LUẬN VĂN:
Giá trị khoa học của các quan điểm, nguyên
tắc phân phối thu nhập của chủ nghĩa Mác -
Lênin và quan điểm của Đảng ta về phân phối
trong kinh tế thị trường định hướng XHCN Mở đầu
thu nhập của Nhà nước và nêu lên những giải pháp thiết thực để tăng cường vai trò
điều tiết của Nhà nước đối với phân phối thu nhập theo định hướng XHCN.
Những nhiệm vụ khoa học cần giải quyết:
- Phân tích khái quát quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về phân phối và giá
trị khoa học của những quan điểm đó trong điều kiện ngày nay, làm rõ quan điểm của
chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng ta về phân phối thu nhập.
- Làm rõ những nguyên tắc (hình thức) phân phối thu nhập trong kinh tế thị
trường định hướng XHCN và cơ chế, chính sách phân phối và điều tiết thu nhập của
Nhà nước.
- Đánh giá thực trạng vai trò của Nhà nước đối với phân phối thu nhập thông
qua việc phân tích, xem xét các chính sách phân phối cơ bản của Nhà nước ở nước ta
trong thời gian qua.
- Nêu lên những quan điểm cần quán triệt trong quá trình phân phối và điều tiết
thu nhập của Nhà nước, các giải pháp tăng cường vai trò của Nhà nước đối với phân
phối thu nhập thông qua việc làm rõ phương hướng và nội dung tiếp tục cải cách, hoàn
thiện các chính sách phân phối.
Đối tượng nghiên cứu. Công trình này nghiên cứu vai trò của Nhà nước đối với
phân phối thu nhập thông qua việc xem xét, đánh giá sự đổi mới, các chính sách phân
phối thu nhập của Nhà nước và phương hướng hoàn thiện chúng trong thời gian tới.
Đóng góp khoa học của đề tài:
- Làm rõ giá trị khoa học của các quan điểm, nguyên tắc phân phối thu nhập của
chủ nghĩa Mác - Lênin và quan điểm của Đảng ta về phân phối trong kinh tế thị trường
định hướng XHCN, làm rõ cơ chế phân phối, điều tiết thu nhập của Nhà nước.
- Phân tích, đánh giá sát thực tình hình các chính sách phân phối thông qua đó
đánh giá thực trạng vai trò của Nhà nước đối với phân phối thu nhập trong thời gian
qua.
- Nêu lên một số quan điểm có giá trị khoa học và thực tế về phân phối, điều tiết
nhất là phân chia tổng sản phẩm xã hội làm 6 phần phải khấu trừ và toàn bộ tư liệu tiêu
dùng; bước thứ hai là phân phối tư liệu tiêu dùng cho người lao động theo nguyên tắc
phân phối theo lao động. Sơ đồ phân phối của C. Mác là sơ đồ phân phối vĩ mô, vạch
rõ khái quát việc phân phối tổng sản phẩm xã hội. Nó vừa đảm bảo tái sản xuất mở
rộng vừa đảm bảo thoả mãn nhu cầu chung của xã hội và của cá nhân, cũng như sự
tiến bộ xã hội. Có người cho rằng C. Mác đã không nói rõ các tỷ lệ phân chia. Thiết
nghĩ, không nên đòi hỏi C. Mác phải giải quyết tất cả những vấn đề cụ thể cho chúng
ta.
C. Mác và Ph. Ăng ghen đã sáng tạo ra lý luận phân phối theo lao động, nêu lên
nguyên tắc phân phối thu nhập cá nhân trong CNXH là phân phối theo lao động. Điều
kiện tiền đề để thực hiện phân phối theo lao động là nó được thực hiện trong điều kiện
kinh tế dựa trên chế độ công hữu và ở giai đoạn đầu của xã hội cộng sản, không có sản
xuất và trao đổi hàng hoá. Dựa trên điều kiện tiền đề đó, C. Mác vạch ra nguyên tắc và
phương thức phân phối theo lao động. Theo C. Mác, chủ thể phân phối là người lao
động, đối tượng phân phối là tư liệu tiêu dùng, tức là tổng sản phẩm xã hội sau khi trừ
đi 6 khoản, căn cứ để phân phối là thời gian lao động, phương thức thực hiện phân
phối theo lao động là phiếu lao động. Thời gian lao động là thước đo khách quan để
phân phối, sự khác biệt về lao động, do đó sự khác biệt về thu nhập sẽ tồn tại.
Giá trị của lý luận phân phối theo lao động của C. Mác là ở chỗ: Một là, trước
sau như một C. Mác coi trình độ phát triển của lực sản xuất và chế độ sở hữu là những
nhân tố quyết định quan hệ phân phối. Hai là, dưới chế độ công hữu, mọi người lao
động đều có quyền bình đẳng đối với tư liệu sản xuất, lao động trở thành điều kiện tất
yếu để nhận được thu nhập. Như vậy, C. Mác đã xác lập cơ sở của mối liên hệ nội tại
giữa lao động và thu nhập. Ba là, lý luận phân phối theo lao động của C. Mác thừa
nhận tồn tại sự khác biệt về thu nhập và phủ nhận sự phân phối bình quân.
Nguyên tắc phân phối theo lao động được V.I Lê nin phát triển trong quá trình
xây dựng CNXH ở Nga. Ông thừa nhận rằng CNXH không thể xoá bỏ được kinh tế
tiền thuê đất ). Cơ chế (nguyên tắc) phân phối thu nhập được thực hiện thông qua thị
trường dưới sự tác động của quy luật cung - cầu, cạnh tranh. Tuy nhiên, các nhà kinh
tế của trường phái này cũng thừa nhận rằng thị trường không có khả năng đặc biệt để
tìm ra giải pháp tốt nhất đối với vấn đề cho ai. Một nền kinh tế hiệu quả nhất trên thế
giới, vẫn có thể tạo ra một sự bất bình đẳng về phân phối thu nhập. Vì thế, theo họ, cần
có sự can thiệp của Nhà nước vào phân phối thu nhập nhằm giảm bớt tình trạng bất
bình đẳng về thu nhập, nâng cao mức sống của người nghèo. Tuy nhiên, họ lại cho
rằng việc phân phối lại có thể làm giảm bớt tình trạng bất bình đẳng, nhưng cũng phải
trả cái giá là tình trạng kém hiệu quả, tức là công bằng và hiệu quả mâu thuẫn nhau.
Sự phân phối tối ưu Pareto cũng không nói rõ quan hệ giữa hiệu quả và công
bằng trong phân phối thu nhập. Bergson và Samuelson đã nêu lên " hàm số phúc lợi xã
hội", họ cho hiệu quả kinh tế là điều kiện cần, còn phân phối hợp lý là điều kiện đủ của
phúc lợi tối đa và đã chỉ ra sự tự do lựa chọn của cá nhân là điều kiện quan trọng để tối
đa hoá phúc lợi cá nhân. Như vậy, từ hệ số Gini đến phân phối " tối ưu Pareto" và
nguyên lý " hàm số phúc lợi xã hội " là một bước tiến dài hướng đến tính hợp lý trong
phân phối thu nhập của xã hội TBCN, nhưng đó chỉ là lý thuyết.
1.1.3. Quan điểm của Chủ Tịch Hồ Chí Minh và của Đảng ta về phân phối thu
nhập.
Trong các bài nói và viết xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, Chủ Tịch Hồ Chí Minh
đã nêu lên những quan điểm, tư tưởng cơ bản về phân phối thu nhập trong thời kỳ quá
độ lên CNXH.
Về mối quan hệ giữa phát triển sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân, Ngưòi
nói " Đời sống ví như con thuyền, sản xuất ví như nước. Mức nước lên cao thì con
thuyền càng nổi lên cao", " muốn sản xuất được nhiều phải chú ý phân phối công
bằng". Người luôn nhắc nhở cán bộ phải chăm lo thực hiện phân phối công bằng: "
Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng"
Về nguyên tắc phân phối trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Chủ Tịch Hồ Chí
1.2.1. Những nhân tố quyết định phân phối
Một là, lực lượng sản xuất ảnh hưởng tới phân phối thể hiện ở chỗ sự phát triển
lực lượng sản xuất làm tăng khối lượng của cải vật chất đưa vào phân phối; dẫn đến sự
thay đổi hình thức phân phối; quyết định sự biến đổi của các phương thức phân phối
xã hội. Hai là, chế độ sở hữu có vai trò quyết định đối với chế độ phân phối, khi chế
độ sở hữu thay đổi thì chế độ phân phối tương ứng với nó cũng biến đi theo. Ba là,
kiến trúc thượng tầng ảnh hưởng đến phân phối thể hiện ở chỗ Nhà nước sử dụng luật
pháp để bảo vệ chế độ sở hữu và quan hệ phân phối của chế độ xã hội đó; hình thái ý
thức có tác động đến phân phối thông qua việc chấp nhận hoặc phủ nhận, từ đó củng
cố hoặc làm suy yếu quan hệ phân phối đó.
1.2.2. Những nguyên tắc phân phối trong kinh tế thị trường định hướng
XHCN
a. Sự thống nhất giữa hiệu quả và công bằng trong kinh tế thị trường định
hướng XHCN
Lý luận kinh tế phương Tây cho rằng giữa công bằng và hiệu quả tồn tại quan
hệ thay thế, được cái này mất cái kia và thường chọn hiệu quả làm mục tiêu ưu tiên
trong phân phối. Một số nhà lý luận lại cho rằng phân phối không công bằng là điều
kiện cần thiết để tạo ra tăng trưởng kinh tế nhanh. Việt Nam xây dựng và phát triển
kinh tế thị trường nhằm mục đích thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh. Để đạt được điều đó phải có một nền kinh tế phát triển cao và chế
độ công hữu về tư liệu sản xuất cùng với chế độ phân phối công bằng. Chế độ phân
phối đó phải đảm bảo sự thống nhất giữa hiệu quả và công bằng.
Sự thống nhất giữa hiệu quả và công bằng trong kinh tế thị trường định hướng
XHCN là sự thống nhất biện chứng. Hiệu quả tạo ra điều kiện vật chất để thực hiện
công bằng, chỉ có không ngừng nâng cao hiệu quả, tăng thêm của cải, thì phân phối
công bằng mới có điều kiện thực hiện và theo đó mà phát triển. Ngược lại, phân phối
công bằng kích thích hiệu quả. Sự phân phối công bằng sẽ khơi dậy tính tích cực và
điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN khi nêu lên quan điểm: thực hiện
nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là
chủ yếu.
Yêu cầu của phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là trong điều
kiện lao động như nhau, những lao động mang lại kết quả ngang nhau thì được trả
công bằng nhau, những lao động mang lại kết quả khác nhau thì được trả công khác
nhau.
Quá trình phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế được thực hiện
qua hai khâu ( hai cấp): Khâu thứ nhất, tổng thu nhập của doanh nghiệp trước hết phải
phân chia giữa doanh nghiệp và Nhà nước. Khâu thứ hai, phân phối thu nhập trong nội
bộ doanh nghiệp do doanh nghiệp với tư cách là chủ thể tiến hành và dựa trên cơ sở
kết quả lao động của mỗi người.
Phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế được thực hiện dưới hình
thức tiền lương, phụ cấp, tiền thưởng và phúc lợi tập thể. Về thực chất, tiền lương
trong hợp đồng lao động là giá cả sức lao động. Nhà nước quy định tiền lương tối
thiểu bằng văn bản có tính chất pháp luật nhằm tạo ra lưới an toàn cho người lao động.
Người sử dụng lao động không được trả lương cho người lao động thấp hơn tiền lương
tối thiểu do Nhà nước quy định. Thu nhập của người lao động trong các đơn vị kinh tế
thuộc chế độ công hữu tuỳ thuộc vào kết quả lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
* Phân phối theo mức đóng góp vốn và tài sản.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, phân phối theo mức đóng góp
vốn và tài sản là một tất yếu và cũng là nguyên tắc phân phối cơ bản. Người sở hữu tài
sản dưới một hình thức nào đó là nhằm tham dự vào phân phối dưới hình thức tương
ứng, bất kỳ một sự chiếm hữu nào đối với tư liệu sản xuất đều nhằm nhận được thu
nhập. Sở hữu phải được thực hiện về kinh tế, nếu không sở hữu sẽ mất ý nghĩa kinh tế.
Vì thế, người sở hữu vốn và tư liệu sản xuất góp vào sản xuất phải nhận được thu nhập
nhân, điều tiết phân phối thu nhập phải làm cho sự khác biệt đó ở mức độ vừa phải, có
thể chấp nhận được. Để thực hiện mục tiêu trên, Nhà nước cần phải:
- Nhà nước xác định định hướng phân phối thu nhập quốc dân hay là xây dựng
kế hoạch tổng thể về phân phối. Nó có tác dụng điều tiết vĩ mô đối với phân phối, duy
trì cân bằng tổng lượng của phân phối thu nhập quốc dân, làm căn cứ cho các quyết
sách về tiền lương, trợ cấp tài chính, an sinh xã hội, điều chỉnh giá cả, vv
- Nhà nước xây dựng, ban hành và thực thi các chính sách về phân phối bao
gồm chính sách tiền lương, chính sách thuế, chính sách BHXH, chính sách cứu trợ xã
hội. Chúng tạo thành cơ chế điều tiết tổng hợp thu nhập quốc dân.
- Nhà nước thông qua sự phối hợp đồng bộ cơ chế, chính sách phân phối thực
hiện điều tiết thu nhập quốc dân và thu nhập cá nhân. Điều hành phân phối thu nhập
phải lấy biện pháp kinh tế là chính, tuy nhiên cần dựa vào sức mạnh của luật pháp và
thông qua các quyết định, nghị định của Chính phủ để quy định những nguyên tắc cơ
bản và chính sách phân phối cụ thể, chúng là chuẩn mực luật pháp cho hoạt động phân
phối.
1.3.2. Cơ chế và chính sách phân phối thu nhập của Nhà nước
Cơ chế và chính sách phân phối thu nhập quốc dân trong nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN được thực hiện bởi thị trường và Nhà nước, đó là cơ chế hỗn hợp.
Trong cơ chế đó, thị trường điều tiết phân phối thu nhập bằng hệ thống giá cả các yếu
tố sản xuất do quan hệ cung - cầu về các yếu tố đó quyết định. Tiền lương, tiền công,
lợi nhuận, lợi tức, tiền thuê đất là thu nhập của các chủ sở hữu sức lao động, vốn và
các tài sản thông qua cơ chế thị trường. Tuy nhiên, cơ chế thị trường không thể phân
phối thu nhập một cách công bằng, vì thế, Nhà nước phải thực hiện chức năng phân
phối thu nhập sao cho đảm bảo sự thống nhất giữa công bằng và hiệu quả.
Để can thiệp vào phân phối, Nhà nước phải sử dụng các công cụ, đó là các
chính sách về phân phối.
- Chính sách tiền lương là một trong những chính sách quan trọng trong hệ
thống các chính sách phân phối, nó liên quan trực tiếp đến đời sống của hàng chục
triệu người, đến động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế. Việc thực hiện chính sách
giữa các tầng lớp dân cư.
Chính sách tài chính có vai trò quan trọng như vậy, nên Đại hội IX của Đảng
yêu cầu phải hoàn thiện chính sách tài chính quốc gia theo hướng" thực hiện nguyên
tắc công bằng, hiệu quả trong chính sách phân phối và phân phối lại thu nhập trong xã
hội"
1.3.3. Điều tiết của Nhà nước đối với thu nhập cá nhân
Nhà nước điều tiết thu nhập cá nhân thông qua các chính sách:
Chính sách thuế, trong đó có thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh
nghiệp, được coi là công cụ điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, giữa các đơn
vị kinh tế để tạo nguồn thu cho NSNN và thực hiện công bằng xã hội, Pháp lệnh thuế
thu nhập đối với người có thu nhập cao đã được ban hành và thực hiện từ năm 1991,
Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thay thế thuế lợi tức năm 1999
- Chính sách việc làm. Người lao động không có việc làm không chỉ bị tước
mất quyền bình đẳng được làm việc để phát huy năng lực của mình, mà còn không có
thu nhập để đảm bảo cuộc sống. Vì thế, Nhà nước phải có chính sách giải quyết việc
làm, tạo cơ hội bình đẳng về việc làm cho người lao động. Đảng ta khẳng định bảo
đảm công ăn, việc làm cho dân là mục tiêu xã hội hàng đầu.
- Chính sách bảo đảm xã hội là chính sách điều tiết thu nhập cá nhân nhằm cải
thiện đời sống của những người có hoàn cảnh khó khăn, giảm mức chênh lệch giàu
nghèo, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội. Chính sách bảo đảm xã hội bao gồm
chính sách bảo hiểm xã hội (kể cả bảo hiểm y tế) nhằm giúp đỡ về vật chất cho những
người lao động khi họ tạm thời hoặc vĩnh viễn mất cơ hội lao động và chính sách cứu
trợ xã hội nhằm giúp đỡ những người gặp phải những khó khăn, rủi ro, bất hạnh trong
cuộc sống vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống, hoà nhập cộng đồng.
bản trong cải cách tiền lương năm 1993 là tiền tệ hoá tiền lương và thay đổi cơ cấu
tiền lương đã xoá bỏ về cơ bản chế độ bao cấp; tách tiền lương khu vực sản xuất kinh
doanh tự lo nguồn trang trải với khu vực hưởng lương từ NSNN. Thứ tư, tạo điều kiện
đơn giản hoá tổ chức lao động và trả lương. Tiền lương tối thiểu đã trở thành căn cứ
để xây dựng các mức lương tối thiểu theo ngành, vùng, hệ thống tiền lương trong các
khu vực, tạo cơ sở cho sự thoả thuận về tiền lương trong hợp đồng lao động; tạo điều
kiện thúc đẩy hình thành và phát triển thị trường lao động.
Về mặt hạn chế: Thứ nhất, mức tiền lương tối thiểu đặt ra thấp, không đủ chi
phí cho nhu cầu thiết yếu của người lao động và chậm được điều chỉnh. Thứ hai, tiền
lương tối thiểu được áp dụng chủ yếu đối với những đối tượng hưởng lương từ NSNN,
khu vực kinh tế Nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, nên tác dụng của nó
bị hạn chế, chưa thực sự trở thành lưới an toàn cho những người lao động trong toàn
xã hội. Thứ ba, chưa phân biệt tiền lương thấp nhất của cán bộ công chức hưởng lương
từ NSNN với tiền lương tối thiểu của khu vực có quan hệ lao động theo cơ chế thị
trường. Thứ tư , tiền lương tối thiểu chậm được điều chỉnh cho phù hợp với mức độ
trượt giá và tăng trưởng kinh tế, nên tiền lương thực tế có xu hướng giảm. Thứ năm,
việc điều chỉnh tiền lương vẫn chưa có tính chủ động, mà thường do "áp lực xã hội "
và vẫn coi nó là gánh nặng của NSNN, biến tiền lương thành phạm phù phân phối cho
tiêu dùng cá nhân đơn thuần, và chưa coi tiền lương là đầu tư cho nguồn nhân lực.
2.1.2. Thực trạng chính sách thuế đối với phân phối thu nhập
Chính sách thuế là một trong những chính sách chủ yếu về phân phối. Một
trong những chức năng cơ bản của thuế là chức năng phân phối tổng sản phẩm quốc
dân và thu nhập quốc dân. Chức năng đó liên quan chặt chẽ với chức năng điều tiết
kinh tế và thực hiện công bằng xã hội.
Qua cải cách thuế, hệ thống chính sách thuế Việt Nam đã được đổi mới về cơ
bản, hình thành một hệ thống thuế thống nhất, được luật hoá, bao gồm Luật thuế giá trị
gia tăng (GTGT) thay thế thuế doanh thu, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thay thế
thuế lợi tức, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt, Luật thuế xuất, nhập khẩu, Luật thuế chuyển
của các tầng lớp có thu nhập cao khi tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ đặc biệt, thực hiện
điều tiết thu nhập công bằng, hợp lý.
Như vậy, qua hai đợt cải cách thuế, hệ thống thuế của nước ta đã hình thành
tương đối đầy đủ các sắc thuế cần thiết và đã thể hiện rõ vai trò của nó đối với phân
phối thu nhập. Có thể nêu lên những kết quả sau đây: Một là, việc đổi mới hệ thống
thuế đã làm tăng nguồn thu cho NSNN, số thu về thuế và phí tăng nhanh qua các năm
và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thu trong nước, Hai là, hệ thống chính sách thuế
được áp dụng chung thống nhất cho các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư đã tạo
nên sự bình đẳng và công bằng về nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nước. Ba là, thông
qua chính sách miễn giảm thuế GTGT, thuế thu nhập, thuế xuất, nhập khẩu và sự ưu
đãi về thuế đối với một số đơn vị kinh tế mới thành lập, đầu tư chiều sâu, các đối
tượng thuộc chính sách xã hội đã thể hiện vai trò của thuế đối với điều tiết thu nhập
và thực hiện công bằng xã hội.
Tuy nhiên hệ thống thuế Việt Nam còn những hạn chế : Một là, phạm vi tác
động của chính sách thuế còn bị hạn chế. Hệ thống chính sách thuế còn chưa bao quát
được hết các nguồn thu đã phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế thị trường như
thuế thu nhập chưa đánh trên thu nhập chuyển nhượng cổ phần, chuyển nhượng tài
sản ; thuế thu nhập cá nhân chỉ mới đánh vào những con người có thu nhập cao, nên
diện chựu thuế hẹp. Hai là, tính công bằng của hệ thống thuế chưa cao. Tỷ trọng thuế
trực thu trong tổng thu về thuế, phí nhỏ hơn thuế gián thu cho thấy mức độ công bằng
về thuế giữa các tầng lớp xã hội còn bị hạn chế. Thuế thu nhập cá nhân mới chỉ điều
tiết đối với các cá nhân có thu nhập cao, chứ chưa điều tiết đối với đại bộ phận dân cư,
còn có sự phân biệt mức khởi điểm chịu thuế giữa người Việt Nam và người nước
ngoài. Ba là, thuế thu nhập doanh nghiệp còn có sự phân biệt doanh nghiệp trong nước
và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, còn có sự ưu đãi về thuế đối với các
DNNN làm giảm tính cạnh tranh của chúng. Bốn là, hệ thống thuế hiện nay còn nhiều
điều chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, nổi bật là những quy định về thuế nhập khẩu,
xoá đói giảm nghèo là một trong những chương trình phát triển kinh tế - xã hội vừa
cấp bách trước mắt vừa cơ bản lâu dài. Chủ trương đó được cụ thể hoá bằng các chính
sách, Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ, các thông tư liên Bộ.
Chính phủ đã đưa ra và thực hiện nhiều chương trình, dự án tham gia thực hiện
xoá đói giảm nghèo như chương trình 135, dự án trồng 5 triệu ha rừng, chương trình
773, chương trình quốc gia về việc làm, chương trình giáo dục - đào tạo, chương trình
y tế, chương trình bảo vệ và chăm sóc trẻ em, các chương trình, dự án quốc tế có mục
tiêu tham gia xoá đói giảm nghèo Nhờ thực hiện các chương trình đó đã huy động
các nguồn lực góp phần phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, nhất là người
nghèo. Tỷ lệ đói nghèo giảm nhanh (theo tiêu chuẩn Việt Nam ) từ 30% năm 1992
xuống còn 11% năm 2000. Nếu theo tiêu chuẩn mới, thì tỷ lệ nghèo đói năm 2000 là
17,5%, năm 2001 là 16%, năm 2002 là 14,3%. Tỷ lệ nghèo đói giảm đi ở cả thành thị
và nông thôn.
Tuy nhiên, tỷ lệ đói nghèo ở nước ta còn cao, sự phân hoá giầu nghèo trong xã
hội cũng ngày càng tăng, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em còn lớn, tỷ lệ tái đói nghèo còn
cao.
* Chính sách bảo hiểm xã hội
BHXH là một bộ phận cơ bản của hệ thống an sinh xã hội. Trong thời gian qua,
hệ thống BHXH được đổi mới và hoàn thiện, tập trung vào 4 lĩnh vực chủ yếu; bảo
hiểm xã hội , bảo hiểm y tế, bồi thường tai nạn lao động và chính sách trợ cấp thôi
việc. Chính sách bảo hiểm xã hội trong thời gian qua đã được đổi mới theo hướng mở
rộng đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế (năm 2002 số lao động tham
gia bảo hiểm gấp 2 lần năm 1995); thực hiện nguyên tắc cùng chia sẻ trách nhiệm về
BHXH và BHYT: người lao động và người sử dụng lao động đều có trách nhiệm đóng
góp vào hai quỹ đó, do đó đã giảm đáng kể gánh nặng cho NSNN về BHXH và
BHYT, số thu BHXH tăng lên (năm 2002 số thu BHXH gấp 3 lần số thu 1996); việc
tách hai quỹ BHXH và BHYT Việt Nam đã bắt đầu hoạt động có hiệu quả.
đời sống của dân cư được cải thiện rõ rệt, trừ những vùng thiên tai nặng hoặc những
gia đình quá khó khăn. Thu nhập ở khu vực thành thị, nông thôn và 7 vùng sinh thái
đều tăng, tuy nhiên ở khu vực nông thôn tốc độ tăng thu nhập có thấp hơn mức bình
quân chung.
Sự nghiệp giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục thể thao tuy còn có khó
khăn, tồn tại, nhưng đã có nhiều đổi mới và tiến bộ. Cơ sở hạ tầng ở nông thôn được
xây dựng, nâng cấp, cải tạo.
Như vậy, trong thời gian qua, đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp
dân cư nói chung và của nông dân nói riêng được cải thiện rõ rệt. Theo ý kiến đánh giá
của 2,5 vạn hộ được điều tra ở 61 tỉnh, thành phố về đời sống năm 1999 thì số hộ trả
lời đời sống khá hơn năm 1993 là 74,8%, số hộ, đời sống ít thay đổi là 19% số hộ, chỉ
có 6,2% số hộ trả lời đời sống giảm đi.
2.2.2. Đánh giá chung về sự đổi mới các chính sách phân phối và điều tiết
thu nhập của Nhà nước.
- Về chính sách chi tiêu của NSNN đã có sự biến đổi tích cực. Thu của NSNN
so với GDP trong thời kỳ 1991- 1999 trung bình đạt 20,2%, trong cơ cấu thu của
NSNN, thu trong nước chiếm tỷ trọng lớn. Chi tiêu của NSNN được cơ cấu lại theo
hướng xoá bỏ bao cấp trong chi của NSNN, tăng chi cho đầu tư phát triển, tạo việc
làm, xoá đói giảm nghèo, giáo dục - đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học. Thời kỳ 1996
- 2000 tổng chi NSNN bình quân 24,2% GDP, trong đó chi cho đầu tư phát triển 27%
và chi thường xuyên 59% tổng chi NSNN. Chính phủ đặc biệt ưu tiên chi NSNN cho
giáo dục - đào tạo từ 1276,7 tỷ đồng năm 1991 tăng lên 15.086 tỷ đồng năm 2000, gấp
11 lần, cũng trong thời kỳ đó, chi cho y tế tăng gấp 4,2 lần, chi cho văn hoá - thể thao
tăng gấp 5,1 lần. Nguồn chi cho trợ cấp xã hội hàng năm chiếm từ 3 - 5% tổng chi
Ngân sách Trung ương và địa phương.
Như vậy, chính sách chi tiêu NSNN đã có sự biến đổi tích cực, đó là nhân tố cơ
bản đảm bảo sự phân phối thu nhập ngày càng công bằng hơn và tiến bộ xã hội ở nước
công cụ chủ yếu của Nhà nước để phân phối và điều tiết thu nhập và là công cụ quản
lý vĩ mô trọng yếu của Nhà nước.
- Về các chính sách xã hội.
+ Nhờ chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước về giải quyết việc làm, sự
tham gia tích cực của các tổ chức và nhân dân, nên việc giải quyết việc làm đã có
những chuyển biến tích cực, đạt kết quả đáng ghi nhận, từ năm 1991- 2001 số người
có việc làm đã tăng từ 30,9 triệu người lên 40,6 triệu người, tăng 32,2%.
+ Chính sách xoá đói giảm nghèo, trợ cấp xã hội, đền ơn đáp nghĩa là một trong
những chính sách xã hội được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và được thực
hiện trên phạm vi cả nước với sự tham gia tích cực của các tổ chức và nhân dân. Vì
thế, chúng ta đã đạt được thành tựu nổi bật được cộng đồng quốc tế thừa nhận, dù tính
theo tiêu chuẩn nào thì tỷ lệ đói nghèo ở nước ta cũng giảm nhanh. Chính sách trợ cấp
Nhà nước đã thực sự trở thành chỗ dựa cho những người yếu thế trong xã hội, giúp họ
ổn định cuộc sống.
+ Chính sách bảo hiểm xã hội được đổi mới phù hợp với kinh tế thị trường định
hướng XHCN. Những kết quả quan trọng nhất của sự thực hiện chính sách BHXH và
BHYT trong những năm qua là số người tham gia BHXH, BHYT tăng đáng kể, góp
phần ổn định cuộc sống của người lao động.
Tóm lại, các chính sách phân phối của Nhà nước đã từng bước đổi mới và hoàn
thiện phù hợp với kinh tế thị trường định hướng XHCN, chúng đã trở thành công cụ
đắc lực của Nhà nước trong việc thực hiện chủ trương của Đảng: gắn tăng trưởng kinh
tế với cải thiện đời sống nhân dân, với tiến bộ và công bằng xã hội.
2.2.3. Những vấn đề đặt ra đối với sự điều tiết của Nhà nước về phân phối thu
nhập.
* Sự phân hoá giầu - nghèo
Cùng với quá trình chuyển nền kinh tế nước ta sang kinh tế thị trường định
hướng XHCN, thì cũng diễn ra sự phân hoá giầu nghèo. Theo kết quả điều tra năm