Luận văn: Một số giải pháp nhằm mở rộng thị trường Nhật Bản cho ngành Thủy sản Việt Nam. potx - Pdf 11


Luận văn
Một số giải pháp nhằm mở rộng
thị trường Nhật Bản cho
ngành Thủy sản Việt Nam. 1
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU:
Chương I : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 01
I.1. CÁC HỌC THUYẾT VỀ LI THẾ SO SÁNH 01
I.1.1. Nội dung các lý thuyết 01
I.1.2. Ứng dụng cho ngành Thuỷ sản Việt Nam 01
1.2. LÝ THUYẾT VỀ THỊ TRƯỜNG 01
1.2.1. Khái niệm về thò trường 01
1.2.2. Nghiên cứu thò trường để phân khúc, lựa chọn thò trường mục tiêu,
đònh vò thò trường 02
I.3. GIỚI THIỆU SƠ LƯC VỀ NHẬT BẢN 02
I.3.1.Vò trí đòa lý Nhật Bản 02
I.3.2.Dân số và con người Nhật Bản 02
I.3.3.Kinh tế Nhật Bản 03
I.3.4. Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản 05
I.4. VAI TRÒ CỦA NGÀNH THUỶ SẢN ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ
XÃ HỘI 07
I.4.1. Đóng góp của ngành trong Tổng sản phẩm quốc dân 07
I.4.2.Đóng góp của ngành đối với hoạt động xuất khẩu ở nước ta 07

II.3.2.1.Vài nét về thò trường thủy sản Nhật Bản 24
II.3.2.2. Các đối thủ cạnh tranh 33
II.3.2.3. Đánh giá về nguồn cung cấp cho xuất khẩu thủy sản 37
II.3.3. Đánh giá cơ hội và nguy cơ 42
II.4. Đánh giá chung 43
II.4.1. Ưu điểm 43
II.4.2. Nhược điểm 43
Chương III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG NHẬT
BẢN CHO NGÀNH THUỶ SẢN VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2010 44
III.1.MỤC TIÊU NHIỆM VỤ CỦA NGÀNH THUỶ SẢN ĐẾN NĂM 2010 44
III.1.1. Những quan điểm về mục tiêu ,nhiệm vụ của ngành thủy sản
Việt Nam 44
III.1.2. Những mục tiêu 45
III.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP 46
III.2.1. Giải pháp phát huy những ưu điểm sẵn có 46
III.2.2. Giải pháp khắc phục nhược điểm tồn tại 49
III.2.3. Các giải pháp hỗ trợ khác 54
III.3. KIẾN NGHỊ 58

KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO

3
MỞ ĐẦU

Ý nghóa khoa học và thực tiễn:
Phân tích thực trạng ngành thủy sản và xuất khẩu thủy sản Việt Nam
vào thò trường Nhật Bản.
Đánh giá đúng và phân tích một cách khách quan những ưu điểm, nhược
điểm của lónh vực xuất khẩu thủy sản Việt Nam vào thò trường Nhật bản.
Xác đònh được một hệ thống những quan điểm, đònh hướng và mực tiêu
nhằm phát triển ngành thủy sản Việt Nam nói chung, lónh vực xuất khẩu vào
thò trường Nhật Bản nói riêng đến năm 2010.

4
Đưa ra các giải pháp có tính chất toàn diện và đồng bộ để phát triển và
mở rộng thò trường Nhật Bản cho ngành Thủy sản Việt Nam đến năm 2010.
Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng,
và các phương pháp cụ thể khác như: Điều tra phân tích kinh tế, phương pháp
hệ thống, phương pháp tổng hợp, phương pháp đồ thò, phương pháp phân tích
thống kê, nghiên cứu thò trường, Marketing Mix .
Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liêu tham khảo, đề tài có kết
cấu như sau:
Chương I : Cơ sở lý luận của đề tài
Chương II: Thực trạng của thủy sản Việt Nam tại thò trường Nhật Bản.
Chương III: Một số giải pháp nhằm mở rộng thò trường Nhật Bản cho
ngành Thủy sản Việt Nam.

được suy tôn là “cha đẻ của kinh tế học” A. Smith khuyến khích tự do thương mại.
Ông cho rằng, nếu mỗi quốc gia chuyên môn hóa vào sản xuất và xuất khẩu
những mặt hàng mà mình có lợi thế tuyệt đối (tức chi phí lao động thấp hơn so
với các nước khác) và nhập khẩu những mặt hàng mà mình không có lợi thế tuyệt
đối thì tất cả các quốc gia đều có lợi. Lợi thế tuyệt đối có được là do sự khác biệt
về nguồn tài nguyên thiên nhiên từ vò trí đòa lý mà có.
I.1.1.1 Lý thuyết lợi thế so sánh tương đối của David Ricardo:
David Ricardo (1772 - 1823) là nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh, người
đã được C. Mác đánh giá là người đã “đạt tới đỉnh cao nhất của kinh tế chính trò
tư sản cổ điển”. Theo D.Ricardo, nếu mỗi quốc gia chuyên môn hóa vào sản xuất
và xuất khẩu những sản phẩm mà mình có lợi thế so sánh và nhập khẩu những
sản phẩm mà mình không có lợi thế so sánh thì tất cả các quốc gia đều có lợi.
Tuy nhiên, lợi thế so sánh ở đây không phải là dựa vào sự khác biệt về tài
nguyên thiên nhiên như quan điểm của A.Smith, mà dựa vào trình độ phát triển
của yếu tố sản xuất của mỗi quốc gia (ví dụ như: trình độ của nguồn nhân lực,
trình độ công nghệ, cơ sở vật chất kỹ thuật….) và lợi thế so sánh không phải là
bất di bất dòch mà nó sẽ thay đổi tùy thuộc vào thời gian và trình độ phát triển
của mỗi quốc gia/đòa phương.
I.1.2 Ứng dụng các học thuyết về lợi thế so sánh cho thủy sản Việt Nam:
-Vận dụng lý thuyết lợi thế so sánh tuyệt đối của A.Smith để phát triển
cho sản xuất và xuất khẩu thủy sản Việt Nam, chúng tôi thấy Việt Nam có điều
kiện thuận lợi để phát triển ngành thủy sản, (có dãi bờ biển dài suốt thuận lợi
cho việc đánh bắt thủy sản, có điều kiện khí hậu và đất đai để phát triển nuôi
trồng thủy sản, có đội ngũ lao động đông đảo, cần cù, chi phí lao động thấp) vì
vậy nên tăng cường phát triển nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản để xuất
khẩu qua Nhật Bản và các nước khác.
-Vận dụng lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo để phát triển sản
xuất và xuất khẩu thủy sản Việt Nam, theo chúng tôi ngành Thuỷ sản Việt nam
nên tiếp tục hoàn thiện các dự án đánh bắt xa bờ, các chương trình nuôi trồng
thủy sản, cải thiện môi trường … để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng

phác họa các nét khái quát về các phân khúc đã nhận ra.
Lựa chọn thò trường mục tiêu là đánh giá mức lôi cuốn của mỗi phân khúc và
chọn một hay nhiều phân khúc để xâm nhập.
Đònh vò thò trường là hình thành vò thế cạnh tranh cho sản phẩm của mình
cùng với một Marketing Mix thật chi tiết.

I.3 GIỚI THIỆU SƠ LƯC VỀ NHẬT BẢN:I.3.1 Vò trí đòa lý:
Nhật Bản là một quần đảo nằm ở phía Đông Bắc Châu Á, gồm 4 đảo lớn là
Honsu, Hokkaido, Shikoku, Kyushu và khoảng 6.850 các đảo nhỏ. Diện tích Nhật
Bản khoảng 377.835 km2, trong đó núi chiếm 71% tổng diện tích, đất đai canh
tác nông nghiệp chỉ chiếm 1/6 tồng diện tích.

I.3.2 Dân số và con người Nhật Bản:
Dân số Nhật Bản tính đến tháng 7/2003, vào khoảng 127.500.000 người,
đứng thứ bảy trên thế giới, mật độ dân số khoảng 331 n/km2.
Về tôn giáo, 84% người Nhật theo Thần Đạo và Đạo Phật. Còn lại các tôn
giáo khác chiếm 16%
Tuổi thọ bình quân của Nhật Bản năm 2003 là 82,5 tuổi (cao nhất thế giới),
điều này phản ánh phần nào mức sống, phúc lợi xã hội của nước Nhật rất cao.
Tuy nhiên, việc chỉ có 18% dân số có độ tuổi dưới 15, trong khi đó cứ 6 người

7
Nhật có đến một người lớn hơn 65 tuổi đã gây ra mối quan ngại: Tỷ lệ người sung
sức sáng tạo làm nhiều của cải vật chất cho xã hội thấp hơn số người được xã hội
chăm lo phúc lợi.
Nước Nhật rất nghèo về tài nguyên thiên nhgiên, lại phân bổ rải rác với
trữ lượng thấp, đa số các nguyên liệu chiến lược phục vụ cho phát triển kinh tế

lao động. Nhưng do sự nỗ lực của các nhà lãnh đạo, của nhân dân Nhật, nền kinh
tế Nhật Bản chẳng những phục hồi mà còn tăng trưởng với tốc độ nhanh và liên
tục suốt một thập kỷ rưỡi từ 1956 – 1970 tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân
của nước Nhật là 10,9% và tiếp theo trong hai thập niên sau đó 1970 - 1990 do
chòu ảnh hưởng của hai cuộc khủng hoảng dầu mỏ, tốc độ tăng trưởng giảm,
nhưng tốc độ bình quân vẫn gia tăng. Sự tăng trưởng kinh tế ổn đònh gần 45 năm
đã đưa vò thế kinh tế của Nhật Bản đứng hàng thứ hai thế giới sau Hoa Kỳ (xem
bảng 1.1)

8
Bảng 1.1: GNP của các nước G8 năm 2002.
STT QUỐC GIA TỔNG GNP (TỶ USD)
1 Mỹ 10.100
2 Nhật Bản 4.200
3 Đức 2.200
4 Anh 1.600
5 Pháp 1.500
6 Italy 1.300
7 Canada 780
8 Nga 310
Từ năm 1990 đến nay, gần 15 năm trôi qua, nền kinh tế Nhật Bản trải qua
3 thời kỳ suy thoái, giảm sút về tốc độ tăng trưởng, đưa mức tăng trưởng xuống
thấp dưới 1%, thậm chí năm 1998 là -1,7% (xem biểu đồ 1.1)

Biểu đồ 1.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế Nhật Bản:
2.90
0.40

mại xuất siêu lớn (trong khi đó, nền thương mại của Hoa Kỳ nhập siêu lớn) (minh
hoạ ở bảng 1.2) 9
Bảng 1.2: Tình hình thương mại của Nhật Bản 1997 – 2003

Đơn vò tính : Triệu đô la Mỹ
Tiêu thức 1998 1999 2000 2001 2002 2003
Xuất khẩu 387.927 419.367 479.249 403.496 416.726 430.352
Nhập khẩu 280.484 311.262 379.511 349.089 337.194 341.945
Xuất siêu 107.443 108.105 99.738 60.407 79.532 79.532
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2003

Theo số liệu của bảng 1.2, cả xuất khẩu và nhập khẩu của Nhật Bản đều đạt
đỉnh cao vào năm 2000 nhưng lại sụt giảm vào năm 2001, tuy nhiên 2 năm gần
đây tình hình lại có chiều hướng tăng lên chứng tỏ nền kinh tế Nhật Bản đang
trong giai đọan phục hồi.
Vò trí quan trọng của Nhật Bản trong nền kinh tế thế giới được nâng lên khi
Nhật Bản trở thành nhà tài trợ ODA lớn nhất thế giới với mức tài trợ bình quân
mỗi năm là 12 tỷ USD và là nước đóng góp nhiều nhất về tài chính cho hoạt động
của các tổ chức của Liên Hiệp Quốc.
I.3.4.Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản
Ngày 21/10/1973, Hiệp đònh Paris được ký kết, chấm dứt cuộc chiến tranh
của Mỹ ở Việt Nam, thì đến ngày 21/9/1973 sau nhiều nỗ lực, Chính phủ Việt
Nam và Nhật Bản ký kết Hiệp đònh chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao giữa
hai nước và cũng từ mối quan hệ đó, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật
Bản mở sang một trang mới. Và hơn 30 năm qua, quan hệ thương mại giữa Việt
Nam và Nhật Bản chia làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1973-1975: Giai đoạn trước khi thống nhất đất nước Việt Nam:

1,461
1,618.30
1,786
2,300.90
2,575.20
2,183.10
2,509.80
2,504.70
2,438.10
2,993.90
2,909
0
500
1000
1500
2000
2500
3000
1995 1999 2000 2001 2002 2003
Nhập lhẩu
Xuất khẩu

Nhìn vào biểu đồ số 1.2, ta thấy kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam
và Nhật Bản trong các năm trở về đây đạt gần 5 tỷ USD, chiếm 13,74% tổng kim
ngạch thương mại quốc tế của Việt Nam. Như vậy, theo công bố của Bộ Thương
mại Việt Nam thì tính đến tháng 12/2003, Việt Nam đã có quan hệ thương mại
với 180 nước và khu vực lãnh thổ và Nhật Bản đã trở thành thò trường quan
trọng thứ hai của Việt Nam (sau thò trường Hoa Kỳ) về cả hoạt động xuất khẩu
lẫn nhập khẩu. Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang thò trường
Nhật Bản thể hiện qua bảng 1.3

+ Sản phẩm khác 45,2
Tổng cộng
100,0
Nguồn: JETRO

Qua 2 bảng trên ta thấy: Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản những mặt
hàng mang lợi thế của Việt Nam, trong khi đó nhập khẩu những mặt hàng chủ
yếu phục vụ sản xuất. Tuy nhiên, nếu so sánh với bảng 1.2 ta thấy xuất khẩu của
Việt Nam sang Nhật Bản chỉ chiếm 0,6% thò phần nhập khẩu của Nhật Bản, một
con số khiêm tốn so với tiềm năng lợi thế của Việt Nam và sự nhiệt tình hỗ trợ
của Chính phủ Nhật Bản. Và việc nghiên cứu các giải pháp để đẩy mạnh xuất
khẩu sang thò trường Nhật Bản có ý nghóa quan trọng trong chiến lược hội nhập
kinh tế quốc tế của Việt Nam.
Tóm lại, Nhật Bản là nước có nền kinh tế lớn nhất châu Á, sự phát triển
quan hệ toàn diện với Nhật Bản là cơ sở để nền kinh tế Việt Nam cất cánh và
hội nhập nhanh với nền kinh tế thế giới.
I.4 VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA NGÀNH THỦY SẢN ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT
TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI

Xuất phát từ tiềm năng thiên nhiên to lớn, ngành thủy sản đóng vai trò
quan trọng trong sự phát triển KTXH, nhất là hơn 20 năm qua với tốc độ phát
triển nhanh chóng cả về sản lượng và giá trò xuất khẩu, ngành kinh tế thủy sản
đang ngày càng khẳng đònh vò thế là một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước
và là một trong những hướng ưu tiên của sự nghiệp CNH-HĐH hiện nay.
Ngành thủy sản bao gồm những hoạt động SXKD, giống như những ngành
sản xuất và kinh doanh khác nó là một bộ phận kinh tế nằm trong tổng thể
KTXH của đất nước. Do đó, nó chòu sự tác động của tất cả các ngành khác trong
hệ thống KTXH. Mặt khác nó cũng tác động trở lại tới hệ thống có tính tổng thể
cũng những từng thành phần của hệ thống đó tùy thuộc ở vò trí và vai trò của nó
trong nền KTQD và cộng đồng xã hội.

tỷ USD vào năm 2003 và luôn giành vò trí thứ 3 chỉ sau dầu khí và dệt may. Theo
công bố mới đây của FAO, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đạt mức tăng trưởng
kỷ lục tới 64,4%, mức tăng trưởng cao nhất thế giới, từ vò trí thứ 19 năm 1999 đã
vượt qua 8 bậc lên vò trí thứ 11 trên thế giới vào năm 2000. Đây chính là đóng
góp lớn nhất của ngành thủy sản đối với hoạt động xuất khẩu của Việt Nam và đó
cũng là động lực thúc đẩy sự phát triển của đánh bắt, nuôi trồng, chế biến và dòch
vụ hậu cần của ngành.
I.4.3 Vai trò của ngành thủy sản trong việc tạo công ăn việc làm.

Dân số nước ta khoảng 84 triệu vào năm 2003, riêng 29 tỉnh ven biển chiếm
tới gần 42.5 triệu người, khoảng 52% dân số toàn quốc. Trong đó, dân sống ờ 116
huyện thò ven biển và hải đảo chiếm 38%. Do nước ta có bờ biển dài, nhiều sông
suối nên có tiềm năng phát triển ngành thủy sản. Mặt khác, ngành thủy sản có
nhiều khâu sản xuất từ nuôi trồng, khai thác đến chế biến cộng thêm có nhiều
thành phần kinh tế tham gia: kinh tế hộ gia đình, tiểu chủ, DNNN, HTX, Liên
doanh, vì vậy giải quyết một số lượng lớn công ăn việc làm cho người lao động ở
các vùng ven biển, trong đó đặc biệt phải kể đến thành phần kinh tế hộ gia đình.
13
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG THỦY SẢN VIỆT NAM
TẠI THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN

II.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỦY SẢN VIỆT
NAM

và chỉ đóng vai trò một nghề phụ cho dân cư. Mãi cho đến nửa đầu thế kỷ này,
nghề cá vẫn hết sức thô sơ, lạc hậu và chưa được xem như một ngành kinh tế.
II.1.2.1 Giai đoạn Từ 1954 đến 1975:
Từ sau 1954 xác đònh khả năng đóng góp mà nghề cá mang lại cho nền
KTQD, Đảng và Nhà nước đã chú trọng phát triển nghề cá. Vụ Ngư nghiệp thuộc
Bộ Nông lâm đã được thành lập. Đây là cơ quan quản lý Nhà nước đầu tiên của
nghề cá miền Bắc và sự ra đời của nó đã đánh dấu một cách nhìn nhận mới đối
với nghề cá nước ta.

14
Tháng 4 năm 1960, Bộ Nông Lâm sắp xếp lại, chia thành 4 tổ chức mới là
Bộ Nông nghiệp, Bộ Nông trường quốc doanh, Tổng cục Lâm nghiệp và Tổng cục
Thủy sản. Ngày 5 tháng 10 năm 1961, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa
ban hành nghò đònh 150CP quy đònh nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của
Tổng cục Thủy sản. Đây là thời điểm ra đời của Ngành Thủy sản Việt Nam như
một chính thể ngành kinh tế kỹ thuật, phát triển toàn diện về khai thác, nuôi
trồng, hậu cần dòch vụ, chế biến, nghiên cứu khoa học và mở rộng hợp tác quốc tế
để phát triển.
II.1.2.2 Giai đoạn 1975-1980:

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Ngành Thủy sản Việt Nam bước
sang giai đoạn phát triển mới trên phạm vi cả nước, Bộ Hải sản được thành lập
vào năm 1976 và tổ chức lại thành Bộ Thủy sản vào năm 1981, bao gồm cả các
hoạt động nuôi trồng thủy sản nước ngọt và kinh doanh XNK thủy sản.
Sự suy giảm phương tiện khai thác hải sản diễn ra liên tục suốt từ năm
1975-1980. Nếu năm 1976 tổng số tàu thuyền đánh cá của toàn quốc có 51.520
chiếc, trong đó có 34.833 chiếc thuyền có động cơ với tổng công suất 543.431 CV
thì đến năm 1980 cả nước chỉ còn 39.500 thuyền đánh cá trong đó thuyền máy
còn lại 28.021 chiếc với tổng công suất 453-431 CV và thuyền thủ công 11.479
chiếc. Kinh nghiệm việc phát triển nghề cá ở miền Nam trước năm 1975 và bước

quốc thủy sản của thế giới. Giai đoạn này cũng đã chứng tỏ sự lớn mạnh của
ngành, sản lượng khai thác tăng bình quân 6%/năm. Sản lượng nuôi trồng thủy
sản đạt 976 nghìn tấn vào năm 2002, đặc biệt kim ngạch xuất khẩu thủy sản
trong một thời gian ngắn đã vượt qua được con số 2 tỷ USD đóng góp đáng kể vào
tổng thu nhập quốc dân, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cộng đồng
nông ngư dân ven biển. Giai đoạn này cũng đánh dấu sự hội nhập của ngành thủy
sản Việt Nam với khu vực và thế giới. Việc Việt Nam gia nhập ASEAN, trở thành
thành viên của APEC và đang phấn đấu gia nhập vào WTO đã mở nhiều cơ hội về
thò trường và công nghệ cho ngành cũng như tạo ra một đội ngũ cán bộ ngày càng
năng động trong hội nhập và cạnh tranh.
II.2 Kết quả hoạt động trong thời gian qua của ngành thủy sản
Việt Nam:

Để có thể có những giải pháp mở rộng thò trường Nhật bản cho ngành thủy
sản Việt Nam, ta cần đánh giá đúng đắn, khách quan hiện trạng và tiềm năng
của ngành.
II.2.1. Chế biến thủy sản và quản lý chất lượng:

Đến nay, nhìn chung ngành chế biến thủy sản xuất khẩu của Việt Nam đã
được đổi mới và hoàn thiện về nhiều mặt, trong đó đáng kể nhất là việc nâng cấp
và cải thiện điều kiện sản xuất của các cơ sở chế biến và áp dụng hệ thống quản
lý chất lượng theo nguyên lý phòng ngừa HACCP nhằm đạt các yêu cầu về đảm
bảo an toàn thực phẩm của các thò trường nhập khẩu quốc tế và việc tăng cường
kiểm soát chất lượng hàng thủy sản xuất khẩu kết hợp với cải tiến các thủ tục
trong các khâu quản lý Nhà nước.
Năm 2002, cả nước có khoảng 275 doanh nghiệp chế biến thủy sản đông
lạnh, trong đó có 68 doanh nghiệp có code xuất khẩu vào Châu Âu và 128 doanh
nghiệp áp dụng HACCP, đủ tiêu chuẩn xuất khẩu vào Mỹ. Đến năm 2003, đã có
100 doanh nghiệp được cấp code xuất khẩu vào Châu Âu, trong tổng số gần 300
doanh nghiệp, với công suất thiết bò là 3147 tấn / ngày. Điều này đã chúng tỏ sự

ố đếm %
Số đếm %
< 20 16 36,4 37 82,2 83 92,2 136 76,0
20 - 40 13 29,5 13 7,3
40 – 60 12 27,3 1 2,2 13 7,3
> 80 3 6,8 7 15,6 7 7,8 17 9,5
Tổng cộng 44 100 45 100 90 100 179 100

Nguồn: Dự án nghiên cứu về thò trường và tín dụng nghề cá tại Việt
Nam.(12/2002)
Với con số thống kê trên, có thể thấy tỉ lệ sản phẩm sống sau khi khai thác là rất
thấp, nhóm thấp nhất (có tỉ lệ sản phẩm sống dưới 20%) chiếm đến 76% trong
tổng số, điều này cho thấy kỹ thuật bảo quản sau thu hoạch của chúng ta còn
nhiều hạn chế, đây là một trong những trở ngại lớn khi mà xu hướng tiêu dùng
của thế giới hiện nay và của người Nhật nói riêng hướng về sử dụng các sản
phẩm tươi sống.

II.2.2 Về mặt hoạt động marketing

II.2.2.1. Về các mặt hàng thủy sản xuất khẩu vào Nhật Bản:

Bảng 2.2
: Tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thò
trường Nhật
STT
NĂM
CHỈ TIÊU
1997 1998 1999 2000 2003
1 Khối lượng (tấn)
0

quân gia tăng.

17
Theo nguồn tin từ Bộ Thủy sản : Năm 2003, Việt Nam xuất sang Nhật Bản
được gần 104 nghìn tấn thủy sản các loại, kim ngạch đạt 575 triệu USD. Như vậy,
năm này kim ngạch xuất khẩu sang thò trường Nhật bản đã tăng hơn năm 2002
gần 5,5%.
Trong cơ cấu XK, mặt hàng chiếm tỷ trọng cao cả về lượng và trò giá là
tôm đông lạnh (chiếm 57,3% về lượng, 81,8% về trò giá), mực đông lạnh (10,3% về
lượng, 9,4% về trò giá). Chiếm tỷ trọng cao về lượng tiếp đó là bạch tuộc đông
lạnh (5,9%), cá tươi, ướp đá và đông lạnh (4,9%) nghêu đông lạnh (4,6%), mực khô
(2,7%), ghe đông lạnh (2,0%),… Tuy vậy, ngoài tôm đông lạnh, các mặt hàng chiếm
tỷ trọng cao về trò giá không nhiều, bao gồm: cá tươi, ướp đá và đông lạnh (3,2%),
bạch tuộc đông lạnh (2,4%), ghẹ đông lạnh (1,6%), mực khô (0,4%),…
• Về mặt hàng tôm:
Năm 2003, trong giá trò thủy sản của Việt Nam xuất khẩu sang thò trường
Nhật Bản đạt 575 triệu USD thì riêng tôm đạt giá trò trên 300 triệu USD, tăng
8,1% so với năm 2002. Ta có thể hình dung phần nào đối thủ cạnh tranh của mặt
hàng tôm xuất khẩu của Việt Nam trên thò trường Nhật Bản qua bảng 2.3 sau
đây:

Bảng 2.3
: Các nước xuất khẩu tôm chủ yếu sang Nhật Bản
ĐVT: Tấn, triệu Yên
1997 1998 1999 2000 2001 2002
Quốc gia
Lượng Lượng Lượng Lượng Trò giá Lượng TG
(%)
Lượng TG
(%)

với các đối tác Nhật Bản.
• Về mặt hàng cua, ghẹ:
Chủ yếu Việt Nam xuất khẩu ghẹ vào thò trường Nhật Bản, là nhà cung cấp
ghẹ lớn thứ hai (sau Trung Quốc). Ghẹ của Việt Nam được ưa chuộng vì ngọt và
thơm. Tuy nhiên, khả năng cung ứng của Việt Nam vẫn còn hạn chế.
Bảng 2.4: Các nhà xuất khẩu cua, ghẹ hàng đầu vào Nhật Bản trong năm
2000 ĐVT: Tấn
Chủng loại Dạng sản phẩm Sản
lượng
Vò trí thứ
nhất
Thò phần Vò trí thứ
hai
Thò phần
(%)
Đông lạnh 22.190 Nga 84,5 Mỹ 12,5 Cua
Huỳnh đế
Sống, tươi, ướp lạnh 20.948 Nga 99,9 Mỹ 0,1
Đông lạnh 33.807 Canada 47,4 Nga 34,6
Cua tuyết
Sống, tươi, ướp lạnh 27.113 Nga 82,2 Triều Tiên 17,4
Đông lạnh 12.886 Trung Quốc 54,0 Việt Nam 22,8 Ghẹ các
loại
Sống, tươi, ướp lạnh 1.506 Trung Quốc 77,1 Hàn Quốc 21,8
Nguồn: Số liệu xuất nhập khẩu – JETRO

Trong chủng loại mặt hàng này, Việt Nam chỉ có khả năng xuất khẩu
chính là ghẹ đông lạnh. Xuất khẩu ghẹ đông lạnh của Việt Nam sang Nhật Bản
trong năm 2003 đạt 1.636 tấn, đạt kim ngạch 854 triệu yên, tăng hơn năm 2002
là 1,4% về trò giá. Trong cơ cấu xuất khẩu, ghe chiếm 2,0% về lượng và 1,6% về


19
• Về mặt hàng nhuyễn thể (mực và bạch tuộc)
Năm 2003, chúng ta xuất sang Nhật bản 8.584 tấn mực đông lạnh, kim
ngạch đạt 5,12 tỷ yên. Mặc dù các tháng cuối năm, xuất khẩu mực đông lạnh của
Việt Nam vào Nhật đã tăng nhẹ, nhưng tổng lượng xuất khẩu của cả năm vẫn
thấp hơn so với mức 9.304 tấn, kim ngạch 5,74 tỷ yên xuất khẩu trong năm 2002.
Tính đến thời điểm tháng 11/2003, Nhật Bản trở thành thò trường tiêu thụ
mực và bạch tuộc lớn nhất của Việt Nam, chiếm 37% tổng trò giá xuất khẩu ở mặt
hàng này của Việt Nam. Công ty Xuất Nhập khẩu Thủy sản An Giang là nhà cung
cấp lớn nhất ở mặt hàng này.
Năm 2003, mặt hàng bạch tuộc được xuất khẩu chủ yếu ở dạng đông lạnh,
đạt 4.927 tấn, thu được kim ngạch gần 1,31 tỷ yên, tăng hơn 4,1% về lượng và
tăng 3,6% về trò giá so với năm 2002.
Bảng 2.6: Tình hình nhập khẩu nhuyễn thể của Việt Nam vào Nhật
Bản
Năm 2002 Năm 2003

Mặt hàng
Lượng
(tấn)
Trò giá
(nghìn
yên)
Giá TB
(yên/kg)
Lượng
(tấn)
Trò giá
(nghìn

Nhiều mặt hàng giảm lượng xuất như cá sòng đông lạnh (187,4 tấn), cá ngừ mắt
to tươi (33,54 tấn), cá ngừ vằn đông lạnh, cá dải đông lạnh…
Xét cụ thể một số mặt hàng đạt kim ngạch cao tới Nhật bản trong năm qua
thì cá ngừ vây vàng tươi là mặt hàng có lượng xuất khẩu lớn. Theo thống kê, Việt
Nam là nước đứng thứ 8 trong số các nước có lượng xuất khẩu mặt hàng này tới
Nhật Bản trong năm 2003. Cá ngừ mắt to tươi cũng là loại cá có được chỗ đứng
tại thò trường Nhật Bản. Việt Nam đứng thứ 9 trong số các nước thu được kim
ngạch xuất khẩu cao loại cá này tới Nhật Bản. Mặc dù về lượng xuất khẩu, chúng

20
ta thua kém nhiều so với n Độ và Đài Loan-hai quốc gia đứng đầu về xuất khẩu
cá ngừ tới Nhật Bản, song chúng ta lại bán được giá cao hơn họ.

Năm 2003, Việt Nam xuất khẩu được 42,9 tấn cá thu sang Nhật, đứng sau
các nước Hàn Quốc, Trung Quốc, New Zealand. Hàn Quốc là nước có lượng cá thu
xuất khẩu rất lớn (tới 1,327 tấn) tới thò trường này.

Và mặc dù mặt hàng cá dải đông lạnh bò giảm sút về lượng xuất khẩu, song
Việt Nam là nước đứng thứ 6 trong số các nước có lượng xuất khẩu lớn nhất vào
Nhật với giá bán cao nhất, đạt 383,6 yên/kg.

21
Bảng 2.7: Một số sản phẩm cá của Việt Nam xuất tới thò trường Nhật
Bản (nguồn: Tạp chí thông tin thủy sản)

Năm 2002
Năm 2003

Mặt hàng
Lượng

Chả cá đông lạnh 984,33 12,745 1.506,79 13,629 +522,46
Cá khô 2.204,20 98,210 1.554,81 71,041 -649,39
Trứng cá muối 4,57 312 4,57 312 +4,57
Vi cá khô 0,33 33 0,45 33 +0,42

Qua bảng 2.7, ta thấy các mặt hàng ngừ vây vàng, susimi đông lạnh, chả cá
đông lạnh tăng lên đột biến trong khi các mặt hàng cá sòng, cá ngừ vằn đông
lạnh lại giảm đột biến chứng tỏ sự biến động rất lớn, khó dự đoán nhu cầu ở các
mặt hàng cá
Một số đánh giá sau khi nghiên cứu mặt hàng xuất khẩu thủy sản
của Việt Nam ở thò trường Nhật Bản :
¾ Mặc dù Nhật Bản là thò trường xuất khẩu thủy sản lớn nhất của Việt
Nam, nhưng trong 10 mặt hàng thủy sản nhập khẩu lớn nhất vào Nhật Bản thì
Việt Nam chỉ tham gia mạnh vào 2-3 mặt hàng
¾ Tỷ lệ xuất khẩu thủy sản giá trò gia tăng trên thò trường Nhật Bản còn
khá thấp, khoảng trên 20% tổng giá trò xuất khẩu. Việc xuất khẩu thủy sản dưới
dạng thô ít qua chế biến khiến nhiều mặt hàng xuất khẩu sang thò trường Nhật
Bản gặp nhiều khó khăn như mặt hàng mực ống đông lạnh ở thò trường Nhật
Bản được quản lý bằng hạn ngạch, nhưng năm 2000 Bộ Công nghiệp và Ngoại
thương Nhật Bản giảm hạn ngạch nhập khẩu mực ống từ Việt Nam đến 10 lần
làm cho một số công ty thủy sản Việt Nam gặp khó khăn, trong khi đó nếu mực

22
ống, mực nang được chế biến thành sushi, sashimi thì nhập khẩu vào Nhật Bản
không bò hạn chế bởi hạn ngạch mà giá trò xuất khẩu cao hơn 4 lần so với xuất
khẩu thô.
¾ Hiện nay, Việt Nam đứng thứ hai sau Thái Lan về cung cấp mực nang cho
thò trường Nhật Bản, nhưng tỷ lệ khá lớn trong số này được các nhà chế biến
Nhật Bản sấy khô và tái xuất sang thò trường khác với khối lượng lớn hơn. Đây
cũng là một hiện tượng đặt ra cho các nhà xuất khẩu thủy sản Việt Nam phải

đó của Hàn Quốc là (363,6 yên/kg) và Trung Quốc là (241 yên/kg).
- Mặt hàng ghẹ đông lạnh giá bán trung bình sang Nhật là (522 yên/kg), cao
hơn so với các nước Trung Quốc (438 yên/kg) và Ấn Độ (398 yên/kg).
Tóm lại, trừ hai mặt hàng cá ngừ mắt to tươi và ghẹ đông lạnh có giá XK
trung bình vào Nhật Bản cao hơn so với các nước khác vì đây là những mặt hàng
của Việt Nam mới xuất sang Nhật, nhu cầu tiêu dùng cao nhưng khả năng cung
cấp còn thấp. Còn lại các mặt hàng khác giá xuất khẩu trung bình vào Nhật Bản
đạt mức từ thấp đến trung bình so với các nước XK khác do chất lượng sản phẩm
còn thấp, chủng loại đơn điệu, vệ sinh an toàn thực phẩm thấp, qui cách và mẫu

23
Nhà bán buôn
Nhà máy Việt
Nam/Nhà
xuất khẩu
Nhà nhập
khẩu
Nhật
Nhà
phân
phối
Nhà hàng,
Siêu thò
Người bán
lẻ, người
tiêu dùng
Các nhà máy chế
biến lại
mã chưa phù hợp với thò hiếu , chủng lọai, sản phẩm chế biến sẵn chưa có nhiều
những lọai phù hợp với người tiêu dùng Nhật bản làm cho kim ngạch XK chưa

24Ưu điểm của cách thức phân phối này:
- Chi phí lưu thông thấp.
- Kênh phân phối được thiết lập sẵn sẽ thuận lợi cho các nhà sản xuất Việt
Nam có quy mô hoạt động nhỏ, năng lực tiếp cận thò trường còn hạn chế vì không
phải mất thời gian và tốn nhiều chi phí cho việc nghiên cứu kênh phân phối.
Nhược điểm của cách thức phân phối này:
Giá xuất khẩu thấp, người xuất khẩu không chủ động đònh giá cho sản phẩm
của mình trên thò trường Nhật Bản, chủ yếu tham khảo giá xuất khẩu của các
nước khác.
Không tạo được tên tuổi cho hàng thủy sản Việt Nam bởi phần lớn các sản
phẩm XK của Việt Nam xuất sang Nhật dưới dạng thô hoặc sơ chế, nó sẽ được chế
biến lại thông qua các nhà máy chế biến của Nhật Bản và sẽ mang nhãn hiệu

báo đề cập đến đặc điểm cũng như tập quán tiêu dùng của người dân Nhật bản.
Những thông tin đưa ra thường manh mún, trùng lắp, thông tin đã qua xử lý và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status