Luận văn Vấn đề đạo đức cách mạng của người cán bộ lãnh đạo quản lý ở Vĩnh Phúc trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay - Pdf 11



1

Luận văn
Vấn đề đạo đức cách mạng của
người cán bộ lãnh đạo quản lý ở
Vĩnh Phúc trong điều kiện kinh tế thị
trường hiện nay 2

Mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài
Đạo Đức là một hình thái ý thức xã hội, nó được bắt nguồn từ tồn tại xã
hội và phản ánh tồn tại xã hội. Đạo Đức có vị trí, vai trò cực kỳ quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia, dân tộc.
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã, đang diễn ra
sâu sắc và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhằm thực
hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất
nước, tiến đến mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ
văn minh". Từ đó đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cấp

trọng" [17, tr.80-81], Đại hội Đảng lần thứ X nhấn mạnh: "Đấu tranh
phòng chống tham nhũng lãng phí là một nhiệm vụ trọng tâm của công tác
xây dựng Đảng, nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của cả hệ thống chính trị
và toàn xã hội" [20, tr.286-287].
Trước tình hình đó, việc nâng cao đạo đức cách mạng của người cán
bộ, lãnh đạo quản lý là việc cần thiết và cấp bách. Tình hình đạo đức cán bộ
lãnh đạo quản lý ở tỉnh Vĩnh Phúc cũng không nằm ngoài cái chung đó. Vì
thế, để góp phần nhỏ bé vào việc giải quyết vấn đề này tôi lựa chọn đề tài: "
Vấn đề đạo đức cách mạng của người cán bộ lãnh đạo quản lý ở Vĩnh
Phúc trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay ".
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề đạo đức đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của
Đảng đặc biệt quan tâm trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ
cán bộ, đảng viên. Nhiều bài viết, bài nói của Người đã trở thành những công
trình nghiên cứu về đạo đức cách mạng như:
- "Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng", Nxb Sự thật, Hà Nội 1976 4

- "Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề đạo đức cách mạng", Nxb Thông
tin lý luận, Hà Nội, 1986.
- "Hồ Chí Minh về đạo đức", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993.
Tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh đã được một số tác giả nghiên cứu
trên cơ sở học tập đạo đức, phong cách làm việc của Người, đề xuất các giải
pháp xây dựng đạo đức mới:
- "Học tập đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh", Nxb Thông tấn, Hà Nội, 2004.
- "Đạo đức, phong cách, lề lối làm việc của công chức theo tư tưởng
Hồ Chí Minh", Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1998 - Thang Văn Phúc chủ
biên.

- "Xây dựng đạo đức mới cho cán bộ, lãnh đạo quản lý trong điều kiện
kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay" (Qua thực tế ở tỉnh Kiên Giang),
Nguyễn Văn Quyết, Luận án Tiến sĩ triết học, Hà Nội, 2000.
- "Vấn đề đạo đức cách mạng của người cán bộ hậu cần quân đội nhân
dân Việt Nam trong điều kiện hiện nay", Hà Nguyên Cát, Luận án Tiến sĩ triết
học, Hà Nội, 2000.
- "Vấn đề đạo đức cách mạng cho người cán bộ chủ chốt ở tỉnh Đắk
Lak trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay", Nguyễn Tuyền Quang, Luận
văn triết học, Hà Nội 2003.
- "Vấn đề đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong điều kiện
kinh tế thị trường hiện nay" (Qua thực tế ở tỉnh Hưng Yên), Bùi Văn Hà,
Luận văn Thạc sĩ triết học, Hà Nội, 2004.
- "Vấn đề đạo đức cách mạng của cán bộ - Đảng viên hiện nay" (Qua
thực tế ở tỉnh Thanh Hoá), Đỗ Thị Toán, Luận văn triết học, Hà Nội, 2006
Trong các công trình này, các tác giả đã đưa ra những chuẩn mực đạo
đức, những nguyên tắc và yêu cầu đạo đức cách mạng của cán bộ, lãnh đạo
quản lý. Các tác giả cũng thống nhất khi luận giải việc giáo dục đạo đức nói 6

chung và giáo dục đạo đức cách mạng nói riêng phải trên cơ sở của môi
trường kinh tế, văn hoá xã hội nhất định. Từ đó đưa ra những giải pháp chủ
yếu nhằm nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ lãnh đạo quản lý hiện nay.
Trên thực tế, ở Vĩnh Phúc trong những năm qua cùng với sự hội nhập,
phát triển kinh tế của cả nước, Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Phúc đã gặt hái
được những thành tựu đáng kể trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá xã
hội. Hiện thực đó đã được thông qua các văn bản, đánh giá tổng kết của Vĩnh
Phúc và được Đảng, Nhà nước công nhận.
Song, thực tế cho thấy tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống của một bộ

Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta về
đạo đức, đạo đức cách mạng, đạo đức của người cán bộ lãnh đạo quản lý.
Ngoài ra luận văn có tham khảo kế thừa các kết quả ở những công trình
nghiên cứu đã được công bố có liên quan đến nội dung của đề tài.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn có sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó tư tưởng chỉ đạo và phương
pháp của luận văn là quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
Luận văn sử dụng một số phương pháp cụ thể, trong đó chủ yếu là
phương pháp lịch sử - lôgíc, phương pháp phân tích điều tra xã hội học,
phương pháp so sánh.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Làm rõ yêu cầu đạo đức cách mạng của cán bộ lãnh đạo quản lý trong
điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.
- Làm rõ thực trạng đạo đức của cán bộ lãnh đạo quản lý ở Vĩnh Phúc
hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao đạo đức cách mạng
của cán bộ lãnh đạo quản lý ở Vĩnh Phúc hiện nay.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 8

Góp phần vào việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về đạo đức, đạo
đức cách mạng của người cán bộ lãnh đạo quản lý, bổ sung thêm những cơ sở
khoa học có thể tham khảo cho việc hoạch định chiến lược và chính sách cụ
thể liên quan đến vấn đề đạo đức của cán bộ lãnh đạo quản lý ở Vĩnh Phúc
hiện nay.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy
môn: Triết học; Kinh tế chính trị; Đạo đức; Văn hoá xã hội trong Trường

quan điểm siêu hình.
Mặc dù, các quan niệm về đạo đức của các nhà triết học trước Mác còn
nhiều hạn chế nhưng họ cũng có những đóng góp nhất định cho quan niệm
đúng đắn, khoa học về phạm trù đạo đức sau này.
Đạo đức học mác xít cho rằng: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội,
là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và
đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã
hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh
dư luận xã hội.
ở Việt Nam, theo từ điển tiếng Việt (Hà Nội 1997) thì: "Đạo đức là
những tiêu chuẩn, quy tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi,
quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội".
Theo Trần Hậu Kiêm: "Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc,
chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình vì
lợi ích xã hội, hạnh phúc của con người trong mối quan hệ giữa con người và
con người, giữa cá nhân và tập thể hay toàn xã hội" [29, tr.7].
Đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã
hội, phản ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội.
Theo Mác - Ăng ghen, con người hoạt động tức là đã sản xuất ra các tư
liệu vật chất cần thiết cho đời sống sinh hoạt trước khi sáng lập ra các thứ lý
luận và nguyên tắc bao gồm cả triết học và luân lý học. Chế độ kinh tế xã hội
là nguồn gốc của quan điểm về đạo đức con người. Sự phát sinh, phát triển 10
của đạo đức xét đến cùng là một quá trình do sự phát triển của phương thức
sản xuất quyết định.
Đạo đức chính là một phương thức điều chỉnh hành vi của con người,
sự đánh giá hành vi con người theo khuôn chuẩn mực và quy tắc đạo đức biểu
hiện thành những khái niệm về: Thiện - ác; Vinh - Nhục; Chính nghĩa - Phi

Đạo đức đòi hỏi từ tối thiểu đến tối đa đối với các hành vi cá nhân
phương thức điều chỉnh là bằng dư luận xã hội và lương tâm. Những chuẩn mực
đạo đức bao gồm cả chuẩn mực ngăn cấm và cả chuẩn mực khuyến khích.
Vậy: Chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức bằng dư luận xã hội và
lương tâm đòi hỏi từ tối thiểu tới tối đa hành vi con người đã trở thành đặc
trưng riêng để phân biệt đạo đức với các hình thái ý thức khác, các hiện tượng
xã hội khác và lâm thành cái không thể thay thế của đạo đức.
Thứ hai: Chức năng giáo dục:
Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể của lịch sử.
Con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người
đến mức ấy.
Trong xã hội có giai cấp hình thành và tồn tại nhiều hệ thống đạo đức
khác nhau luôn tác động đến các cá nhân. Môi trường đạo đức tác động đến
các cá nhân bằng nhận thức đạo đức và thực tiễn đạo đức. Nhận thức đạo đức
để chuyển hoá đạo đức xã hội thành ý thức đạo đức cá nhân. Thực tiễn đạo
đức là hiện thực hoá nội dung giáo dục bằng hành vi đạo đức. Các hành vi
đạo đức lặp đi lặp lại trong đời sống xã hội và cá nhân làm cho cả đạo đức cá
nhân và xã hội được củng cố, phát triển trở thành thói quen, truyền thống, tập
quán đạo đức.
Hiệu quả giáo dục đạo đức phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội,
cách thức tổ chức, đào tạo mức độ tự giác của chủ thể và đối tượng giáo dục
trong quá trình giáo dục.
Giáo dục đạo đức gắn với tiến bộ đạo đức ở chỗ: 12
Sự hoàn thiện của cấu trúc đạo đức và mức độ phổ biến nhân đạo hoá
các quan hệ xã hội, nó sẽ giúp chủ thể lựa chọn, đánh giá đúng hiện tượng xã
hội, tự đánh giá đúng bản thân mình. Khi đã có sự tự nhận thức, tự đánh giá
đúng thông qua mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ, nội dung, phương thức, hình

hoá được những chuẩn mực đạo đức của xã hội như là cái chung thành ý thức
đạo đức của cá nhân như là cái riêng.
Nhận thức hướng nội (tự nhận thức), lấy bản thân mình - chủ thể đạo
đức - làm đối tượng nhận thức. Đây là quá trình tự đánh giá, tự thẩm định, tự
đối chiếu những nhận thức, hành vi, đạo đức của mình với những chuẩn mực
giá trị chung của cộng đồng. Từ cách nhận thức này mà chủ thể hình thành,
phát triển thành các quan điểm và nguyên tắc sống: sáng tạo hay thụ động, hy
sinh hay hưởng thụ, vị tha hay vị kỷ, hướng thiện hay sa vào cái ác…
Trong quá trình tự nhận thức, vai trò của dư luận xã hội và lương tâm là
rất lớn. Dư luận xã hội là sự bình phẩm, đánh giá từ phía xã hội đối với chủ
thể, còn lương tâm là sự tự phê bình. Cả hai đều giúp chủ thể tái tạo lại giá trị
đạo đức của mình - giá trị mà xã hội mong muốn.
Tự nhận thức giúp chủ thể ý thức được trách nhiệm của mình và sẵn
sàng để hoàn thành trách nhiệm đó. Trong cuộc sống có vô số những trách
nhiệm như vậy. Nó luôn tự đặt ra trong quan hệ phong phú giữa chủ thể đạo
đức với xã hội, gia đình, bạn bè, đồng chí, đồng đội, tập thể, dân tộc, giai cấp,
tổ quốc.
Tóm lại: Đạo đức là yếu tố cốt lõi của nhân cách con người, nó có vai
trò rất quan trọng trong đời sống xã hội, nó là phương thức cơ bản để điều
chỉnh hành vi của con người, làm cho cá nhân và xã hội cùng tồn tại và phát
triển. Vì vậy mà các giai cấp, các tập đoàn xã hội tiến bộ bao giờ cũng sử 14
dụng đạo đức như là một trong những công cụ, động lực để thúc đẩy kinh tế -
xã hội phát triển.
Về mặt lịch sử, đạo đức mới đã tồn tại và phát triển trước khi tồn tại xã
hội XHCN, nó được hình thành từ cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân
chống lại giai cấp tư sản, nhằm thiết lập địa vị thống trị của mình. Chính nội
dung của cuộc đấu tranh đó quy định sự phát triển nội dung của đạo đức cộng

Vậy "Cán bộ" có thể định nghĩa là: "Người làm công tác có chức vụ
trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có
chức vụ".
Chế độ xã hội nào cũng chú ý, quan tâm đến cán bộ, vì nó liên quan
đến vận mệnh và sự hưng thịnh của mỗi chế độ, mỗi quốc gia. ở nước ta,
trong các thời kỳ cách mạng, cán bộ luôn là vấn đề nổi lên hàng đầu và giữ
một vai trò hết sức trọng yếu. Nó chẳng những có ý nghĩa quyết định đối với
công tác xây dựng Đảng và việc tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng mà còn
là nhân tố quyết định trực tiếp sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận
mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, cán bộ "vừa là người lãnh đạo, lại
vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân".
Đảng muốn lãnh đạo cách mạng phải có đường lối chính trị đúng đắn.
Nhưng để xây dựng được đường lối chính trị đúng đắn và làm cho đường lối
trở thành hiện thực sinh động trong cuộc sống thì nhất thiết phải có đội ngũ
cán bộ vững vàng, đủ sức giúp Đảng hoạch định đường lối và tổ chức thực
hiện đường lối. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Cán bộ là cái dây truyền của bộ
máy, nếu dây truyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn
bộ máy cũng bị tê liệt" [47, tr.275].
Cán bộ là người định ra đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước; đồng thời là người đưa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà
nước đến với nhân dân; vận động tổ chức nhân dân thực hiện thắng lợi các
mục tiêu đề ra, đưa đất nước ngày càng phát triển và tiến bộ. Nhấn mạnh vấn 16
đề này, Đảng ta đã chỉ rõ, phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng
Đảng là nhiệm vụ then chốt, trong Đảng, công tác cán bộ là một lĩnh vực quan
trọng nhất, là khâu then chốt của vấn đề then chốt. Và, việc nâng cao đạo đức
cách mạng cho cán bộ lãnh đạo quản lý hiện nay là vấn đề vô cùng quan trọng
và cấp bách. Vì:

định con đường phát triển của đất nước, song mặt trái của cơ chế thị trường là
mảnh đất tốt cho tham nhũng của một bộ phận cán bộ thoái hoá biến chất tăng
nhanh. Tham nhũng phổ biến hầu như trên tất cả các lĩnh vực và "đang gây
nguy cơ trực tiếp quan hệ đến sự sống còn của hệ thống chính trị" trên thực tế
không ít cán bộ, đảng viên sa ngã thoái hoá, tham ô tham nhũng, chiếm đoạt
của công, làm thất thoát, thiệt hại tài sản, tiền của Nhà nước hoặc tham gia
bảo kê cho các băng nhóm xã hội đen, nhà hàng khách sạn trá hình… Đảng ta
chỉ rõ trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội có 4 nguy cơ trong đó nguy
cơ tham nhũng trở thành "quốc nạn". Vì vậy, trong điều kiện kinh tế thị
trường hiện nay việc giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ đảng viên nói
chung và cán bộ lãnh đạo quản lý nói riêng là vấn đề cơ bản nhất trong cuộc
chống tham nhũng và tệ nạn xã hội. Bởi vì đạo đức là gốc của người cách
mạng, nó là phương thức điều chỉnh hành vi làm cho cá nhân và xã hội cùng
tồn tại và phát triển.
Thứ tư: Việc nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ lãnh đạo quản lý
còn xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của bản thân đội ngũ này trong điều kiện
kinh tế thị trường hiện nay.
Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát thấp nền kinh tế
nghèo nàn lạc hậu, lực lượng sản xuất lại hết sức thấp kém, trình độ tổ chức
quản lý xã hội còn nhiều hạn chế. Vậy đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ lãnh
đạo quản lý ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng mà công cuộc xây
dựng và đổi mới đất nước đòi hỏi. Thực tế trong những năm qua quá trình đổi 18
mới đất nước, đời sống nhân dân đã được cải thiện một cách rõ rệt, kinh tế xã
hội đang ngày càng phát triển, chính trị ổn định, an ninh quốc phòng được
củng cố và giữ vững xã hội chủ nghĩa. Song xã hội đã và đang xuất hiện nhiều
loại tệ nạn xã hội như: tham ô, tham nhũng, hối lộ, trốn thuế, buôn lậu, mại
dâm, ma tuý và phá hoại những giá trị truyền thống dân tộc… Đặc biệt tệ nạn

định hướng xã hội chủ nghĩa ra đời là tất yếu.
Sau khi đất nước thống nhất (1975) cho tới Đại hội đại biểu toàn quốc
lấn thứ VI (1986), ở Việt Nam vẫn duy trì một nền kinh tế tự tức, tự cấp làm
việc theo lối mệnh lệnh, hành chính, quan liêu. Thực tế đất nước đã rơi vào
cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội khá trầm trọng, sản xuất đình đồn, lạm phát
tăng vọt, đất nước bị bao vây kinh tế, đời sống nhân dân hết sức khó khăn,
lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng giảm sút.
Trước tình hình đó, việc đổi mới cơ chế quản lý, đổi mới mô hình phát
triển kinh tế trở thành đòi hỏi bức thiết của toàn xã hội. Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VI (1986) của Đảng, đánh dấu bước ngoặt trong công cuộc đổi
mới ở Việt Nam, bắt đầu của thời kỳ sự hình thành và phát triển kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Với tư tưởng chỉ đạo, xoá bỏ chế độ
tập trung quan liêu bao cấp về kinh tế, chuyển sang phát triển nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý
của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đến đại hội lần thứ IX của Đảng lại khẳng định "thực hiện nhất quán và
lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động
theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, đó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" [17,
tr.86]. Đó là sự kết luận, là sự khẳng định qua thực tiễn sau gần 20 năm đổi
mới. 20
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, đi lên từ điểm xuất phát thấp, khép kín nay chuyển
sang thương trường với "sân bởi" rộng lớn, ngoài những mặt mạnh, mặt tích
cực của nền kinh tế thị trường, chúng ta không thể không tránh khỏi những
mặt trái của cơ chế ấy. Chính mặt trái của kinh tế thị trường tạo điều kiện cho
tệ quan liêu, tham ô, tham nhũng gia tăng. Không ít cán bộ, đảng viên thoái

chủ nghĩa. Tuy nhiên, Nhà nước không thể chủ quan, tuỳ tiện can thiệp và các
quan hệ kinh tế mà phải tôn trọng, nhận thức và vận dụng đúng các quy luật
kinh tế thị trường để quản lý nền kinh tế đó theo mục tiêu đã định.
1.2.1.2. ảnh hưởng của kinh tế thị trường đến đạo đức người lãnh
đạo quản lý
Cơ chế thị trường đang là hiện tượng có tính toàn cầu. Ngày nay, không
thể nói tới phát triển nếu như không chuyển sang nền kinh tế thị trường. Nó
tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, vừa có tính tích cực
vừa có tính tiêu cực.
ảnh hưởng của cơ chế thị trường đối với đạo đức nói chung và đạo đức
người cán bộ lãnh đạo quản lý nói riêng là một hiện tượng hết sức phức tạp.
Cơ chế thị trường được thực hiện với những dạng thức khác nhau, ở những
quốc gia khác nhau, đồng thời mỗi quốc gia khi đi vào kinh tế thị trường có
một trình độ phát triển kinh tế - xã hội với điểm xuất phát cũng khác nhau,
nền văn hoá cũng khác nhau.
* Mặt tích cực:
Một là: Nền kinh tế thị trường đề cao trách nhiệm cá nhân. Nói đến đạo
đức của lãnh đạo quản lý trước hết là nói đến trách nhiệm cá nhân của họ.
điều đó biểu hiện ở trách nhiệm đối với công việc được giao phó, trách nhiệm
đối với đơn vị mà mình lãnh đạo quản lý. Đảm bảo tốt trách nhiệm cá nhân đó
là một chuẩn mực đạo đức của người cán bộ lãnh đạo quản lý. Chuẩn mực giá 22
trị này không phải là điều gì mới mẻ nhưng điều muốn nói ở chỗ, trong nền
kinh tế thị trường chuẩn mực đó trở nên cụ thể hơn, rõ ràng hơn. Tinh thần
trách nhiệm của người cán bộ lãnh đạo quản lý phải được biểu hiện ở công tác
lãnh đạo quản lý. Hiệu quả trong nền kinh tế thị trường được biểu hiện ra một
cách rõ ràng, được cân đong, đo đếm một cách cụ thể. Từ đó, một mặt khắc
phục được cách xem xét đánh giá tinh thần trách nhiệm của người cán bộ lãnh

đạo quản lý nói riêng, ảnh hưởng tích cực của nền kinh tế thị trường là từng
bước hình thành nhân cách tự chủ, tự lập trong con người, rèn luyện con
người ý thức lao động và sáng tạo. Đó là những phẩm chất đạo đức về nghĩa
vụ, ý chí, lòng dũng cảm, tính nguyên tắc, tính trung thực và tính khiêm tốn ở
mỗi cán bộ lãnh đạo quản lý trong đời sống xã hội hiện nay.
* Mặt tiêu cực:
Kinh tế thị trường ở nước ta có những điều khác với kinh tế thị trường
trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, cũng khác với kinh tế thị
trường trong thời kỳ hiện đại. Sự chuyển biến sang kinh tế thị trường ở nước
ta được tiến hành một cách tự giác… Đó là một nền kinh tế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước và định hướng CNXH. Tuy nhiên, vẫn là kinh tế thị
trường nên nó có những mặt mâu thuẫn với bản chất tốt đẹp của xã hội
XHCN. Sự tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đến đạo đức người cán bộ
lãnh đạo quản lý thể hiện ở những khía cạnh sau:
Một là: Nền kinh tế thị trường lấy lợi ích (nhấn mạnh lợi ích kinh tế,
coi trọng lợi ích cá nhân) làm động lực của sự phát triển. Nhân tố này tự bộc
lộ hai mặt: Mặt tích cực và sự khơi dậy tính sáng tạo của tư duy. Nhưng cũng
chính quá trình này đã khơi lên nguồn lợi ích, một chất men kích thích làm
khá nhiều cán bộ lãnh đạo chính trị và một số cán bộ khác "lao vào" và có
những quyết định sai, bất chấp pháp luật, bất chấp lương tâm, đạo lý để làm
giàu bất chính. Thực tế cho thấy, cuộc đấu tranh giữa hai lối sống: lối sống có 24
lý tưởng, lành mạnh, trung thực sống bằng lao động của mình, có ý thức tôn
trọng và bảo vệ của công, chăm lo lợi ích của tập thể và của đất nước, với lối
sống thực dụng, dối trá, ích kỷ, ăn bám, cơ hội, chạy theo đồng tiền trong đời
sống xã hội đang diễn biến phức tạp.
Hai là: Kinh tế thị trường là môi trường xã hội thuận lợi nảy sinh phát
triển chủ nghĩa cá nhân. Đi vào kinh tế thị trường là tất yếu khách quan, song

nghệ sản xuất tiên tiến của nhiều nước trên thế giới. Nhưng cùng với điều đó
là ảnh hưởng tiêu cực của văn hoá phương Tây, của lối sống thực dụng tư sản.
Bằng nhiều con đương, ngõ ngạch, thông qua mở cửa, các hình thức như:
phim, băng hình, đĩa compact, sách, báo, tranh ảnh dâm ô đồi truỵ, bạo lực,
tuyên truyền cho sức mạnh đồng tiền, cho lối sống thực dụng đã "ồ ạt" vào
nước ta. Chúng trực tiếp hay gián tiếp "gặm nhấm, ăn mòn" những nguyên tắc
đạo đức xã hội chủ nghĩa, những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc.
Đây là một thách thức lớn, gây tác động xấu đến đạo đức người cán bộ lãnh
đạo quản lý ở Việt Nam hiện nay.
Với cách nhìn như vậy thì giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc đã
và đang "sói mòn" trong bước chuyển mình của nền kinh tế thị trường. Vậy
vấn đề đặt ra cho tất cả các cấp, các ngành, mọi thành viên trong xã hội cần
phải làm gì? làm như thế nào ? để chúng ta vừa phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa phải phát huy gìn giữ giá trị đạo đức
truyền thống của dân tộc, vừa xây dựng các quan hệ phẩm chất mới, đạo đức
cách mạng phù hợp với thời đại mới, thời đại của văn minh, trí tuệ.
1.2.2. Nội dung yêu cầu đạo đức cách mạng của người cán bộ lãnh
đạo quản lý ở Việt Nam hiện nay
Đạo đức là sản phẩm tổng hợp của các yếu tố khách quan và chủ quan,
là sản phẩm của hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người. Những quan
hệ giữa người với người; cá nhân và xã hội càng có ý thức tự giác, ý nghĩa và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status