Đề tài: TỔNG HỢP POLYANILINE THEO PHƯƠNG PHÁP TRÙNG HỢP NHŨ TƯƠNG ĐẢO - Pdf 11

LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay cùng với sự phát triển của mình con người ngày càng sử dụng nhiều tài
nguyên. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên này đang trở nên khan hiếm. Trước thực trạng đó
sự xuất hiện của polyme dẫn và vật liệu hữu cơ chính là chìa khóa cho sự phát triển ổn
định trong tương lai. Bắt đầu xuất hiện vào cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước, polyme dẫn
là đối tượng nghiên cứu của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển
có nền công nghệ tiên tiến. Do tính chất ưu việt của nó về mặt vật lí, hóa học, quang học
và đặc biệt thân thiện với môi trường. Ngày nay loại vật liệu này ngày càng được sử rộng
rãi trong các lĩnh vực của cuộc sống như: trong công nghệ điện tử có rất nhiều sản phẩm
được chế tạo trên cơ sở polymer dẫn như transitor, màn hình hiển thị hữu cơ (OLED-
organic light emitting diode); trong công nghệ cảm biến sinh học, hóa học như cảm biến
glucose trong máu trên cơ sở polypyrrole, cảm biến NH
3
trên cơ sở polyaniline; trong
lĩnh vực dự trữ năng lượng bao gồm nguồn điện, siêu tụ điện hóa và trong lĩnh vực ăn
mòn bảo vệ kim loại,
Vật liệu polyme dẫn điện là một trong những loại vật liệu polyme chức năng đang
thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước do chúng
có tiềm năng ứng dụng to lớn trong một số nghành công nghệ cao như chế tạo các linh
kiện quang điện tử. Polyaniline (PANi) được đánh giá là loại vật liệu polyme dẫn điện đã
được chế tạo và ứng dụng rộng rãi do PANi có giá thành chế tạo thấp, bền với môi
trường, có khả năng chịu nhiệt độ cao và có độ dẫn điện khá tốt. Tùy theo chất doping, độ
dẫn điện của PANi có thể đạt tới 100 S/cm.
Trong bài báo cáo này nhóm tiến hành tổng hợp Polyaniline từ bài báo “TỔNG
HỢP POLYANILINE THEO PHƯƠNG PHÁP TRÙNG HỢP NHŨ TƯƠNG ĐẢO“
của Phan Thế Anh, Nguyễn Đình Lâm Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng trên
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 3(44).2011.
CHƯƠNG I – TỔNG QUANG
1.1 Giới thiệu về polyme và polyme dẫn
Polyme
Polyme là những mạch phân tử gồm hàng nghìn, chục nghìn phân tử đơn vị

có được là do trong chuỗi polyme có hệ liên kết π liên hợp nằm dọc theo toàn bộ chuỗi
polyme do đó nó tạo ra đám mây điện tử π linh động nên điện tử có thể chuyển động từ
đầu chuỗi đến cuối chuỗi polyme dễ dàng. Tuy nhiên, việc chuyển dịch điện tử từ chuỗi
polyme này sang chuỗi khác gặp phải khó khăn. Các nguyên tử ở hai chuỗi phải xen phủ
với nhau thì việc chuyển điện tử từ chuỗi này sang chuỗi khác mới có thể được thực hiện.
Do vậy, các polyme đơn thuần hoặc các copolymer có độ dẫn điện không lớn và để tạo ra
vật liệu có độ dẫn điện cao (high conductive polymer) từ các polyme người ta thêm các
tạp (dopant) vào màng để tạo ra vật liệu có độ dẫn điện cao hơn.
Các phụ gia pha tạp cũng rất đa dạng và phong phú đồng thời tuỳ thuộc vào từng
loại màng mà ta cần cho quá trình pha tạp.
Chẳng hạn với màng polyacetylen ta có thể dùng các muối halogen của kim loại
chuyển tiếp. Ví dụ: TiCl
4
, ZnCl
4
, HgCl
4
, NbCl
5
, TaCl
5
, TaBr
5
, MoCl
5
, WCl
3
và các muối
halogen của các kim loại không chuyển tiếp: TeCl
4

-2
,
PF
-6
, CF
3
SO
4
3-
, AsF
6
3-
, CH
3
C
6
H
4
SO
3
-
và màng polypyrrole thu được trong các muối trên sẽ
cho độ dẫn điện lớn nhất do sự cộng kết của các anion của các muối này lên trên màng
Polypyrrole.
Tuy nhiên, một phương pháp để làm tăng độ dẫn điện của các polyme dẫn điện
mà hiện nay đang được nghiên cứu, ứng dụng và được xem xét kỹ trong nghiên cứu này
đó là phương pháp cài các phân tử có kích thước nanomet của kim loại hay oxít của kim
loại vào màng polyme dẫn để tạo ra vật liệu mới có độ dẫn điện vượt trội.
Các hạt nano được cài vào trong màng polyme thường là kim loại chuyển tiếp
hoặc oxít của kim loại chuyển tiếp, khi đó nó có chức năng như những cầu nối để dẫn

1975 một phát hiện có tầm mức thời đại xảy ra một cách âm thầm tại trường đại học
Đông Kinh công nghiệp Nhật Bản. Tiến sĩ Shirakawa Hideki giảng viên của trường, là
một chuyên gia về tổng hợp polyacetylen (PA) theo phương pháp thổi khí qua một chất
xúc tác. Acetilen là một chất khí để hàn gió đá. Phương pháp dùng thể khí để tổng hợp ra
một thể rắn, hình thành PE và polypropylen nên chúng được tổng hợp bằng cách thổi khí
C
2
H
4
hoặc C
3
H
6
vào chất xúc tác Ziegel – natta được dùng bao nhựa, ống nhựa. Một sự
kiện tình cờ gây ra bởi một sinh viên Hàn Quốc trong quá trình tổng hợp PA quên lời dặn
của ông dùng chất xúc tác tăng 1000 lần so với quay định nên PA không phải dạng bình
thường mà là dạng phim màu bạc (khác màu đen bình thường) có thể kéo dãn và mang
tính đàn hồi. Tuy nhiên PA dạng phim đã tạo ra một bước đột phá rất ngoạn mục. Sự kiện
này có lúc bị bỏ quên cho đến năm 1976 giáo sư Alan macdiarmid (đại học Pennyloania)
thăm phòng thí nghiệm Shirakawa, ông ngắm nghía tấm phim lạ lùng này và sau đó mời
Shirakawa sang Pensylvania cộng tác một năm. Trong khoảng thời gian này, sản phẩm lạ
lung gây ra bởi sự vô ý được đem ra khảo nghiệm trở lại. Cùng với sự cộng sự của giáo
sư Vật lí Huger, phim PA được tiếp xúc với khí Iodien được hấp thụ vào PA dưới dạng
ion làm tăng tính dẫn điện PA lên 1 tỉ lần, quá trình tiếp xúc với iodine gọi là doping và
iodine là dopant của PA nên sau bước nhảy 1 tỷ lần PA từ trạng thái vật cách điện trở
thành vật dẫn điện. Polimer dẫn điện ra đời.
Ưu điểm: Xoá mờ ranh giới phân biệt chất dẫn điện kim loại , bán dẫn (silocon),
và cách điện (polime thông thường) vì từ nống độ iodien, người ta điều chỉnh độ dẫn điện
từ chất cách điện đến dẫn điện một cách dễ dàng. Vậy những nguyên nhân gây ra sự dẫn
điện là do đâu ? Có phải do các hạt mang điện giống như kim loại không? Câu trả lời là

σ = nµe
n: nồng độ của hạt tải điện
µ: độ di động
e: điện lượng của điện tử 1,602.10
-19
C
Năm 1987, tiến sĩ Naaroman (công ty BABF) kéo phim PA dài gần 7 lần mẫu
phim cũ làm tăng độ dẫn điện lên 1,7 .10
5
(s/cm độ dẫn điện của đồng là 10
6
s/cm).
Ứng dụng: Dùng làm trong tụ điện. Kể từ năm 1991 công ty Nhật Bản như NFC,
Masusita Eledtric Industriy Nippoou Denki đã sản xuất một loại tụ điện dùng cho máy vi
tính như laptop, notebook, điện thoại di động, máy ảnh kỹ thuật số.
Pin nạp điện: Có thể dùng nhiều lần bằng cách nạp điện. Năm 1987 cộng tác 2
công ty Nhật Bản,beidesgetone và Sợko đã sản xuất và bán ra thị trưưòng pin nạp điện
nhỏ bằng đồng xu, dùng cực họp kim lithium/nhôm và Pan, có cấu tạo là Li-Al (cực
âm)/LiBF4 – PC- chất điện giải với điện áp khả năng nạp điện 1000 lần.
Dùng chống ăn mòn điện hoá.
Chế tạo dụng cụ cảm ứng.
+ Mái nhà sẽ được phủ polime dẫ điện để chuyển hoá năng lượng
mặt trời thành điện.
+ Tường nhà sẽ được phủ một lớp polime dẫn điện làm ấm nhà bằng bơm
nhiệt điện.
+ Sợi hoặc vani chống tĩnh điện tránh bụi bám.
+ Cửa sổ thông minh.
+ Màn hình Tivi vừa to, nhẹ, mỏng có thể dán tường.
+ Ăngten nhận tín hiệu từ vệ tinh.
+ Tơ sợi phát nhiệt (mền, chăn trải giường).

khi đặt các tâm hoạt tính với một nguyên tử trong chuỗi polyme và nó trở thành cầu nối
của điện tử do sự xen phủ của các obital.
1.3 Quá trình Doping
Khái niệm: Quá trìng doping là quá trình đưa thêm một số tạp chất hay tạo ra một
số sai hỏng làm thay đổi đặc tính dẫn điện của các polyme và tạo ra bán dẫn loại N hoặc
P tuỳ thuộc vào loại phụ gia ta đưa vào.
Tùy vào loại điện tích dopant mà phân ra hai loại:
- Anion đi vào Polyme: pha tạp loại P.
Ví dụ:

- Cation đi vào Polyme: pha tạp loại N.
Ví dụ:

Ví dụ: Emeraldine base
+
Doping với Bonsted axit
Vậy quá trình doping ở đây có tác dụng bù điện tích cho chuỗi polyme và duy trì
polyme ở trạng thái cân bằng và ở trạng thái oxy hoá cân bằng này nó dẫn điện tốt.
Doping với Lewis axit
Độ dẫn trung bình của PANi hydrochlories và PANi base ở 20
o
C
Ta thấy rằng ở trạng thái dẫn điện và trạng thái cân bằng (thường không dẫn điện)
có cấu trúc khác nhau:
Xét màng polyaniline:
Người ta cho rằng ở trạng thái năng lượng cao xảy ra đồng thời sự chuyển điện tử
và thay đổi cấu trúc từ dạng aromatic sang dạng quinoid và khi dạng bipolaron tăng mạnh
thì các polyme có thể dẫn điện như các kim loại. Trong đó với aniline sự thay đổi cấu trúc
xảy ra như sau.
1.4 Polyaniline

δ/cm. Khi xử lý trong dung dịch HCl
ta thu được dạng muối tương ứng hydrocloric emeraldine là một loại doping của polyme,
polyme không thay đổi trong suốt quá trình proton hoá, dạng emeraldine hydrocloric
được coi là có dạng chuyển vị và có dạng dẫn polaron, mà chủ yếu là dạng tích điện
dương ở nguyên tử N.
1.4.2 Cấu trúc của Polyaniline
Hiện nay, các nhà khoa học chấp nhận cấu trúc PANi và được môt tả như sau:
Cấu trúc của Polyaniline
(Trong đó y thuộc N và 0 ≤ y ≤ 1)
y = 0: Pernigraniline Base (PAB)
y = 0.5: Emeraldine Base (EB)
y = 1: Lecoemeraldine Base (LEB)
Trong nhóm polymer dẫn, PANi là polymer duy nhất có hai dạng kích hoạt biến đổi
thuận nghịch nhưng chỉ hình thành một dạng dẫn: Emeraldine salt (ES). Oxy hóa hóa học
hay điện hóa dạng khử hoàn toàn LEB đều dẫn đến hình thành dạng dẫn ES, trong khi
dạng proton hóa hoàn toàn của EB bằng axit cũng dẫn đến hình thành dạng dẫn. Sự liên
hệ giữa các dạn oxy hóa – khử khác nhau của aniline được trình bày như sau:
Sự
Sự chuyển hóa qua lại theo pH các dạng oxy hóa khử của PANi
PANi là polymer dẫn tồn tại ba dạng oxy hóa ổn định. Những dạng oxy hóa này nói
chung cũng bị ảnh hưởng bởi pH của môi trường. Năm dạng tồn tại chuyển hóa lẫn nhau
thông qua vòng oxy hóa thay đổi theo pH. Sự thay đổi của các dạng polymer này được
nhận dạng bằng sự thay đổi màu sắc. Với Lecoemeraldine Base (LEB) có màu vàng,
Emeraldine salt (ES) có màu xanh lá cây, Emeraldine Base (EB) màu xanh da trời đậm,
Pernigraniline Base (PAB) có màu tím và Pernigraniline Salt (PAS) có màu xanh da trời.
Khác với các loại polyme dẫn khác, PANi có 3 trạng thái oxi hoá:
- Trạng thái khử cao nhất (x = n = 1, m = 0) là leucoemeraldine (LE) - màu
trắng.
- Trạng thái oxi hoá một nửa (x = m = n =0.5) là emeraldine (EM)- màu xanh
lá cây. Là hình thức chủ yếu của polyanilin, ở 1 trong 2 dạng trung tính hay

tan được trong dung môi hữu cơ và môi trường nước. Những nhóm thế gắn lên polymer
được hình thành bằng hai cách: nhóm thế có sẳn trong monome hoặc gắn sau khi tạo
thành mạch polymer.
Cấu trúc một số nhóm thế vòng của PANi
Cấu trúc một số nhóm thế N của PANi
1.4.3 Tính chất của Polyaniline
1.4.3.1 Tính chất hóa học
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng tính chất hóa học mạnh nhất của polyaniline là
thuộc tính trao đổi anion và là tính khác biệt với những polyme trao đổi ion thông
thường. Lý do có thể do sự phân tán điện tích trên polyaniline. Ảnh hưởng của cấu hình
điện tích cũng đã được chỉ ra trong các nghiên cứu khi xảy ra tương tác axit amin lên
polyaniline. Ví dụ cho thấy trong hai axit amin với mật độ điện tích tương tự, nhưng các
cấu hình phân tử khác nhau, khả năng tương tác với polyaniline khác nhau rõ ràng. Các
nghiên cứu đến sắc ký đã cho thấy rằng polyaniline có khả năng hút nước lớn hơn so với
polypyrol dẫn tới tăng mật độ điện tích.
Sự kết hợp của các xúc tác sinh học vào polyaniline là không dễ dàng đạt được vì
polyme hoạt động điện hóa thường phải được tiến hành tại pH thấp. Tuy nhiên, lớp màng
mỏng chứa enzym đã được tổng hợp từ các dung dịch đệm (pH = 7). Tatsuma và đồng
nghiệp đã cố định peroxidase (enzym trong củ cải) lên màng hợp thành của một
polyaniline sulfonat và poly(L-lysine) hoặc polyetylenimin.
Trong các công trình khác , xúc tác enzyme-polyme đã được sử dụng để sản xuất
PANi với DNA là tạp chất. Một số tạp chất cũng đã được hợp nhất polyaniline vào để
tăng cường tính chất xúc tác điện hóa của các polyme. Ví dụ, Ogura và các đồng nghiệp
thêm trioxit vonfram vào điện cực polyanilin-polyvinylsunphat và được sử dụng nó để
thuận lợi cho khử CO2 thành axit lactic, axit formic, etanol và metano.
1.4.3.2 Tính chất quang học
Polyaniline có đặc tính điện sắc vì màu của nó thay đổi do phản ứng oxy hoá khử
của màng. Người ta đã chứng minh rằng PANi thể hiện nhiều màu từ vàng nhạt đến xanh
lá cây, xanh sẫm và tím đen tùy vào phản ứng oxy hoá khử ở các thế khác nhau.
1.4.3.3 Tính chất cơ

dẫn của polyme sản phẩm giảm nhanh. Điều này được giải thích bởi độ dẫn của
polyaniline phụ thuộc vào độ hoàn thiện của cấu trúc mạng tinh thể. Mạng tinh thể càng
hoàn thiện thì độ dẫn càng nâng cao, khi hàm lượng chất doping tăng làm tăng số khuyết
tật của mạng tinh thể polyaniline, những khuyết tật này đóng vai trò như những chiếc bẫy
dập tắt sự truyền điện tử (polarol) trong tinh thể, từ đó làm giảm độ dẫn.
1.4.3.5 Tính chất điện hóa và cơ chế dẫn điện
Đường CV của PANi trong dung dịch HCl 1M và sự thay đổi màu của PANi ở các giai đoạn
oxy hoá khác nhau ở tốc độ quét thế 50 V/s
Quá trình oxy hoá PANi quan sát được bằng cách quét thế tuần hoàn trong dung
dịch axit cho thấy rõ hai sóng: sóng đầu tiên (Ox1) bắt đầu ở thế khoảng 0 V, đạt pic
khoảng 0,2V và không nhạy với pH. Sóng thứ hai (Ox2) nằm trong khoảng 0,2 ÷ 0,8 V
và phụ thuộc mạnh vào pH. Ứng với các sóng oxy hoá sóng khử Red1 và Red2 cũng có
đặc trưng gần như vậy. Red2 nằm trong khoảng thế 0,2 ÷ 0,8V, phụ thuộc vào pH giống
như Ox2. Red2 diễn ra ở khoảng thế 0,1 V và không phụ thuộc vào pH.
Red1 và Red2 là quá trình ngược lại của hai quá trình Ox1 và Ox2. Khi pH cao
hay trong dung môi không có nước, quá trình oxy hoá emeraldin quan sát được ở điện thế
1,2V.
Đặc tính điện hoá của PANi phụ thuộc vào pH. Ở pH cao không có quá trình
proton hoá xảy ra và PANi ở trạng thái cách điện. Nếu chất điện ly đủ tính axit thì xảy ra
quá trình proton hoá tạo thành dạng nigraniline và PANi có độ dẫn điện nhất định. Sau đó
một phần của PANi gắn với bề mặt điện cực sẽ tham gia vào phản ứng oxy háo khử điện
hoá và đóng vai trò vật dẫn electron đến phần còn lại của PANi.
Hirai và cộng sự đã nghiên cứu các đặc tính điện hoá của PANi trong dung dịch
axit yếu (như pH = 4). Các tác giả đã đưa ra cơ chế phản ứng oxy hoá khử và sự giảm
hoạt tính của PANi. Màng PANi bị khử có cấu trúc giống như leocoemeraldin vì các chất
điện ly không có mặt trong polyme đã bị khử. Quá trình oxy hoá ở thế anot cao hơn là
nguyên nhân gây nên sự giảm hoạt tính của màng. Sự oxy hoá trong dung dịch axit yếu
không kèm theo sự phân huỷ mạch polyme và sự oxy hoá đường như là kết quả của sự
tăng cấu trúc quinondiimin trong polyme. Sự giảm hoạt tính của màng còn do tốc độ
phản ứng proton hoá không theo kịp phản ứng khử proton trong chu trình oxy hoá khử.

Monome có liên kết đôi hay vòng không
bền
Monome có 2 nhóm chức có khả năng
phản ứng với nhau hay monome có 2
nhóm chức giống nhau phản ứng với
monome khác có 2 nhóm chức khác.
Quá trình không tạo hợp chất thấp phân tử Quá trình có tạo hợp chất thấp phân tử.
Monome và polime có cùng thành phần
nguyên tố
Monome và polime có thành phần nguyên
tố khác nhau, thành phần nguyên tố của
polime thấp hơn của monome.
Quá trình thường không thuận nghịch Quá trình thường thuận nghịch và cân
bằng

Polyaniline được tổng hợp từ sự trùng ngưng oxy hóa monome aniline nhờ những
chất cung cấp điện tử. Có nhiều cách tổng hợp PANi như: trùng ngưng hóa học, trùng
ngưng điện hóa, trùng hợp và một số phương pháp khác. Ở đây nhóm được giáo viên
hướng dẫn tổng hợp Polyaniline bằng phương pháp trùng hợp nhũ tương đảo.
1.4.4.1 Trùng ngưng hóa học
Trùng ngưng hóa học là phương pháp sủ dụng các chất oxy hóa như (NH
4
)S
2
O
8
,
Na
2
S

2
O
8
oxy hóa aniline trong môi
trường axit như HCl 1M, hoặc H2SO4 1M ở nhiệt độ -5
0
C ÷ 5
0
C trong 3 ÷ 5 giờ theo
phương trình tổng hợp:
Theo một số nhà khao học, thế oxy hóa của aniline khoảng 0,7 V (so với điện cực
calomen bão hòa). Như vậy, chỉ cần chất oxy hóa có thế oxy hóa trong khoảng này dùng
để trùng ngưng aniline.
Polymer dẫn điện tổng hợp theo cách này đã được dùng trong công nghiệp như
DMS, …Oxy hóa hóa học cung cấp polymer dẫn dạng bột. Nói chung, polymer dạng bột
dẫn điện kém hơn polymer trùng ngưng điện hóa. Nguyên nhân là khi trùng ngưng hóa
học người ta khó điều khiển điện thế trong hỗn hợp phản ứng,nên nó dẫn đến quá oxy
hóa polymer.
Khi cho ES vào dung dịch bazo ta được deproton EB theo phương trình:
Khi ion đối A- trong ES là gốc vô cơ thì độ ổn định polymer thấp hơn ion hữu cơ.
Những ion hữu cơ thường dùng: dodecyl benzene sulfonic axit (DBSA), p-toluene
sulfonic axit,…
Ta tạo ra dạng hoạt hóa bởi các ion hữu cơ tổng hợp được khi trộn EB với các
axits hữu cơ. Ví dụ: trộn EB với DBSA trong môi trường cloroform và m-cresol (1:3)
trong một ngày, ta có PANi được hoạt hóa bằng ion hữu cơ.
1.4.4.2 Trùng ngưng điện hóa
Nguyên tắc của Phương pháp điện hóa: Phương pháp điện hoá là dùng dòng điện
để tạo nên sự phân cực với điện thế thích hợp sao cho đủ năng lượng để oxi hoá monome
trên bề mặt điện cực, khơi mào cho polimer hoá điện hoá tạo màng dẫn điện phủ trên bề
mặt điện cực làm việc.

C, nhiệt độ sôi là 184,4
0
C ,
anilin tan tốt trong ete, benzen, etanol, ít tan trong dung môi khác. Anilin rất độc, có thể
thâm nhập vào cơ thể qua các màng nhầy, đường hô hấp và thấm qua da.
Hoạt tính hoá học của anilintập trung chủ yếu ở ở nhóm -NH
2
. Ngoài ra do hiệu
ứng cảm ứng của các nguyên tử mà mà vị trí para càng được hoạt hoá, có thể tham gia
phản ứng hoá học,đặc biệt là phản ứng polime hoá.
Tính chất cơ bản của anilin
Các polime đãn điện có hệ thống nối đôi dọc theo toàn bộ mạch phân tử hoặc trên
những đoạn khá lớn của mạch. Polime có hệ thống nối đôi liên hợp có hàng loạt tính chất
kĩ thuật quan trọng. Chúng bền nhiệt, có độ từ cảm và có tính bán dẫn. Sự không ổn định
của một số lớn điện tử π phân bố dọc theo mạch phân tử.Polime có hệ thống nối đôi liên
hợp đem lại một thuận lợi lớn về mặt. PANi có độ bền nhiệt động cao.
Polianilin được mô tả như một chất vô định hình màu sẫm, màu của nó có thể
thay đổi từ xanh lá cây nhạt cho đến màu tím biếc. PANi rất bền với các dung môi, không
tan trong axit. PANi có tỉ khối khá lớn, có độ xốp cao. độ dẫn điện của PANi bao gồm cả
dẫn điện ion và dẫn điện điện tử.
1.4.4.3 Cơ chế quá trình trùng ngưng
Cơ chế của quá trình trùng ngưng điện hóa như sau: 4 bước chính:
- Bước 1: Oxy hóa monome, để tạo thành cation tồn tại dưới dạng cộng
hưởng.
- Bước 2: Gốc cation aniline ở nguyên tử nito ghép với gốc cation aniline có
điện tử độc thân ở vị trí para (dạng cộng hưởng), hình thành phân tử
dication. Đề proton chấ này cho dime tự nhiên.
- Bước 3: Đime tự nhiên được oxy hóa, hình thành gốc cation tại nguyên tử
nito. Gốc cation dime này ghép với gốc cation aniline có điện tử độc thân ở
vị trí para hình thành nên mạch dây chuyền.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status