Xây dựng chuẩn mực đạo đức của kiểm toán viên Việt Nam trên cơ sở Chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức - Pdf 31

LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình hội nhập vào kinh tế thế giới, sự ra
đời và phát triển của thị trường chứng khoán đòi hỏi Việt Nam phải dần tiêu chuẩn
hoá các dịch vụ theo thông lệ quốc tế. Kiểm toán là một hoạt động ra đời phục vụ cho
yêu cầu quản lý và đóng vai trò ngày càng quan trọng với nền kinh tế,do vậy,việc ban
hành ra những chuẩn mực kiểm toán trong đó có chuẩn mực đạo đức một cách chính
xác và phù hợp là vô cùng quan trọng. Hơn nữa, trong những năm gần đây, việc các
công ty bị phá sản do lỗi về vấn đề đạo đức của kiểm toán trở nên phổ biến hơn, điều
này làm cho vấn đề xây dựng và thực hiện chuẩn mực đạo đức kiểm toán càng trở
nên cấp thiết hơn.
Nhằm áp dụng những kiến thức của những môn học cơ bản, cơ sở và cụ thể ở
đây là Chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc nghiên cứu chuẩn
mực đạo đức của kiểm toán viên ở Việt Nam và xa hơn nữa là mong muốn được góp
phần tạo ra môi trường kiểm toán ngày càng trong sạch, lành mạnh em quyết định
chọn đề tài: ”Xây dựng chuẩn mực đạo đức của kiểm toán viên Việt Nam trên
cơ sở Chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” cho đề án
môn học kiểm toán.
Nội dung nghiên cứu của đề án là đi từ lý luận chung về đạo đức và chuẩn
mực đạo đức của kiểm toán viên đến thực trạng vấn đề đạo đức của kiểm toán viên ở
Việt Nam từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện chuẩn mực đạo đức của
kiểm toán viên
Tuy nhiên, do khả năng còn hạn chế nên trong quá trình thực hiện không tránh
khỏi những thiếu sót, vì vậy em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ các
thầy, cô giáo và bạn đọc để đề án hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn GS.TS. Nguyễn Quang
Quynh đã giúp đỡ em hoàn thành đề án này!
CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ CHUẨN MỰC ĐẠO
ĐỨC CỦA KIỂM TOÁN VIÊN
1.1. Lý luận chung về đạo đức
1.1.1 Nguồn gốc của khái niệm đạo đức
Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức học

của quan điểm này thay đổi theo cơ sở đã đẻ ra nó. Ví dụ, thích ứng với chế độ phong
kiến, dựa trên cơ sở bóc lột những người nông nô bị cột chặt vào ruộng đất là đạo
đức chế độ nông nô. Thích ứng với chế độ tư bản, dựa trên cơ sở bóc lột công nhân
làm thuê là đạo đức chế độ tư sản. Chế độ xã hội chủ nghĩa tạo ra một nền đạo đức
biểu hiện mối quan hệ hợp tác trên tình đồng chí và quan hệ tương trợ xã hội chủ
nghĩa của những người lao động đã được giải phóng khỏi ách áp bức, bóc lột. Như
vậy, sự phát sinh và phát triển của đạo đức, xét đến cùng là một quá trình do sự phát
triển của phương thức sản xuất quyết định.
Đạo đức là phương thức điều chỉnh hành vi của con người: Loài người đã
sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi con người: phong tục, tập quán, tôn
giáo, pháp luật, đạo đức,… Đối với đạo đức, sự đánh giá hành vi con người qua
khuôn khép, chuẩn mực và qui tắc đạo đức biểu hiện thành những khái niệm về thiện
và ác, vinh và nhục, chính nghĩa và phi nghĩa. Bất kỳ trong thời đại lịch sử nào,
người ta cũng đánh giá như vậy. Các khái niệm thiện ác, khuôn phép và quy tắc hành
vi của con người thay đổi từ thế kỉ này sang thế kỉ khác, từ dân tộc này sang dân tộc
khác. Và trong xã hội có giai cấp bao giờ cũng biểu hiện lợi ích của một giai cấp nhất
định. Những khuôn phép, quy tắc là yêu cầu của mỗi xã hội, giai cấp đề ra cho hành
vi đạo đức cá nhân. Nó bao gồm hành vi của cá nhân đối với xã hội và đối với người
khác, được đông đảo công luận của xã hội, giai cấp, dân tộc thừa nhận. Đã là thành
viên của xã hội, con người phải chịu sự giáo dục nhất định về ý thức đạo đức, một sự
đánh giá với hành vi của mình và trong hoàn cảnh nào đó còn chịu sự khiển trách của
lương tâm…Cá nhân phải chuyển hoá những đòi hỏi của xã hội và những biểu hiện
của chúng thành nhu cầu, mục đích và hứng thú trong hoạt động của mình. Biểu hiện
của sự chuyển hoá này là hành vi của cá nhân tuân thủ các ngăn cấm, khuyến khích,
những chuẩn mực phù hợp với đòi hỏi xã hội. Do vậy, sự điều chỉnh của đạo đức
mang tính tự nguyện, và xét về bản chất, đạo đức là sự lựa chọn của con người.
Con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất là yếu tố hàng đầu,
yếu tố đóng vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất xã hội mà hơn nữa, con người
còn đóng vai trò chủ thể hoạt động của quá trình lịch sử. Thông qua hoạt động sản
xuất, con người sáng tạo ra lịch sử của mình, lịch sử xã hội loài người. Từ quan niệm

tộc Việt Nam đã được hình thành, phát triển trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và
giữ nước; là sự vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng đạo đức cách mạng của chủ
nghĩa Mác- Lênin. Đó là sự tiếp thu có chọn lọc và phát triển những tinh hoa văn hoá,
đạo đức của nhân loại cả phương Đông và phương Tây, mà Người đã tiếp thu được
trong quá trình hoạt động cách mạng đầy gian lao thử thách và vô cùng phong phú vì
mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã khẳng định đạo đức là gốc của người cách mạng.
Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Người đã nêu lên 23 điểm thuộc “ tư cách một
người cách mệnh”, trong đó chủ yếu là các tiêu chuẩn về đạo đức, thể hiện chủ yếu
trong 3 mối quan hệ: với mình, với người và với việc. Người viết: “ Làm cách mạng
để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là
một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài và gian khổ. Sức
có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách
mạng làm nền tảng , mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”.
Với mỗi người, Hồ Chí Minh ví đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển
con người, như gốc của cây, như ngọn nguồn của sông suối. Người viết: “ Cũng như
sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc,
không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì
dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.
Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng giúp cho con người vững vàng trong
mọi thử thách. Người viết: “ có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ , thất
bại không rụt rè, lùi bước”, “ khi gặp thuận lợi, thành công vẫn giữ vững tinh thần
gian khổ, chất phác, khiêm tốn”, mới “ lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; “ lo hoàn
thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần,
không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hoá”.
Vai trò của đạo đức cách mạng còn thể hiện ở chỗ đó là thước đo lòng cao
thượng của con người. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, mỗi người có công việc,
tài năng, vị trí khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ, nhưng ai giữ được
đạo đức cách mạng đều là người cao thượng.
Những phẩm đạo đức cơ bản cuả con người Việt Nam trong thời đại mới: Từ

hoàn thiện mình theo lý tưởng chân, thiện, mỹ.
Ba là, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là những phẩm chất được Hồ Chí
Minh đề cập nhiều nhất, thường xuyên nhất trong các bài viết, bài nói về đạo đức.
Phẩm chất này gắn với hoạt động thực tiễn, được thể hiện cụ thể, hàng ngày của mỗi
con người, là cái nhìn thấy được của đạo đức, không thể che dấu, gắn chặt giữa nói
và làm, suy nghĩ và hành động…
Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển những khái niệm truyền thống của đạo
đức phương Đông phù hợp với thời đại mới.
Cần tức là lao động cần cù, siêng năng, tự lực cánh sinh, có kế hoạch, sáng tạo
và có năng suất cao.
Kiệm là tiết kiệm sức lao động, thì giờ, tiền của của dân, nước, bản thân, tiết
kiệm từ cái nhỏ đến cái to, không phô trương, hình thức, xa xỉ, hoang phí…
Liêm là “ luôn luôn tôn trọng của công, của dân”, liêm khiết trong mọi hoàn
cảnh “ không tham địa vị, không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham
người tâng bốc mình”.
Chính nghĩa là “ không tà, thẳng thắn, đứng đắn” đối với mình, đối với người
và đối với việc. “ Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ mấy cũng
tránh”.
Về chí công vô tư, theo Hồ Chí Minh là “ khi làm bất cứ việc gì cũng đừng
nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”, “ phải lo trước thiên hạ, vui
sau thiên hạ”.
Cần, kiệm, liêm, chính tốt sẽ dẫn tới chí công vô tư, và chí công vô tư, một
lòng vì dân, vì nước nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính. Người yêu
cầu mọi người dân Việt Nam đều phải rèn luyện, tu dưỡng theo các phẩm chất trên, “
trước hết là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền
nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của
đút, có dịp “ dĩ công vi tư”.
Bốn là, tinh thần quốc tế trong sáng, thuỷ chung yêu cầu phẩm chất đạo đức
mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động nhằm vào mối quan hệ rộng lớn,
vượt ra ngoài quốc gia, xây dựng tình đoàn kết quốc tế vì hoà bình, hữu nghị, công lý

hoá, biến chất trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.
Xây dựng đạo đức mới, trước hết là tuyên truyền, giáo dục các phẩm chất,
chuẩn mực đạo đức mới cho mỗi người, tạo môi trường đạo đức trong sáng, lành
mạnh cho con người, cho từng cộng đồng. Xây dựng đạo đức cũng bằng việc khơi
dậy ý thức vươn lên tự nguyện của con người tới cái chân, cái thiện, cái mỹ, từ đó tạo
ra bằng được năng lực tự trau dồi đạo đức trong mỗi con người, loại bỏ cái xấu, cái
ác, cái vô đạo đức.
Cùng với xây, nhiệm vụ chống giữ vị trí đặc biệt quan trọng để tạo môi trường
cho cái tốt đẹp nảy nở, để bảo vệ và khẳng định được cái mới về đạo đức đang hình
thành và phát triển trong cuộc đấu tranh quyết liệt với cái ác, cái xấu, cái phản động,
cái vô đạo đức.
Ngay từ năm 1952, Người đã coi những tệ nạn tham ô, lãng phí, quan liêu là
tội ác, là kẻ thù nguy hiểm của nhân dân, là bạn đồng minh của thực dân, phong kiến,
là thứ “ giặc nội xâm”, “ giặc ở trong lòng”, phá từ trong phá ra. Người khẳng định
dứt khoát, phải kiên quyết chống lại những tệ nạn đó. “ Cần phải nêu những đồng chí
đã ăn hối lộ ra để cho dư luận qưở trách và cần phải đuổi họ ra khỏi Đảng…Phải lập
tức đề nghị một đạo luật để trừng trị những vụ hối lộ”.
Ba là, phải tu dưỡng đạo đức suốt đời, kiên trì, bền bỉ, hàng ngày, bởi vì “Đạo
đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng
ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện
càng trong”.Hồ Chí Minh cũng đã chỉ ra một hiện tượng mà đến nay, chúng ta càng
thấm thía vì tính thời sự của nó, đó là những người trong lúc đấu tranh thì không sợ
nguy hiểm, cực khổ song đến khi có ít quyền hành trong tay thì đâm ra kiêu ngạo, xa
xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan liêu…
Theo quan điểm Hồ Chí Minh, đã là người ai cũng có chỗ hay, chỗ dở, cái
xấu, cái tốt, ai cũng có thiện, có ác ở trong bản thân mình, trong lòng mình. Vì vậy
cần có cái nhìn biện chứng và nhân văn để phát triển cái thiện, đẩy lùi cái ác trong
mỗi con người và đặc biệt quan trọng là từng người phải tự rèn luyện, tu dưỡng, dám
đấu tranh với chính mình để làm cho “ phần tốt ở trong mỗi người nảy nở như hoa
mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi”.

một yếu tố vô cùng quan trọng trong cuộc kiểm toán. Kiểm toán viên- Họ là ai? Kiểm
toán viên là khái niệm chỉ những người làm công tác kiểm toán cụ thể có trình độ
chuyên môn nghiệp vụ tương xứng với công việc đó. Theo nghĩa hẹp, từ kiểm toán
viên (Auditor) thường chỉ kiểm toán viên công chứng ( Certified Public Accountant_
CPA). Tuy nhiên trong cả lý luận và thực tế, khái niệm kiểm toán viên còn bao hàm
cả kiểm toán viên Nhà nước( Government Auditor) và kiểm toán viên nội bộ
( Internal Auditor).
Vai trò của kiểm toán : Kiểm toán không phải là hoạt động “ tự thân” và “
vị thân”. Nó sinh ra từ yêu cầu quản lý và phục vụ cho yêu cầu của nhà quản lý.
Thứ nhất, kiểm toán tạo niềm tin cho những người quan tâm. Trong cơ chế
thị trường có rất nhiều người quan tâm đến tình hình tài chính và sự phản ánh của nó
trong tài liệu kế toán bao gồm nhà quản lý, nhà đầu tư, cơ quan nhà nước, khách
hàng, người lao động,…
Thứ hai, kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và hướng dẫn nề nếp
hoạt động tài chính kế toán nói riêng và hoạt động quản lý nói chung.
Thứ ba, kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý. Điều
này thể hiện rõ trong chức năng tư vấn của kiểm toán.
Kiểm toán giống như một quan toà công minh cho quá khứ, người dẫn dắt
hiện tại và cố vấn sáng suốt cho tương lai. Từ đó chúng ta thấy rõ được trách nhiệm
của kiểm toán viên với nghề nghiệp của họ. Nếu mỗi kiểm toán viên có ý thức và
năng lực, tuân thủ những quy tắc, chuẩn mực nghề nghiệp thì sẽ góp phần rất lớn vào
hiệu quả cũng như uy tín của nghề kiểm toán.
Đạo đức kiểm toán viên : Đạo đức nghề nghiệp kiểm toán đảm bảo cho hiệu
quả và niềm tin xã hội với kiểm toán viên. Nó yêu cầu mỗi kiểm toán viên phải có
đạo đức và mỗi tổ chức kiểm toán phải là cộng đồng người có đạo đức. Vì thế đạo
đức nghề nghiệp là yêu cầu bắt buộc trong nghề kiểm toán, một mặt giúp quản lý và
giám sát mọi kiểm toán viên cũng như tổ chức kiểm toán; mặt khác sẽ giúp công
chúng hiểu biết về kiểm toán viên, để qua đó công chúng có quyền đòi hỏi và đánh
giá kiểm toán viên trong quá trình làm việc.
Đạo đức nghề nghiệp là những chỉ dẫn để những thành viên luôn duy trì

Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ ban hành điều lệ hạnh kiểm nghề nghiệp, Hiệp hội
Kế toán viên công chứng Canada ban hành quy tắc thống nhất về hạnh kiểm nghề
nghiệp… Trong điều lệ, tổ chức quy định những điều kiểm toán viên được làm và
không được làm khi hành nghề. Ngoài IFAC, trên thế giới còn có các tổ chức tham
gia biên soạn và ban hành chuẩn mực nghề nghiệp như IIA ( Hiệp hội Kiểm toán viên
nội bộ), INTOSAI ( Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao), ở châu Á có
ASOSAI ( Tổ chức các cơ quan kiểm toán tối cao ở châu Á)…
Chuẩn mực đạo đức ra đời để kiểm soát đạo đức và hành vi của kiểm toán
viên, đồng thời cũng tồn tại song song những quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề
này cho phù hợp với sự biến động nhanh chóng và phức tạp của nền kinh tế và đặc
điểm riêng biệt ở mỗi quốc gia.
Tại Hoa Kỳ, các chuẩn mực kiểm toán và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp
do tổ chức nghề nghiệp kiểm toán (AICPA) ban hành và việc kiểm soát chất lượng
hoàn toàn do tổ chức nghề nghiệp đảm nhận. Mô hình tự kiểm soát xuất phát từ
nguyên nhân là hoạt động kiểm toán độc lập Hoa Kỳ đã phát triển mạnh và từ rất sớm
do nền kinh tế được tài trợ bởi thị trường chứng khoán. Sự phát triển mạnh của hoạt
động kiểm toán từ khi chưa có các quy định của Nhà nước đã đưa đến sự hình thành
và phát triển mạnh mẽ của các tổ chức nghề nghiệp. Cho đến những năm 2000 một số
vụ bê bối về tài chính và kế toán nổ ra đưa đến sự phá sản của những công ty hàng
đầu thế giới mà điển hình là sự sụp đổ của tập đoàn năng lượng khổng lồ Enron do
dính líu đến gian lận kế toán, kiểm toán và giao dịch nội bộ. Ngay sau đó, Kmart
cũng công bố phá sản ( 22/01/2002), rồi sau đó đến Global Crossing ( 28/01),
Adelphia ( 25/06), sau đó đến Wold Com (21/07) , vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử
nước Mỹ. Cùng với đó là sự kiện gây chấn động ngành kiểm toán khi tập đoàn kiểm
toán hàng đầu thế giới Arthur Anderxen đã liên kết với tập đoàn Enron để đưa ra
những thông tin giả trên báo cáo tài chính, gây nên thiệt hại khổng lồ cho cổ đông và
trục lợi cho lãnh đạo tập đoàn. Để làm được điều này, Richard Causey, nguyên là
kiểm toán viên của Anderxen đã được chuyển sang làm kế toán trưởng của Enron, từ
đây thiết kế nên hệ thống lừa dối cổ đông khi chính mình lập ra và kiểm toán những
báo cáo tài chính của tập đoàn này do Anderxen đã ký hợp đồng làm tư vấn rồi làm

chuẩn mực số 200- Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo tài
chính. Hiện nay các quy định này được thể hiện chủ yếu trong Nghị Định 105/ 2004/
NĐ- CP ban hành ngày 30/ 03/ 2004 của Chính phủ và chuẩn mực đạo đức nghề
nghiệp kiểm toán cụ thể ban hành ngày 01/ 12/ 2005 theo quyết định số 87/ 2005/
QĐ- BTC của Bộ Tài Chính áp dụng cho tất cả những người làm kế toán và kiểm
toán. Việc tồn tại song song hai quy định nói trên là phù hợp với thông lệ chung trên
thế giới. Tuy nhiên, do mới chỉ dừng lại ở mức độ chuẩn mực nên một số nội dung
còn khá trừu tượng, cần có những quy định hướng dẫn cụ thể.
Các nguyên tắc cơ bản của chuẩn mực đạo đức kiểm toán viên : Theo quy
tắc về đạo đức nghề nghiệp do IFAC ban hành, chuẩn mực đạo đức nhiều nước trên
thế giới cũng như chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kiểm toán Việt Nam ban hành
ngày 01/ 12/ 2005 theo QĐ 87/ 2005/ QĐ- BTC thì nguyên tắc cơ bản của đạo đức
nghề nghiệp kiểm toán bao gồm một số nét chung sau đây:
1) Chính trực: Người làm kiểm toán phải thẳng thắn, trung thực, có chính
kiến rõ ràng
2) Khách quan: Người làm kiểm toán phải công bằng, tôn trọng sự thật và
không được thành kiến, thiên vị.
3) Năng lực chuyên môn và tính thận trọng: Người làm kiểm toán phải thực
hiện công việc với đầy đủ năng lực chuyên môn cần thiết, với sự thận trọng cao nhất
và tinh thần làm việc chuyên cần. Kiểm toán viên có nhiệm vụ duy trì, cập nhật và
nâng cao kiến thức trong hoạt động thực tiễn, trong môi trường pháp lý và các tiến bộ
kỹ thuật để đáp ứng yêu cầu công việc.
4) Tính bảo mật: Người làm kiểm toán phải giữ bí mật các thông tin trong
quá trình kiểm toán, không được tiết lộ bất cứ một thông tin gì khi chưa có sự cho
phép của người có thẩm quyền, trừ khi có nghĩa vụ phải công khai theo yêu cầu của
pháp luật hoặc trong phạm vi quyền hạn của mình.
Ngoài những điểm chung trên, quy tắc đạo đức kiểm toán của IFAC có thêm
quy định về cách hành xử chuyên nghiệp: Kiểm toán viên phải tự điều chỉnh những
hành vi của mình cho phù hợp với uy tín ngành nghề và tự kiềm chế những hành vi
không gây tổn hại đến uy tín nghề nghiệp.

thân, công ty và rộng hơn là cả ngành nghề kiểm toán.
Đối với xã hội : Với vai trò đối với hoạt động của kiểm toán viên như trên,
chuẩn mực nghề nghiệp kiểm toán đã gia tăng được mức độ chính xác các thông tin
được đưa ra về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đấy là cơ sở đưa
ra các quyết định quan trọng trong quản lý, đầu tư. Một quyết định sẽ là sai lầm nếu

Trích đoạn Các đề xuất hoàn thiện chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kiểm toán Đối với bản thân kiểm toán viên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status