Tất nhiên sẽ là ấu trĩ nếu cho rằng chủ nghĩa tư bản sẽ bị
tiêu diệt một sớm một chiều.
2.Cỏc hỡnh thức đi lên CNXH.
Lớ luận của chủ nghĩa Mỏc – Lờ- nin chỉ rừ thời kỡ quỏ độ lên chủ nghĩa xó hội ở
cỏc quốc gia khụng nhất thiết giống nhau. Vỡ vậy có hai con đường đi đến mục tiêu
CNXH đó là: Quá độ phát triển tuần tự (quá độ trực tiếp) và quá độ phát triển nhảy vọt
(quá độ gián tiếp)
Đi lên CNXH theo con đường phát triển tuần tự có nghĩa là các quốc gia lần lượt
phải trải qua từng phương thức sản xuất từ thấp tới cao con đương này diễn ra lâu dài
nhưng chắc chắn. Cũn con đương quá độ phát triển nhảy vọt có nghĩa là các quốc gia
tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỡnh mà cú thể bỏ qua một thậm chớ một vài
phương thức trung gian .
Khi tiến hành phõn tớch hỡnh thỏi kinh tế -xó hội tư bản chủ nghĩa,C.Mac khẳng
định,sự phát triển của những hỡnh thỏi kinh tế xó hội là một quỏ trỡnh lịch sử tự
nhiờn,xong khụng phải quốc gia dõn tộc nào cũng nhất thiết phải trải qua tất cả cỏc
hỡnh thỏi-xó hội đó cú trong lịch sử.Do những điều kiện khách quan và chủ quan nhất
định,một quốc gia ,dân tộc nào đó có thể bỏ qua một hỡnh thỏi kinh tế-xó hội nhất định

nào đó ,có thể được rút ngắn và được làm dịu bớt những ''cơn đau đẻ''.Trong tác phẩm
Vấn đề xó hội ở nước Nga ,Ph. Ăng –ghen đó khẳng định ,nước Nga có thể ''rút ngắn
một khoảng cách đáng kể quá trỡnh phỏt triển lờn xó hộI XHCN và cú thể trỏnh được
phần lớn những đau khổ và những cuộc đấu tranh mà Tây Âu …phải trải qua''.Hơn
nữa,Người cũn cho rằng,''con đường phát triển rút ngắn như vậy …không chỉ đúng với
nước Nga,mà cũn với tất cả cỏc nước đang ở trong giai đoạn phát triển tiền TBCN''

của các hỡnh thỏi KT-XH là một quỏ trỡnh lịch sử tự nhiờn.Dự là phỏt triển tuần tự hay
nhảy vọt thỡ cũng đều là sự phát triển liên tục của LLSX ,mọi sự rút ngắn đều phải
nhằm mục đích cuối cùng là tạo ra sự vượt bậc ,thậm trí nhảy vọt của LLSX.Do
vậy,thực chất phát triển rút ngắn chí có thể là rút ngắn các giai đoạn hay bước đi trong
tiến trỡnh phỏt triển liờn tục của LLSX.
Tính tất yếu quá độ lên CNXH ở Việt Nam.
Theo Lê-nin để thực hiện con đường quá độ nhảy vọt thỡ cỏc quốc gia phải thiết lập
được những điều kiện cả bên trong và bên ngoài
Đối với điều kiện bên trong thỡ bắt buộc phải cú một Đảng của giai cấp vô sản
lónh đạo và Đảng đó phải liên minh được với những người lao động (nông dân)
Cũn đối với những điều kiện bên ngoài Lê-nin chỉ rừ phải cú một nước làm cách
mạng XHCN thành công giúp đỡ .Từ những điểm nói trên và thực tiễn sinh động của 17
năm tiến hành đổi mới đất nước,chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định rằng,con đường
phát triển quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN ở Việt Nam hiện nay là sự vận dụng
đúng đắn sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.Với Việt Nam,con
đường phát triển quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN là con đường phát triển tất
yếu,khách quan và hợp qui luật.Nước ta đi lên CNXH mặc dù từ một xuất phát điểm rất
thấp: Đó là một nền kinh tế lạc hậu nông nghiệp,kĩ thuật thủ công,năng xuất thấp, đất
nước lại liên tục trải qua những cuộc chiến tranh vệ quốc.Tuy vậy,trong thời quá độ đi
lên CNXH ở nước ta,chúng ta đó tạo lập được những khả năng hết sức to lớn cả về mặt
khách quan và chủ quan.
Khả năng về mặt khách quan mà chúng ta cần phải kể đến yếu tố thời đại mà cả
nhân loại đều hướng đến mục tiêu xây dựng một mô hỡnh nhà nước CNXH tiến bộ, yếu

tố thời đại đóng vai trũ tớch cực để hướng dẫn các cuộc phát triển nền kinh tế theo mô
hỡnh CNXH.Nước ta sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, Miền bắc nước ta
bước vào thời kỡ quỏ độ (1955),trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đó hỡnh thành ra hệ
thống kinh tế XHCN,tạo hậu thuẫn cả về tiềm lực kinh tế lẫn sức mạnh chớnh trị giỳp
nhõn dõn ta xõy dựng thành cụng CNXH.Sau khi đất nước thống nhất (30-4-1975) cả
nước ta bước vào thời kỡ quỏ độ tiến lên CNXH.Trong bối cảnh hết sức thuận lợi đó là

của xó hội loài người là quá trỡnh lịch sử tự nhiờn, phụ thuộc vào qui luật khỏch quan
độc lập với ý muốn của con người. Nhưng con người lại hoàn toàn không bất lực trước
qui luật. Con ngườI có thể nhận thức được qui luật khách quan và tạo ra những điều
kiện để qui luật phát huy tác dụng có lợi cho mỡnh. Đó là tính năng động chủ quan của
ý thức xó hội của con người
Thời đại ngày nay cho phép các nước kém phát triển đó hoàn thành cỏc mạng dõn
tộc dõn chủ nhõn dõn cú thể quỏ độ lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN, nhưng không cho
phép bỏ qua việc xây dựng những tiền đề kinh tế, kĩ thuật, văn hoá, xó hội cần thiết cho
sự quỏ độ đó.Chúng ta không tạo ra những tiền đề đó bằng con đường phát triển TBCN
thỡ phải tạo ra trong thời kỡ quỏ độ lên CNXH.Chúng ta hoàn toàn có khả năng làm
việc đó vỡ chỳng ta cú những yếu tố cơ bản bên trong của cách mạng Việt Nam và
những yếu tố bên ngoài của thời đại
Chúng ta có Đảng lónh đạo, có chính quyền của nhân dân, do dân và vỡ nhõn dõn,
cú mặt trận đoàn kết toàn dân, có nhân dân anh hùng, có tài nguyên đa dạng và phong
phú, có nguồn lao động dồi dào, có đội ngũ tri thức ngày càng đông đảo, đất nước có vị
trí địa lí thuận lợi cho giao lưu.
Thời đại đưa chúng ta tới những thuận lợi mới. Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật
và công nghệ đang phát triển như vũ bóo và đó quốc tế hoỏ nền kinh tế thế giới, mở
rộng sự phõn cụng lao động và hợp tác quốc tế. Khi chúng ta có chính sách đúng đắn
biết phát huy nguồn lực bên trong làm cơ sở cho khai thác nguồn lực bên ngoài thỡ cú
thể tranh thủ vốn, cụng nghệ tiờn tiến và kinh nghiệm quản lớ của cỏc nước phát triển
để xây dựng đất nước, mặc dù đây không phải là công việc dễ dàng.

Nhận thức mới về con đường quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN.Trước đây
trong một thời gian rất dài ở nước ta tồn tại một quan điểm phổ biến là đi lên CNXH bỏ
qua chế độ TBCN là chúng ta phủ định sạch trơn toàn bộ nền kinh tế TBCN bao gồm cả
quan điểm kinh tế hay thực lực nền kinh tế tư bản cũng như ý đồ chính trị và quan điểm
giai cấp tư sản. Hiện nay trước bối cảnh nền kinh tế thế giới mới, cùng với quá trỡnh đổi
mới nền kinh tế thỡ Đảng và nhà nước ta đó đổi mới tư duy lí luận kinh tế, đặc biệt là tư
duy thời kỡ quỏ độ cụ thể: Đảng ta xác định chúng ta chỉ bỏ qua QHSX TBCN để cho

Kinh nghiệm lịch sử toàn thế giới và của nước ta đó giỳp chỳng ta nhận thức được
rằng, theo con đường TBCN là đi vào ngừ cụt, vỡ CNTB phỏt triển cao cũng vẫn giữ
bản chất cố hữu của một chế độ áp bức, bóc lột. trong mấy thập kỉ vừa qua, nhờ lợi
dụng được các thành quả của cách mạng khoa học và công nghệ, CNTB có sự phát triển
nhanh, song nó không thể giải quyết những mâu thuẫn cơ bản vốn có. Có người viện
dẫn “ 4 con rồng” để chứng minh những nước chậm phát triển đi theo CNTB thỡ phỏt
triển nhanh. Song hàng trăm nước đang phát triển chỉ có “4 con rồng”, cũn đại bộ phận
vẫn khó khăn nợ nần chồng chất, khủng hoảng nhiều mặt, sở dĩ “4 con rồng” lên nhanh
là nhờ sự viện trợ ồ ạt của Mỹ, có vị trí địa lý thuận lợi, có lợi thế về tiềm lực phát
triển… hơn nữa, con đường đi lên của họ cũng không thuận buồm xuôi gió, nhân dân
lao động vẫn ở địa vị làm thuê.
Những nhiệm vụ cơ bản trong thời kỡ quỏ độ lên CNXH ở Việt Nam
Do đặc điểm thấp kém của nước ta, đặc biẹt là về kinh tế, trong thời kỡ qua độ tiến
lên CNXH chúng ta phải thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:
Phát triển nhanh LLSX: Từ lí luận cũng như thực tiễn chúng ta thấy CNXH không
ra đời từ mảnh đất trống không mà từ một nền sản xuất do xó hội cũ để lại. Cho nên,
xây dựng CNXH trong thời kỡ quỏ độ không có nghĩa là phủ định triệt để nhanh chóng
cái cũ mà phải biết xây dựng cái mới, vừa sử dụng và cải tạo cái cũ để thúc đẩy chế độ

kinh tế mới ra đời. Vỡ thế trong thời kỡ quỏ độ, chúng ta thực hiện nền kinh tế nhiều
thành phần là để huy động mọi năng lực sản xuất với những trỡnh độ kĩ thuật, vốn liếng
quy mô khác nhau để phát triển LLSX,phát triển nền kinh tế nâng cao đời sống của
nhân dân. Mác đó dạy chỳng ta rằng: QHSX phải phự hợp với trỡnh độ và tính chất của
LLSX.QHSX XHCN không thể thiết lập trên một LLSX thấp kém.Cái thiếu của nước ta
hiện nay là một LLSX phát triển.Thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần là để phát triển
LLSX, phát triển nền sản xuất xó hội, nõng cao đời sống nhân dõn và tuỳ theo sự phỏt
triển của LLSX mà nõng dần QHSX XHCN lờn.Muốn vậy chỳng ta phải thực hiện quỏ
trỡnh cụng nghiệp hoỏ đi đôi với hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân để trang bị kĩ thuật
hiện đại cho xó hội, xõy dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của CNXH, từng bước xây dựng
cơ cấu kinh tế hợp lí phải phát triển khoa học công nghệ.Công nghiệp, hoá hiện đại hoá

hội
Xây dựng và phát triển QHSX vừa tạo ra điều kiện cho thành phần kinh tế nhà nước
giữ vai trũ chủ đạo vừa phải đảm bảo tính bỡnh đẳng giữa các thành phần kinh tế trong
nền KTQD.
Xây dựng và phát triển QHSX phải phù hợp với mục tiêu và đặc điểm của thời đại
mà đặc trưng cơ bản của nó là mở cửa và hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
Nhiệm vụ thứ ba là mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. xu thế của thời
đại la hội nhập và phát triển. Ngày nay không thể có một nước nào đứng ngoài xu thế đó
mà có thể nhanh chóng xây dựng đất nước thành công . chúng ta hội nhập, thực hiện
chính sách mở cửa la tranh thủ vốn, kĩ thuật, công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lí để
xây dựng đất nước. Đó là con đường để đổi mới công nghệ, từ công nghệ lạc hậu NSLĐ
thấp chuyển lên công nghệ tiên tiến, NSLĐ cao, làm cho khoa học và công nghệ trở
thành yếu tố bên trong của nền sản xuất, thành động lực của nền kinh tế.

Dĩ nhiên hội nhập nhưng không hoà nhập. hợp tác nhưng không từ bỏ đấu tranh.
Chúng ta chỉ có thể tranh thủ được nguồn lực bên ngoài khi chúng ta biết phát huy cao
độ nguồn lực bên trong, đồng thời phải luôn cảnh giác với kẻ thù đang thực hiện âm
mưu “ diễn biến hoà bỡnh”, sử dụng sức mạnh kinh tế để lũng đoạn sự nghiệp nước ta.
Chúng ta càng không ảo tưởng , quá trông chờ vào bên ngoài, vỡ CNĐQ không bao giờ
có thiện chí giup chúng ta xây dựng CNXH mà trước hết là vỡ lợi nhuận, vỡ sự tồn tại
và phỏt triển của bản thõn họ.
Chúng ta phải mở cửa cả ngoài và trong, về bên ngoài có nghĩa là mở rộng quan hệ
kinh tế với các nước khác, về bên trong là làm cho hàng hoá trong nước theo đúng tiêu
chuẩn thế giới, đây là một tất yếu trong điều kiện ngày nay. Do cuộc cách mạng khoa
học kĩ thuật phát triển hết sức mạnh mẽ làm cho LLSX ngày cang mang tính quốc tế
hoá cao. Do vậy, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng lớn. Do vậy mọi
quốc gia phải mở rộng quan hệ kinh tế với bên ngoài.
II. Quỏ trỡnh nhận thức và giải phỏp thực hiện hiện thắng lợi quỏ độ lên CNXH ở
nước ta.
1.Quỏ trỡnh nhận thức.

sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trỡnh độ của LLSX”. Đại hội VII của
Đảng cũng đó nờu: “Nhưng Đảng đó phạm sai lầm chủ quan duy ý chớ, vi phạm qui
luật khỏch quan,núng vội trong cải tạo XHCN, xoỏ bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành
phần; cú lỳc đẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng; duy trỡ trỡ quỏ lâu cơ
chế quản lí kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp, có nhiều chủ trương sai trong việc cải
cách giá cả,tiền tệ tiền lương.Công tác tư tưởng và quản lí cán bộ phạm nhiều khuyết
điểm nghiêm trọng.”

Khắc phục sai lầm trên, từ Đại hội VI của Đảng-Đại hội khởi đầu sự nghiệp đổi
mới-chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần được nhận thức lại và thực hiện
nhất quán. Đảng ta xác định, nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng
của thời kỡ quỏ độ, phát triển kinh tế nhiều thành phần là một chủ trương chiến lược,
lâu dài trong suốt thời kỡ quỏ độ lên CNXH. Một trong những nội dung quan trọng của
tư duy kinh tế mới (lúc đó) là phát triển kinh tế nhiều thành phần, trong đó thừa nhận sự
tồn tại của nhiều hỡnh thức sở hữu và cỏc loại hỡnh tổ chức kinh tế gắn liền với cỏc
hỡnh thức sở hữu đó do lịch sử để lại,chừng nào chúng cũn phỏt huy tỏc dụng đối với
tiến bộ xó hội.
2. Giải pháp thực hiện thắng lợi quá độ lên CNXH ở nước ta.
Để thực hiện thành công những nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước ta đó đề ra, chúng
ta cần thực hiện những giải pháp sau:
Thứ nhất, muốn phát triển nhanh LLSX chúng ta cần tiến hành CNH-HĐH
nền kinh tế quốc dân. Đó là quá trỡnh chuyển rừ một nước từ việc sử dụng lao động
thủ cụng là chủ yếu sang việc sử dụng phổ biến những công nghệ hiện đại, những
phương pháp, phương tiện sản xuất tiên tieenslaf phổ biến trong toàn bộ nền kinh tế
quốc dân. Thực chất, CNH-HĐH là quá trỡnh kết hợp những bước phát triển tuần tự vè
khoa học kĩ thuật, công nghệ sản xuất với những bước phát triển nhảy vọt, đi tắt đón
đầu.
Như ta biết mỗi một phương thức sản xuất có một cơ sở vật chất kĩ thuật tương
ứng cơ sở vật chất kĩ thuật của các phương thức sản suất trước CNTB là kĩ thuật lao
động thủ công lạc hậu, năng suất thấp. cơ sở vật chất kĩ thuật của chủ nghĩa tư bản là

nhiều trỡnh độ, phù hợp với nhu cầu xó hội.

Tiếp tục tăng cương đầu tư thích đáng từ ngân sách nhà nước đồng thơi phát huy
mọi nguồn lực cho nghiên cứu những lĩnh vực khoa học công nghệ mới như: công nghệ
sinh học, công nghệ tin học, công nghệ vật liệu mới. Tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ
chức khoa học, các trường đại học các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và cá
nhân được tổ chức hoạt động nghiên cứu, triển khai, được đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ,
chuyển nhượng kết quả nghiên cứu. Phát triển thị trường khoa học công nghệ hoàn thiện
hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, khuyến khich chuyển giao công
nghệ. Ban hành chích sách hỗ trợ, khuyến khích mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ
vào hoạt động kinh tế xó hội.
Thứ hai, chúng ta phải phát triển chính sách lâu dài kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế nhà nước luôn
được xác định giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thàh phần ở Việt Nam. Nó
lắm trong tay những nghành kinh tế then chốt và mũi nhọn như: năng lượng, công
nghiệp giao thông vân tải, bưu chính viễn thông. Và có khả năng chi phối và điều tiết
thành phần kinh tế khác.
Tiếp tục thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định
hướng XHCN, tạo mọi điều kiện để doanh nghiệp và công dân đầu tư và phát triển sản
xuất kinh doanh. Tăng cường đầu tư chiều sâu và đổi mới công nghệ, tập chung cho
những doanh nghiệp hoạt động trong một số nghành và lĩnh vực then chốt như sản xuất
TLSX quan trọng, công nghệ cao. Hoàn thành cơ bản việc cổ phần hoá doanh nghiệp
nhà nước mà Nhà Nước không cần nắm giữ 100% vốn cho thuê những doanh nghiệp
nhà nước có quy mô nhỏ mà nhà nước không cần nắm giữ và không cổ phần hoá được.
Sát nhập, giải thể hoặc phá sản các doanh nghiệp nhà nước hoạt động không hiệu quả.
Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế nhà nước để thực hiện tốt vai trò chủ đạo trong
nền kinh tế. Kinh tế nhà nước là lực lượng vật chất và phải là công cụ để nhà nước định
hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế; Tập trung đầu tư cho kết cấu hạ tầng kinh tế.
Doanh nghiêpj nhà nước luôn phải giữ những vị trí then chốt trong nên kinh tế, đi đầu


và nội địa. Cung cấp đủ nước sạch cho đô thị, khu công nghiệp và cho dân cư .
Kết cấu hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng. Hệ
thống giao thông đẩm bảo thông suốt, an toàn quanh năm và hiện đại.Đảm bảo cơ sở vật
chất cho học sinh phổ thông, có đủ giường bệnh cho bệnh nhân.
Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao vai trò năng lực quản lí của
nhà nước. Đổi mới sâu rộng cơ chế quản lí kinh tế, phát huy những yếu tố tích cực của
cơ chế thị trường, triệt để xoá bỏ bao cấp trong kinh doanh, tăng cường vai trò quản lí
và điều tiét vĩ mô của nhà nước, đấu tranh có hiệu quả các hành vi tham nhũng,lãng phí,
quan liêu, nhiễu sách.Nhà nước tạo môi trường pháp lí thuận lợi, bình đẳng cho các
doanh nghiệp cạnh tranh và hợp tácđể phát triển, tiếp tục đổi mới các công cụ quản lí vĩ
mô của nhà nước với nền kinh tế. Đổi mớihơn nữa công tác kế hoạch hoá, nânh cao chất
lượng công tác xây dựng các chiến lược,quy hoạch và kế hoạchphát triển kinh tế.Đảm
bảo tính minh bạch, công bằng trong chi ngân sách nhà nước. Nâng cao hiệu quả các
chương trình QG, tập trung vốn cho các chương trình trọng điểm, thực hiện có kết quả
chương trình giúp đỡ các xã đặc biệt khó khăn.
Nhà nước đầu tư vốn phát triển từ ngân sách nhà nước căn cứ vào hiệu quả kinh
tế-xã hội. Tiếp tục cải cách hệ thống thuế phù hợp với tình hình đất nước và các cam kết
quốc tế; xây dựng hệ thông ngân hàng thương mại, đáp ứng nhu cầu tín dụng cung ứng
các dịch vụ ngân hàng thuận lợi cho xã hội. Kiện toàn các ngân hàng thương mại nhà
nước thành những doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ tự chủ, tự chịu trách nhiệm và có đủ
sức cạnh tranh trên thị trường. Xoá bỏ sự can thiệp hành chính nhà nước đối với hoạt
động cho vay của các ngân hàng. nâng cao năng lực giám sát của ngân hàng nhà nước
và công tác kiểm tra nội bộ của các ngân hàng thương mại. Kết luận
Qúa độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN theo con đường rút ngắn ở Việt Nam hiện
nay chính là quá trình thực hiện CNH-HĐH theo phương thức “rút ngắn thời gian vừa
có bước tuần tự vừa có bước nhảy vọt”. Thực hiện bước quá độ này nhằm tạo ra sự biến
đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp khó khăn, phức tạp “ cho nên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status