LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Chính sách quản lý hàng nhập khẩu
của Mỹ và một số điều cần lưu ý đối
với các doanh nghiệp Việt Nam khi
xuất khẩu hàng hoá vào thị trường này
1
LỜI MỞ ĐẦU
Mỹ- một đất nước với những tiềm năng to lớn về kinh tế, khoa học kỹ
thuật, công nghệ và quân sự, đã và đang là một cường quốc số một thế giới
chi phối đời sống kinh tế và chính trị quốc tế.
Đất nước này là một thị trường rộng lớn với dân số xấp xỉ 300 triệu người,
thu nhập bình quân đầu người gầ
n 40000 USD. Hàng năm Mỹ nhập khẩu một
lượng hàng hoá trị giá tới trên 1000 tỷ USD. Do đó, Mỹ được coi là một thị
trường quan trọng và lớn nhất thế giới mà nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam
động ngoại thương của đất nước trong bài khoá luận của mình. Với mong muốn
đó, và xuất phát từ yêu cầu thực tế tìm hiểu thị trường Mỹ, em đã chọn đề tài
“Chính sách quản lý hàng nhập khẩu của Mỹ và một số điều cầ
n lưu ý đối
với các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu hàng hoá vào thị trường
này” để thực hiện khoá luận của mình. Mục đích đặt ra là nêu lên được những
đặc điểm cơ bản nhất về thị trường Mỹ cũng như những đạo luật quan trọng
quản lý hàng nhập khẩu của Mỹ, từ đó rút ra những điều đáng lưu ý nhất mà
doanh nghiệp cần quan tâm khi xuất khẩu hàng vào Mỹ. Qua đấy, góp phần cho
sự thành công của các doanh nghiệp Việt Nam trong buôn bán với Mỹ.
Phương pháp sử dụng để thực hiện khoá luận là phương pháp duy vật
biện chứng, kết hợp với phương pháp phân tích, tổng hợp và thống kê.
Vì đây là một vấn đề rộng lớn và phức tạp nên trong phạm vi bài khoá
luận của mình, em chỉ xin chọn cách tiếp cận đề tài từ
một bình diện khái quát
nhất để tiến hành nghiên cứu.
Khoá luận được chia làm ba phần:
- Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về nền kinh tế Mỹ
- Chương 2: Chính sách quản lý hàng nhập khẩu của Mỹ trong giai đoạn
hiện nay
- Chương 3: Một số vấn đề cần lưu ý đối với các doanh nghiệp Việt Nam
khi xuất khẩu hàng hoá vào th
ị trường này
Mặc dù đã cố gắng, nhưng do thời gian và trình độ có hạn, khoá luận chắc
chắn còn nhiều thiếu sót. Em rất mong nhận được sự chỉ dẫn tận tình của thầy
cô và góp ý của bạn bè để có thể hoàn thiện đề tài.
Qua đây em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn Tiến sĩ Phạm
Duy Liên đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em hoàn thành bài luận văn này.
Hà Nội, 12-2003
Sinh viên th
Những số liệu trên cho thấy sức mạnh kinh tế của Mỹ đã giảm sút
tương
đối so với sự phát triển chung của toàn thế giới.
Tuy nhiên, dù có sự giảm sút, sức mạnh kinh tế của Mỹ vẫn đang đứng
đầu thế giới. Số liệu so sánh Mỹ với các nước phát triển khác của thế giới
(G7) sẽ cho thấy điều đó. Năm 1997 GDP của Mỹ đứng đầu thế giới với
8083,4 tỷ USD, trong khi đó Nhật Bản là 4192,3 tỷ USD bằng 52% so với
4
Mỹ, của Anh là 4801,3 tỷ USD bằng 59% và của Pháp là 1393,3 tỷ USD bằng
17%. Năm 1997, trong GDP thế giới Mỹ chiếm 20,4%, Nhật: 7,7%, Đức:
4,6%
1
. Với tỷ trọng tuyệt đối lớn hơn, Mỹ lại có tốc độ tăng trưởng kinh tế,
xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ và đầu tư đều cao và ổn định hơn so với các
nước được so sánh. Trong vòng 30 năm gần đây, trừ những năm bị khủng
hoảng kinh tế (1990-1991), Mỹ luôn có mức tăng trưởng trên 2%, nhìn chung
cao hơn mức trung bình của các nước G7 và cho tới gần
đây chưa hề có dấu
hiệu nào cho thấy sự giảm sút nghiêm trọng của nền kinh tế Mỹ. Đặc biệt,
trong 10 năm qua (1991-2001) kinh tế Mỹ đã liên tục tăng trưởng với tốc độ
trung bình 3,5% từ 1991 đến 1995 và 4,25% từ 1995 đến 2000. Năm 1999,
GDP tăng 4,2% và năm 2000 là 5%
2
. Sự tăng trưởng này là quá trình mở rộng
của nền kinh tế Mỹ kéo dài nhất trong lịch sử với gần 18 triệu việc làm mới,
lương tăng hơn 2 lần, tỷ lệ lạm phát thấp (khoảng 2%) và mức sở hữu nhà ở
của dân chúng cao nhất trong lịch sử, thất nghiệp thấp nhất kể từ 1957, thặng
dư ngân sách tăng cao và ở mức kỷ lục 237 tỷ USD. Ph
ần lớn các công ty
tháng) cho đến tháng 6 năm 2001. Sau khi đạt mức tăng trưởng 5,7% trong
quý I năm 2000, nền kinh tế bắt đầu chững lại, trong quý III và IV năm 2000
mức tăng trưởng là 1,3 và 1,9%. Trong quý I và quý II năm 2001 tốc độ tăng
trưởng chỉ đạt 1,3 % và 0,3%. Theo báo cáo của ban nghiên cứu kinh tế quốc
gia thì nền kinh tế Mỹ
đã thực sự bước vào trì trệ kể từ tháng 3 năm 2001.
Bảng 1: Các chỉ số tăng trưởng của kinh tế Mỹ năm 2000-2001 (%)
Q2/ 00 Q3/ 00 Q4/ 00 Q1/ 01 Q2/ 01 Q3/ 01
GDP 5,7 1,3 1,9 1,3 0,3 - 1,3
Chi tiêu cá nhân 3,6 4,3 3,1 3,0 2,5 1,0
Đầu tư 19,5 - 2,8 - 2,3 - 2,3 - 12,1 - 10,5
Xuất khẩu 13,5 10,6 - 4,0 - 1,2 - 11,9 - 18,8
Nhập khẩu 16,4 13,0 - 0,5 - 5,0 - 8,4 - 13,0
Chi tiêu chính phủ 4,4 - 1,8 3,3 5,3 5,0 0,3
Nguồn: BEA, Department of Commerce
Nguyên nhân chính của sự suy giảm này là sự cắt giảm đầu tư một cách
ồ ạt. Trong quý II năm 2000 tốc độ đầu tư còn ở mức 19,5% là nhân tố quan
trọng nhất đóng góp 57% cho tăng trưởng kinh tế thì trong năm 2001, mức
suy giảm đầu tư luôn trên 10%, trong quý III là -10,5%. Sản xuất đình trệ,
ngoại thương thu hẹp. Trong 10 tháng đầu năm 2001, xuất khẩu và nhập khẩu
của Mỹ giảm tươ
ng ứng 4,2% và 4,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ,
6
xuất-nhập khẩu hàng hoá giảm 4,8% và 4,3% so với 10 tháng đầu năm 2000,
xuất-nhập khẩu dịch vụ cũng giảm tương ứng 2,6% và 5,7%. Trước tình hình
đó Cục dự trữ Liên bang Mỹ FED đã áp dụng biện pháp cắt giảm lãi suất và
cắt giảm thuế với nỗ lực kiềm chế sự suy thoái của nền kinh tế. Song sự kiện
ngày 11/9 đã làm cho nền kinh tế Mỹ chao đảo và ả
nh hưởng không nhỏ tới
hướng này chưa có gì thay đổi trong những quý còn lại của năm 2003. Trong
khi đó, mức thâm hụt ngân sách tăng nhanh. Riêng trong 8 tháng đầu năm tài
chính (bắt đầu từ 1/10/2002), mức thâm hụt ngân sách đạt 292 tỷ USD và dự
tính cả năm 2003 ít nhất là 400 tỷ USD. Nợ trong nước đạt mức kỷ lục 3900
tỷ USD. Đáng chú ý là, mặc dù kế hoạch cắt giảm thuế cả gói c
ủa Tổng thống
Bush đã được thông qua nhưng tỷ lệ thất nghiệp không ngừng tăng, từ 5,7%
tháng 1 đến 6,4% tháng 6/2003, là mức cao nhất trong vòng 9 năm qua. Cũng
theo số liệu thống kê vừa công bố, kể từ năm 2000 đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào Mỹ giảm 90%
1
. Năm 2001, FDI vào Mỹ là 144 tỷ USD thì năm 2002 chỉ
còn 30 tỷ USD. Nguyên nhân của sự giảm sút đầu tư là do: thứ nhất, tốc độ
tăng trưởng kinh tế thế giới giảm sút trong ba năm qua đã làm cho FDI toàn
cầu giảm, với hệ quả là FDI vào Mỹ cũng giảm mạnh; thứ hai, triển vọng
không sáng sủa của kinh tế Mỹ, đe doạ khủng bố, thâm hụt ngân sách Mỹ đã
tác động không ít đế
n lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài; thứ ba là do giá
trị đồng Đô la cao trong 2 năm 2001, 2002 đã làm tăng giá cổ phần tại Mỹ.
Nền kinh tế khổng lồ của Mỹ chiếm khoảng 1/3 GDP toàn cầu và
khoảng 1/2 mức tăng trưởng nhập khẩu của thế giới, có giá trị FDI lớn nhất nhì
thế giới, đồng USD là đồng tiền mạnh được nhiều nước trên thế giới dùng làm
phươ
ng tiện tích trữ và là phương tiện thanh toán quốc tế, công nghệ Mỹ đứng
hàng đầu thế giới. Với sức mạnh đó, tầm ảnh hưởng của nền kinh tế Mỹ đối với
kinh tế thế giới là không nhỏ và một khi nó bị suy giảm thì không thể không tác
động đến sự phát triển kinh tế của nhiều nước và khu vực trên thế giới.
Như vậy, sự suy giảm kinh tế
Mỹ đương nhiên sẽ vừa trực tiếp vừa
gián tiếp tác động đến nền kinh tế Việt Nam, mà chủ yếu là ở hai lĩnh vực
tích hiện nay của Mỹ là 9.629.091 km
2
, rộng thứ tư trên thế giới (sau Liên
bang Nga, Canada và Trung Quốc). Trong 50 bang, bộ phận chính là 48 bang
liền dải nằm ở trung tâm lục địa Bắc Mỹ, có diện tích 7,8 triệu km
2
, phía Bắc
giáp Canada, phía Nam giáp Mexico, phía đông giáp Đại Tây Dương và phía
Tây giáp Thái Bình Dương. Bộ phận thứ hai là bang Alaska, nằm ở phía Tây
Bắc lục địa Bắc Mỹ, có diện tích 1,5 triệu km
2
. Bộ phận thứ ba là quần đảo
Hawaii, nằm trong Thái Bình Dương, có diện tích trên 16000 km
2
, là trạm
dừng chân từ Tây Bắc Mỹ sang các nước Đông Á. So với Việt Nam, Mỹ nằm
9
tận phía bên kia bán cầu, lệch từ 12 đến 15 múi giờ.
Là một đất nước – lục địa rộng lớn (bề ngang trên 4000 km, dài gần 2500
km), Mỹ có tất cả các loại địa hình khí hậu. Với địa hình khí hậu đa dạng như
vậy cho phép Mỹ phát triển các sản phẩm nông lâm ngư nghiệp phong phú
trên quy mô lớn.
Nước Mỹ cũng rất giàu tài nguyên thiên nhiên. Nhiều loại khoáng sản
có trữ lượng lớn. Mỹ
là một trong những nước đứng đầu thế giới về khai thác
khoáng sản, đặc biệt là dầu và than đá (800 triệu tấn/năm). Đây là những yếu
tố rất thuận lợi cho sự phát triển kinh tế Mỹ, nhất là trong những năm đầu của
giai đoạn công nghiệp hoá.
Trước 1865, Mỹ vẫn là quốc gia sản xuất và xuất khẩu nông sản là chủ
- Kim ngạch xuất khẩu : 794,11 tỷ USD
- Kim ngạch nhập khẩu : 1392,1 tỷ USD
- Thâm hụ
t thương mại: -418,04 tỷ USD
- Bạn hàng chính: Canada: 22,4%, Mexico: 13%, Nhật: 7,9%, Trung quốc,
- Mặt hàng xuất khẩu chủ lực: thiết bị đầu tư, ôtô, sản phẩm công nghiệp
- Mặt hàng nhập khẩu chính: dầu thô, ôtô, hàng tiêu dùng
- Các ngành công nghiệp quan trọng nhất : dầu, thép, ô tô, máy bay, thông
tin, hoá chất
- Các sản phẩm nông nghiệp: lúa mì, ngô, đậu nành, rau, bông, thịt bò, thịt lợn
- Các sản phẩm chế tạo: hoá chất, thiết bị
vận tải, thực phẩm, máy móc
công nghiệp, thiết bị điện, vật liệu in ấn
- Lực lượng lao động :141,8 triệu chiếm 66,5% dân số
- Tổng giá trị đầu tư nước ngoài: năm 2000: 314 tỷ USD; 2001: 144 tỷ
USD; 2002: 30 tỷ USD
Nguồn: Vụ Châu Mỹ, Bộ Ngoại giao
* Kinh tế Mỹ là một nền kinh tế tư nhân:
Kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng áp đảo so với kinh tế chính phủ trong cơ
cấu GDP của Mỹ. Hiện nay tỷ trọng này là khoảng 90% so với khu vực kinh
tế chính phủ là khoảng 10%. Tỷ trọng này tăng đều qua các năm, năm 1998 so
với năm 1993 tăng 2%. Sự áp đảo của khu vực kinh tế tư
nhân được coi là
nhân tố chính tạo nên tính năng động, dễ thích nghi với các biến động, luôn
11
sáng tạo đổi mới. Chính phủ Mỹ quản lý nền kinh tế tư nhân bằng thuế và các
quy định pháp luật chặt chẽ như: luật chống độc quyền, bảo vệ người tiêu
dùng, bảo vệ môi trường… trên quan điểm “ càng ít can thiệp càng tốt”, tạo
điều kiện để kinh tế tư nhân phát triển và chỉ điều tiết khi cần hạn chế những
12
ngành này trong GDP Mỹ vô cùng nhỏ bé. Giá trị sản lượng 3 ngành nông
lâm ngư nghiệp chỉ chiếm khoảng 1-2% GDP. Điều này nói lên quy mô to lớn
của nền kinh tế Mỹ cũng như cho thấy tính hiệu quả thấp về mặt giá trị gia
tăng mà các ngành trên tạo ra so với lĩnh vực sản xuất chế tạo và dịch vụ.
Từng một thời gian dài chiếm vị trí chủ đạo về giá trị cũng nh
ư vai trò
trong nền kinh tế Mỹ, song từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, trước
sự phát triển nhanh chóng của ngành dịch vụ, tỷ trọng của ngành sản xuất chế
tạo cũng ngày càng giảm. Mỹ chủ yếu chế tạo máy móc công nghiệp, phương
tiện vận tải, hay nói chung là các hàng lâu bền. Giá trị sản lượng của các mặt
hàng không lâu bền như thực phẩm, may mặc… chiếm tỷ tr
ọng nhỏ hơn và
giảm nhiều qua các năm.
* Nền kinh tế hiện đại, năng suất cao:
Trong khoảng 100 năm qua, Mỹ luôn đi đầu thế giới trong việc nghiên cứu
và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao năng suất
lao động. Tiến bộ khoa học thực sự là nhân tố chính thúc đẩy nền kinh tế Mỹ
tăng trưởng mạnh mẽ
ở mức cao. Trước đây, ngành công nghiệp xây dựng và
sản xuất ô tô là trụ cột thúc đẩy nền kinh tế Mỹ phát triển. Hiện nay, công
nghệ thông tin đóng góp khoảng 25%-30% trong tăng trưởng kinh tế. Bên
cạnh đó công nghệ thông tin còn ảnh hưởng đến tất cả các ngành nghề khác.
Công nghệ thông tin có thể nâng cao năng suất lao động của ngành nghề chế
tạo, giảm chi phí, giảm lượng hàng hoá tồn đọng, thúc đẩy thương mạ
i điện tử
phát triển. Động lực của nền kinh tế mới của Mỹ không chỉ là nguồn vật chất
khổng lồ mà chủ yếu là do những tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra. Năm
1996, đầu tư của Mỹ cho thiết bị xử lý thông tin và các thiết bị liên quan như
máy tính điện tử lên tới 206 tỷ USD, gấp 1,6 lần so với đầu tư cho các thiết b
ẩu các mặt hàng chế tạo và hàng công nghệ
cao chiếm tỷ trọng từ 80 đến 90% tổng giá trị xuất khẩu. Ví dụ như năm 1999
xuất khẩu mặt hàng chế tạo và công nghệ cao đạt tới trên 800 tỷ USD.
* Một số đặc điểm khác:
Mỹ là quốc gia mà thu nhập bình quân đầu người cao nhất thế giới,
song chênh lệch thu nhập của người dân cũng rất lớn. Theo thống kê 20% dân
số
giàu nhất nước Mỹ chiếm hơn 1/2 thu nhập sau thuế của cả nước, và một
nửa số thu nhập đó lại thuộc về 1% số người giàu nhất. Mức chênh lệch giữa
14
20% dân số giàu nhất và 20% nghèo nhất của Mỹ là 9 lần, so với Đức là 6 lần
và Nhật là 4 lần. Tỷ lệ người nghèo trong những thập niên gần đây đã giảm
đáng kể nhờ tăng trưởng kinh tế và những nỗ lực giảm nghèo của Chính phủ.
Tuy nhiên, tỷ lệ người sống dưới mức nghèo khổ ở Mỹ vẫn còn tới khoảng
10%. Phần lớn số ngườ
i nghèo thuộc thành phần những người mới nhập cư,
các dân tộc thiểu số. Sự chênh lệch mức thu nhập và sự đa dạng về văn hoá đã
dẫn đến một thị trường tiêu dùng Mỹ hết sức phong phú và đa dạng về nhu
cầu, thị hiếu.
Tóm lại, nền kinh tế Mỹ là một nền kinh tế lớn, tự do, hiện đại. Để đáp
ứng nhu c
ầu của một nền kinh tế như thế, Mỹ đã và sẽ tiếp tục phải nhập khẩu
một số lượng lớn nguyên liệu từ nước ngoài để phục vụ cho guồng máy sản
xuất khổng lồ của nó, cũng như nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng để phục vụ
các tầng lớp dân cư có nhu cầu đa dạng, song sản xuất trong nước do chuyên
môn hoá tậ
p trung vào các ngành mới hiện đại, thu lợi nhuận cao mà đã
không chú trọng tới.
2. Hệ thống chính trị pháp luật
Chức năng chủ yếu của Quốc hội Mỹ là lập pháp, giám sát việc thi
hành pháp luậ
t của các cơ quan chính quyền, biểu quyết các dự luật và thông
qua ngân sách, quyết định tham gia vào các vòng đàm phán mới, phê chuẩn
các thoả thuận sau các vòng đàm phán mới.
Tất cả các dự án luật đã được Hạ nghị viện và Thượng nghị viện thông
qua, trước khi ban hành thành một đạo luật sẽ được đệ trình lên Tổng thống
Mỹ.
Cơ quan hành pháp:
Điều II khoản 1 Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ quy
định: “Quyền
hành pháp thuộc về Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ”. Tổng thống do
dân bầu ra theo cách bầu cử gián tiếp với chế độ cử tri đoàn, nhiệm kỳ 4 năm.
Một người không được làm tổng thống tối đa hai nhiệm kỳ. Tổng thống Mỹ là
người có quyền lực rất lớn, kiêm nhiệm cả hai vai trò: Nguyên thủ Quốc gia
và là người đứng đầu Chính ph
ủ. Cùng với Tổng thống và Phó tổng thống, bộ
máy hành pháp Mỹ có 15 bộ và 60 uỷ ban độc lập. Tổng thống là người ký
ban bố các sắc luật và Hiến pháp cho phép tổng thống quyền phủ quyết dự
16
luật được Quốc hội thông qua.
Cơ quan tư pháp:
Điều III khoản 1 Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ quy định:
“Quyền tư pháp của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thuộc về Toà án Tối cao và các
Toà án cấp dưới”. Tối cao pháp viện là cơ quan đứng đầu một hệ thống toà án
trên khắp liên bang, gồm Toà án Liên bang, toà án của từng tiểu bang và toà
án quận, huyện. Chánh án và các thẩm phán Toà án Tối cao do Tổng thống bổ
nhiệm và được thượng viện thông qua với nhiệm kỳ suốt đời. Những người
Common Law chủ yếu bao gồm các nguyên tắ
c pháp lý hàm chứa trong các
phán quyết của toà án. Common Law có ưu điểm là giúp cho các vị thẩm
phán giải thích và áp dụng pháp luật một cách khách quan, trên cơ sở các
phán quyết của các vị thẩm phán trong các vụ án tương tự trước đó. Điều này
làm cho phán quyết của các vị thẩm phán có tính công bằng thuyết phục hơn.
Thứ hai là hệ thống pháp luật Mỹ được chia làm hai ngành là công
pháp và tư pháp. Luật công được hệ thống hoá và ban hành dưới dạng văn b
ản
gồm có: luật hiến pháp, luật nhà nước, luật hình sự và những văn bản quy
định về chính sách đối ngoại, chính sách xuất nhập khẩu. Còn tư pháp tồn tại
dưới hình thức án lệ. Luật tư bao gồm luật dân sự, luật thương mại…
Thứ ba, Mỹ sử dụng pháp luật như là công cụ sắc bén nhất để bảo vệ,
duy trì và củng cố chế độ chính trị
cũng như vị thế của Mỹ trên thế giới. Vì
vậy pháp luật Mỹ thể hiện rất rõ nét yếu tố chính trị trong nội dung cũng như
trong tên gọi của văn bản luật.
3. Xã hội Mỹ
Đúng như cái tên “Hợp chủng quốc Hoa Kỳ”, xã hội Mỹ hết sức đa
dạng về thành phần chủng tộc, ngôn ngữ , tôn giáo cũng như lối s
ống.
Những người sống trên đất Mỹ hiện có nguồn gốc từ khắp nơi trên thế
giới. Đông nhất là người da trắng từ Châu Âu, chiếm 83,5% dân số Mỹ. Thứ
hai là người da đen từ Châu Phi chiếm 12,4 % dân số. Người Châu Á ở Mỹ
cũng khá đông và có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây theo làn
sóng nhập cư. Thống kê hiện nay cho thấy người gốc Châu Á chiếm khoảng
3,3% dân số Mỹ. Trong số đó nhiều nhất là người Trung Quốc, số lượng
18
người Việt Nam ở Mỹ là khoảng trên 1,5 triệu người ( Đây là một nhân tố
sống bằng của cải thừa kế. Đóng góp tiền cho những mục
đích từ thiện, có nhiều nhà gửi con ở các trường tư thục,
không quen phô trương sự giàu sang của mình, là nhóm
chuẩn cho các giai tầng khác.
Thị trường những đồ trang sức đắt tiền, đồ cổ, nhà cửa, d
ịch
vụ nghỉ ngơi và du lịch
19
Giai tầng
thượng lưu
lớp dưới
( khoảng 2%)
Những người làm nghề tự do hay các doanh nhân có thu
nhập cao nhờ tài năng đặc biệt của mình. Tích cực tham gia
công tác xã hội và nghĩa vụ công dân; khao khát được thừa
nhận địa vị xã hội của mình, và chi tiêu có tính chất phô
trương. Cố gắng tìm cách gia nhập vào giai tầng thượng lưu
lớp trên
Thị trường những ngôi nhà đắt tiền, thuyền buồm, xe hơi
Giai tầng
trung lưu
lớp trên
( 12%)
Những người đạt được công danh trong các nghề tự do, các
nhà quản trị, các doanh nhân. Thể hiện sự quan tâm đến vấn
đề học vấn, đời sống tinh thần, văn hoá và nghĩa vụ công
dân.
Thị trường nhà ở đẹp , đồ đạc quần áo và đồ dùng gia dụng
tốt
các gia đình lớn nhiều thế hệ, các gia đình hạt nhân 2 thế hệ chỉ chiếm khoảng
1/4 số gia đình, số còn lại là các gia đình không có con cái hoặc có con nhưng
chỉ có bố hoặc mẹ. Theo thống kê có đến 30% trẻ em Mỹ hiện nay được sinh
ra trong các gia đình chỉ có bố hoặc mẹ. Nói tóm lại, quy mô gia đình nhỏ
hơn, vai trò của vợ chồng trong gia đ
ình thay đổi là những xu hướng chung
của gia đình Mỹ hiện nay.
4. Lối sống Mỹ
Hiểu được các đặc trưng trong thế giới quan của đa số người Mỹ, họ thích
hay ghét gì, họ coi trọng cái gì trong cuộc sống, đối với các nhà kinh doanh là
một điều có ích. Vì suy cho cùng, các quyết định tiêu dùng cũng một phần
quan trọng là sự phản ánh của thế giới quan (phần kia là yếu tố tài chính, kinh
tế
, trình độ học vấn,…). Người sản xuất hiểu được thế giới quan đó sẽ biết
chọn bán các sản phẩm và có cách tiếp thị phù hợp. Hơn nữa, khi phải đàm
phán với các đối tác Mỹ, hiểu được người Mỹ cần gì, thích gì sẽ giúp tránh
được nhiều điều hiểu lầm đáng tiếc.
Theo nhận xét của những người nước ngoài thì người Mỹ là những
ng
ười “chịu chơi” và mua sắm không tiếc tiền, thậm chí nhiều khi vượt cả thu
nhập thực tế. Nhưng có hai thứ mà người Mỹ tiết kiệm, đó là lao động và thời
gian. Để hiểu được điều này, chúng ta phải quay trở lại lịch sử hình thành
nước Mỹ cách đây 500 năm. Nước Mỹ ngày nay được hình thành từ những
người di cư từ Châu Âu sang. Họ thuộc đủ loại thành phầ
n, người sang Châu
Mỹ để tìm vàng, người đi chốn tránh pháp luật, người đi tìm tự do tôn giáo
hoặc người đi để tìm kiếm vận may mà họ không được hưởng từ quê nhà. Đa
phần họ đều nghèo, trong tay không có mấy tài sản nhưng đều có niềm tin
chung : nước Mỹ rộng lớn nhiều tài nguyên, nếu họ biết cần cù lao động thì
tất được đổi đời. Chính vì niềm tin ấy mà họ dám bỏ xứ
vấn đề, tránh vòng vo tam quốc. Do quý thời gian nên người Mỹ
rất coi trọng
sự đúng giờ trong các cuộc hẹn. Đến hẹn muộn dù chỉ 5 phút mà không có lý
do chính đáng hay không báo trước có thể làm cho người Mỹ rất bực tức, gây
ảnh hưởng xấu đến mối quan hệ.
Người Mỹ nhìn chung rất có ý thức tôn trọng pháp luật. Vai trò của
22
pháp luật được đề cao trong kinh doanh cũng như trong cuộc sống hàng ngày
của người Mỹ. Mọi quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với chính
quyền, công ty này với công ty khác nếu có trục trặc đều có thể được đưa ra
xem xét phán xử tại toà án. Vì vậy ở Mỹ có rất nhiều toà án và luật sư. Nếu ở
Tây Âu, nhu cầu bảo hiểm là thiết yếu đối với dân chúng thì ở Mỹ, ngoài việc
mua bảo hiể
m còn có việc thuê luật sư vì trong tâm lý, người ta luôn bị ám
ảnh có thể bị kiện bất cứ lúc nào và nếu không có người biện hộ tin cậy thì có
thể bị thua thiệt bất ngờ vì những lý do không lường trước được.
Về mặt tính cách, người Mỹ được đánh giá là cởi mở, thẳng thắn, dễ
hiểu và bộc trực. Phần đông những người Mỹ tỏ ra thân thiện ngày từ lần gặ
p
gỡ đầu tiên. Người Mỹ đề cao giá trị giao tiếp xã hội vì theo họ, chưa nói đến
lợi ích của việc mở mang kiến thức hay tạo các mối quan hệ cho công ăn việc
làm, một cuộc giao tiếp thân mật và vui vẻ cũng sẽ giúp tạo cảm giác thư thái
tâm hồn, giảm bớt những căng thẳng mệt nhọc của công việc.
Khác với người Nhật hay người Phương Đ
ông nói chung, người Mỹ
không ngại thẳng thắn nói “ không” trước những đề nghị mà họ thấy không
thích hoặc không thực hiện được. Đối với họ, có là có và không là không. Và
khi họ đã nhận lời làm một công việc gì thì họ thường cố gắng làm đến nơi
đến chốn, tức là họ biết giữ lời hứa. Người Mỹ cũng không dễ bị tự ái trước
6. Chính sách kinh tế
Những năm 1990, chiến tranh lạnh kết thúc đã m
ở ra một môi trường
mới cho sự phát triển kinh tế thế giới. Kinh tế trở thành trọng điểm trong các
quan hệ quốc tế. Nguy cơ của cuộc chiến tranh hạt nhân bị đẩy lùi, song cuộc
chạy đua về kinh tế trở thành những thách thức lớn nhất đối với an ninh mỗi
quốc gia. Điều đó đòi hỏi mỗi quốc gia kể cả Mỹ nế
u không muốn tự loại
mình khỏi vòng đua thì phải tập trung ưu tiên phát triển kinh tế. Nhận thức
sâu sắc điều đó, Chính phủ Mỹ đã đặt mục tiêu phát triển kinh tế làm ưu tiên
hàng đầu trong các chính sách của mình và xem “ sức mạnh kinh tế” là cơ sở
cho “an ninh quốc gia” của mình. Các nhà hoạch định chiến lược của Mỹ xác
định rằng: “ mục tiêu trung tâm của chiến lược an nình quốc gia của chúng ta
là thúc đẩ
y phồn vinh cho người dân Mỹ nhờ nỗ lực cả trong nước và ngoài
nước. Các lợi ích kinh tế và an ninh của chúng ta không thể tách rời. Phồn
24
vinh trong nước còn phụ thuộc vào việc chúng ta tích cực tham gia ở ngoài
nước. Sức mạnh của ngoại giao, khả năng duy trì một quân đội hơn hẳn, sức
hấp dẫn của các giá trị của chúng ta ở nước ngoài, tất cả những điều này phần
nào phụ thuộc vào sức mạnh kinh tế của chúng ta”. Với những quan điểm rất
rõ ràng trên, chính sách kinh tế của Mỹ đã được
điều chỉnh theo định hướng
sau: Tập trung phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp có hàm lượng cao
khoa học công nghệ hơn hẳn các nước phát triển khác; Tập trung phát triển
các công ty lớn, tiến hành sản xuất vừa tập trung vừa phân tán khắp nơi trên
thế giới thông qua hệ thống các công ty xuyên quốc gia của mình; Tạo môi
trường kinh doanh cho hoạt động kinh tế thông qua việc: mở cửa các thị
trường có tính bảo hộ cao trên thế giớ