Đề tài: Khủng hoảng tài chính Mỹ và vấn đề giám sát hệ thống tài chính ngân hàng tại Việt Nam - Pdf 11



Đề tài tham dự cuộc thi
Sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2019

Khủng hoảng tài chính Mỹ và vấn đề giám
sát hệ thống tài chính ngân hàng tại Việt Nam
i

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU
Chƣơng I: LÝ LUẬN VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ - HỆ
THỐNG GIÁM SÁT TÀI CHÍNH MỸ HIỆN NAY
1. Tổng quan về hệ thống Tài chính – Ngân hàng của Mỹ.
2. Phân tích nguyên nhân khủng hoảng tài chính Mỹ hiện nay.
2.1. Nguyên nhân sâu xa theo phân tích của nhóm nghiên cứu.
2.1.1 Chứng khoán hoá và các công cụ phái sinh – điểm đặc sắc của cuộc
iii

DANH MỤC HÌNH VẼ
Để cho thuận tiên, nhóm nghiên cứu gọi các bảng biểu, sơ đồ là hình vẽ.

Hình 1. Tổ chức của Hệ thống dự trữ Liên bang
Hình 2: CPI và lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp phi tài chính trong
phần trăm GDP

Hình 3: Một cách đơn giản mô hình hóa cuộc khủng hoảng Mỹ

NHNN: Ngân hàng Nhà nước
TTCK: Thị trường chứng khoán
CK: Chứng khoán
TCNH: Tài chính – Ngân hàng
HOSE: Sở Giao dịch chứng khoán TP HCM
HNX: Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội
OTC: Thị trường chứng khoán phi tập trung
BHTG: Bảo hiểm tiền gửi
BH: Bảo hiểm
QTDND: Quỹ tín dụng nhân dân
NHTM: Ngân hàng thương mại
IMF: Quỹ tiền tệ quốc tế 1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu:

2008 và vấn đề giám sát hệ thống Tài chính – Ngân Hàng tại Mỹ và Việt
Nam. Đề tài có tầm bao quát và xem xét lại nhiều vấn đề trong quá khứ lâu
dài về trước, tuy nhiên phạm vi nghiên cứu tập trung vào khoảng thời gian từ
năm 1999 đến nay, trước khi xảy ra hai sự kiện là bong bóng “dot.com” và
khủng bố 11/9 tại Mỹ. Đề tài đặt mục tiêu nghiên cứu những bài học kinh
nghiệm và rút ra giải pháp cho vấn đề giám sát hệ thống TCNH tại Việt Nam
từ cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ.
3. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài.
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp phân tích, tổng hợp,
thống kê, so sánh, sử dụng các số liệu nghiên cứu thứ cấp. Bên cạnh đó các
phương pháp mô hình hóa sử dụng bảng biểu, đồ thị sẽ giải thích đặc điểm và
nguyên nhân khủng hoảng một cách sinh động.
4. Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận và phụ lục, bài viết có kết cấu như sau:
 Chương I: Lý luận chung về khủng hoảng tài chính Mỹ và vấn đề giám
sát hệ thống TCNH.
 Chương II: Thực trạng hoạt động giám sát hệ thống TCNH tại Việt
Nam hiện nay.
 Chương III: Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực hoạt động
giám sát hệ thống TCNH tại Việt Nam.
5. Kết quả nghiên cứu dự kiến.
Đóng góp chủ yếu của đề tài là: i, Khái quát hóa cở sở lý luận về khủng
hoảng tài chính Mỹ và kinh nghiệm trong hoạt động giám sát hệ thống TCNH
tại Mỹ; ii, Phân tích năng lực của hoạt động giám sát tại Việt Nam hiện nay;
iii, Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cho hoạt động giám sát hệ
thống TCNH tại Việt nam. 3


4

Chƣơng I: LÝ LUẬN VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ - HỆ
THỐNG GIÁM SÁT TÀI CHÍNH MỸ HIỆN NAY

1. Tổng quan về hệ thống Tài chính – Ngân hàng của Mỹ.
Hệ thống tài chính Mỹ được cho là một hệ thống phức tạp về cấu trúc
và chức năng. Có nhiều loại hình tổ chức khác nhau: ngân hàng, công ty bảo
hiểm, quỹ tương trợ, thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu…tất cả những
tổ chức này đều được chính phủ giám sát. Hệ thống tài chính này chuyển
nhiều tỉ đô la mỗi năm từ những nơi thừa vốn đến những nơi thiếu vốn để đầu
tư.
Ở Mỹ, các ngân hàng hoạt động trong một hệ thống quản lý ngân hàng
kép (dual banking system) – nghĩa là cả chính quyền liên bang và tiểu bang
đều có quyền kiểm soát đối với ngân hàng. Hệ thống này được thiết lập nhằm
giúp chính quyền tiểu bang kiểm soát chặt chẽ hơn hoạt động ngân hàng trong
phạm vi lãnh thổ của mình, đồng thời đảm bảo cho các ngân hàng được chính
quyền tiểu bang và cộng đồng địa phương đối xử công bằng khi mở rộng hoạt
động sang các bang khác nhau. Các cơ quan quản lý hệ thống tài chính quan
trọng của chính phủ Mỹ là Hệ thống dự trữ liên bang (FED), Cục kiểm soát
tiền tệ, Công ty bảo hiểm tiền gửi liên bang (FDIC), Bộ Tư pháp, Ủy ban
chứng khoán và hối đoái cũng có vai trò quản lý ngân hàng nhưng kém quan
trọng hơn, trong khi đó Hội đồng ngân hàng bang là cơ quan quản lý cấp bang
cao nhất của các ngân hàng Mỹ.
Khi các ngân hàng trong hệ thống tài chính thực hiện nghiệp vụ nhận
tiền gửi vay và cung cấp các dịch vụ tài chính khác cho khách hàng, họ phải
tiến hành những công việc đó trong một khung pháp lý chặt chẽ được xây
dựng chủ yếu để bảo vệ lợi ích của toàn xã hội. Các nhà ngân hàng thường nói
với nhau rằng những ký tự FDIC (Federal Deposit Insurance Corporation) –
Cơ quan bảo hiểm tiền gửi liên bang – thực sự nghĩa là "Yêu cầu tăng vốn

 Quyết định công nhận, giám sát và kiểm tra các công ty quốc tế hoạt động
trong lĩnh vực ngân hàng tại Mỹ.
Cục quản lý tiền tệ - Controller of Currency 6

 Ban hành quyết định thành lập cho các ngân hàng nội địa mới.
 Giám sát và kiểm tra thường xuyên tất cả các ngân hàng nội địa.
 Thông qua tất cả các đơn vị sáp nhập, thiết lập chi nhánh, thực hiện chức
năng tín thác.
Công ty bảo hiểm tiền gửi liên bang – Federal Deposit Insurance
Corporation (FDIC)
 Bảo hiểm các khoản tiền gửi cho ngân hàng tuân thủ các quy định của công
ty.
 Thông qua tất cả các đơn vị sát nhập, thiết lập chi nhánh, thực hiện chức
năng tín thác của những ngân hàng được bảo hiểm.
 Yêu cầu mọi ngân hàng được bảo hiểm tập hợp các báo cáo về tình trạng
tài chính của họ.
Bộ Tƣ pháp – Department of Justice
 Xem xét và thông qua các đề nghị sáp nhập của ngân hàng và công ty sở
hữu ngân hàng. Nghiên cứu tác động của chúng đối với cạnh tranh và chấn
chỉnh kịp thời nếu đề nghị này tác động tiêu cực đáng kể tới mức độ cạnh
tranh trên thị trường.
Ủy ban hối đoái và chứng khoán
 Thông qua các đề nghị về việc phát hành chứng khoán của ngân hàng và
của công ty sở hữu ngân hàng.
Hội đồng ngân hàng bang – State Banking Board or Commission
 Ban hành giấy phép thành lập ngân hàng mới.
 Giám sát và kiểm tra thường xuyên tất cả các ngân hàng được cấp giấy

trong những năm gần đây, điểm này nói lên rằng sự độc lập của Fed làm cho
nó có thể đạt được các mục tiêu kinh tế dài hạn dễ dàng hơn (đặc biệt là kiềm
chế lạm phát) do ít phải chịu áp lực chính trị.
Fed có một cấu trúc tổ chức rất lớn, phức tạp với nhiều bộ phận gần
giống như bộ máy hành chính của Chính phủ (xem sơ đồ). Trung tâm ra quyết
định và đồng thời có quyền lực lớn nhất trong hệ thống dự trữ liên bang là
Hội đồng thống đốc (Board of Governors) tại Washington, DC. Tất cả các 8

ngân hàng do Cục quản lý tiền tệ cấp giấy phép và một số ngân hàng thành
viên bang sẵn sàng tuân thủ sự giám sát và quản lý của Fed được xem là ngân
hàng thành viên. Các tổ chức thành viên phải mua cổ phiếu (tối đa là 6% vốn
và thặng dư vốn) của ngân hàng dự trữ liên bang khu vực và phải chịu sự
kiểm tra hoạt động toàn diện của Fed. Các ngân hàng thành viên của hệ thống
dự trữ liên bang chỉ có một số ít đặc quyền bởi vì các dịch vụ của Fed được
cung cấp cho tất cả các tổ chức nhận tiền gửi đặt dự trữ tại Fed.
9

Hội đồng thống đốc
Washington, DC
(7 thành viên)

Các ngân hàng thành
viên của Hệ thống
DTLB (gồm tất cả các

quản lý
Mua bán chứng
khoán với
Chính sách cho hoạt động
hàng ngày của Fed trên thị
trường mở được thực hiện
bởi
Giám sát và
kiểm tra
Chỉ định thông qua
ban lãnh đạo và giám
sát hoạt động của
Bộ phận
chính của
Hình 1. Tổ chức của Hệ thống dự trữ Liên bang 10

2. Phân tích nguyên nhân khủng hoảng tài chính Mỹ hiện nay.
Đến thời điểm này, chúng ta có thể chính thức coi tháng 8 năm 2007 là
điểm bùng nổ của cuộc khủng hoảng tài chính hiện tại. Đó là khi các NHTW
phải can thiệp để cấp thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Vậy đâu là
nguyên nhân chính gây ra cuộc khủng hoảng hiện tại, và những nét đặc trưng
của cuộc khủng hoảng hiện tại so với những cuộc khủng hoảng trước đó. Cho
đến nay, trên thế giới phần lớn các chuyên gia kinh tế, tài chính đều cho rằng
có ba nguyên nhân không ít thì nhiều gây nên cuộc khủng hoảng tài chính
hiện tại đó là.
1. Tiết kiệm dư thừa – Saving glut: Trong đó Trung Quốc, các nước mới nổi,
các nước xuất khẩu dầu thô đã có thặng dư mậu dịch lớn trong vài năm trước

chỉ là ngòi nổ của khủng hoảng chứ không phải cái căn gốc của vấn đề. Vấn
đề lãi suất thấp cũng chỉ là thấp so với lịch sử chứ hiện tại thì chưa khẳng
định được mức lãi suất đó là thấp. Cuộc khủng hoảng tiết kiệm và cho vay
(S&L) những năm 80 sảy ra với mức lãi suất cao, trái ngược với hoàn cảnh
hiện tại. Đáng ra với lãi suất thực thấp sẽ tốt cho nền kinh tế và hệ thống tài
chính chứ không phải là điều cần phải loại bỏ.
Với lý do thứ hai cho rằng Fed đã duy trì mức lãi suất quá thấp sau giai
đoạn bong bóng chứng khoán ngành công nghệ thông tin dotcom cuối năm
2000. Theo nhóm nghiên cứu, không thể trách tội Fed, không thể buộc tội
Alan Greespan chủ tịch của Fed lúc bấy giờ đã giữ lãi suất thấp quá lâu. Hãy
nhìn vào CPI và GDP của Mỹ trong giai đoạn 2002 – 2004. (1)
Mô thức mới cho thị trường tài chính_George Soros_Nhà xuất bản tri thức năm 2008. 12

Hình 2: CPI và lợi nhuận trƣớc thuế của doanh nghiệp phi tài chính
trong phần trăm GDP

đi, sự đổi mới – điều có thể vô cùng có lợi cho nền kinh tế - được điều khiển
bằng ý muốn làm giàu hoặc dùy trì sự giàu có. Quan điểm này đưa đến một
kết luận đơn giản như sau “Một thay đổi trong môi trường kinh tế sẽ kích
thích một cuộc tìm kiếm các đổi mới có thể sinh lợi”. Các sản phẩm tài chính
mới được tìm ra để tìm kiếm lợi nhuận khi môi trường kinh tế thay đổi. Trong
đó, các sản phẩm tài chính mới trong vay thế chấp bất động sản là một sự đổi
mới.
Vậy môi trường kinh tế đã thay đổi ra sao khiến các sản phẩm tài chính
mới ra đời. Đó chính là lý do 1 và lý do 2 đã được nêu lên ở trên, với dòng
vốn sẵn chảy vào Mỹ từ Trung Quốc, các quốc gia mới nổi cộng với nỗ lực
cứu nền kinh tế thoát khỏi suy thoái sau vụ vỡ bong bóng chứng khoán ngành
công nghệ thông tin dotcom và vụ khủng bố 11/9. Lãi suất thực ở Mỹ đã duy 14

trì ở mức thấp trong một thời gian khá dài. Với nguồn tiền dồi dào như vậy sự
ra đời của các sản phẩm tài chính mới giúp các định chế tài chính có lợi nhuận
và lợi ích của xã hội được tối đa hóa là một sự sáng tạo tuyệt vời. Thông qua
các sản phẩm tài chính mới đã tạo điều kiện quay vòng vốn cho các tổ chức
cho vay và phát triển cộng đồng, vào năm 1997 các khoản vay này đã tạo cho
2/3 người dân Mỹ có nhà riêng
*
- một con số kỷ lục
Như vậy nhóm nghiên cứu đi đến kết luận rằng 3 lý do mà hiện tại mà
phần lớn mọi người cho rằng là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng hiện tại
chỉ là môi trường tạo điều kiện cho cuộc khủng hoảng diễn ra và lan rộng, vấn
đề căn bản quan trọng nhất tạo nên cuộc khủng hoảng này là vấn đề đến từ hệ
thống giám sát của Mỹ. Chúng ta sẽ đi phân tích một cách kỹ càng ngay điều
này.

triển hai con số.
Khoản mục này chiếm gần 1/3 tổng tài sản của ngân hàng cho tới giữa
thập kỷ 90. Thật không may, hình thức cho vay thế châp bất động sản lại là
một trong những hình thức rủi ro nhất trong hoạt động tín dụng ngân hàng. Ví
dụ, đầu năm 90, các khoản cho vay thế chấp bất động sản không được thanh
toán chiếm một nửa số tài sản có vấn đề do các ngân hàng Mỹ nắm giữ.
 Sự khác nhau giữa cho vay thế chấp bất động sản và các hình thức cho
vay khác: Cho vay thế chấp bất động sản khác với phần lớn các hình thức
cho vay khác trên một số khía cạnh chủ yếu. Thứ nhất, quy mô cho vay bất
động sản thường lớn hơn nhiều so với quy mô trung bình của các món vay
thông thường đặc biệt là cho vay tiêu dùng và cho vay kinh doanh nhỏ. Thứ
hai, một khoản vay mua bất động sản thế chấp, chủ yếu là cho các ngôi nhà có
một gia đình ở thường có kỳ hạn dài nhất (khoảng từ 15 năm đến 30 năm)
trong danh mục cho vay của ngân hàng. Nhìn chung cho vay dài hạn loại này
chứa đựng những nguy cơ rủi ro tín dụng đáng kể bời vì nhiều vấn đề có thể
sảy ra bao gồm cả những thay đổi tiêu cực trong điều kiện kinh tế, trong lãi
suất, trong sức khỏe người đi vay - trong suốt kỳ hạn của món vay. Đối với
các hình thức cho vay khác, chính dòng tiền mặt dự tính hoặc thu nhập người
đi chi vay là yếu tố quan trọng nhất để ngân hàng quyết định cho vay hay
không cho vay. Trong cho vay thế chấp bất động sản, giá trị và tình trạng của
tài sản là trọng tâm của món vay, chúng có tầm quan trọng tương đương với
thu nhập của người đi vay. Trong cho vay bất động sản, sự đánh giá chính xác 16

tài sản là điều tối quan trọng đối với quyết định cho vay. Sự đánh giá giá này
phải tuân theo tiêu chuẩn của ngành và chính phủ, đặc biệt nếu vật thế chấp
được bán lại trên thị trường thứ cấp.
2.1. Nguyên nhân sâu xa theo phân tích của nhóm nghiên cứu.

Cung cấp tín
dụng cho vay
mua nhà thế
chấp
Thị trƣờng
bất động
sản
Dòng vốn
từ bên
ngoài
Lãi suất trong
nƣớc ở mức thấp
Sự kiện
dotcom &
11/9
II 17

Với dòng vốn từ Trung Quốc và một số quốc gia mới nổi đổ vào Mỹ
kết hợp với nỗ lực của Fed năm 2001 đã làm lãi suất thực trong nước Mỹ ở
mức được cho là thấp so với lịch sử.
Hình 4: Lãi suất tại Mỹ (Nguồn: Monetary Policy Report to the Congress Submitted pursuant to section 2B of the
Federal Reserve Act July 20, 2004)

Để đối phó với cú vỡ bong bóng chứng khoán công nghệ cao Internet

Hình 6: Tỷ lệ tiết kiệm tại Mỹ

(Nguồn: Monetary Policy Report to the Congress Submitted pursuant to section 2B of the
Federal Reserve Act July 20, 2004)

Đối mặt với hoàn cảnh này, các hãng cho vay đã trổ đủ tài để cho nhà
hợp với túi tiền hơn. Công cụ phổ biến nhất trong giai đoạn này là khoản vay
thế chấp mua nhà với lãi suất điều chỉnh _ARMs. Họ đưa ra “mồi nhử” bằng
cách ấn định lãi suất trong hai năm đầu thấp hơn cả lãi suất thị trường. Họ
nghĩ rằng, sau hai năm khi lãi suất cao có hiệu lực, thì tài sản thế chấp đó sẽ
được đem ra đảo nợ, lợi dụng giá tài sản cao hơn và sinh ra một loạt phí mới
cho người cho vay.
Những chuẩn mực tín dụng bị sụp đổ, và người ta làm sao cho ngay cả
những người có mức độ xếp hạng tín dụng kém cũng dễ dàng mua nhà ( gọi là
khoản vay dưới chuẩn). Phổ biến là loại “Alt – A” (cho người nói dối vay) với
ít hoặc hoàn toàn không có giấy tờ chứng minh thu nhập, trong số đó ở mức
cực đoan là khoản vay “Ninja” (con nợ không có nghề nghiệp, không thu
nhập, không tài sản), thường là có sự đồng lõa của cả người môi giới và người
cho vay tiền mua nhà. 20

Hình 7: Cho vay dƣới chuẩn và chất lƣợng các khoản tín dụng

(Nguồn: Finance and Economics Discussion Series: 2008-63 Screen Reader version,The
Past, Present, and Future of Subprime Mortgages)

Chất lượng thẩm định tín dụng tồi tệ đến mức kỷ lục năm 2006 có tới
hơn 88% các con nợ không đủ điều kiện hồ sơ tín dụng. Các khoản vay có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status