Luận văn: Một số giải pháp về vốn ĐT nhằm phát triển ngành Thủy sản tỉnh Kiên Giang - Pdf 11


Luận văn
Một số giải pháp về vốn
ĐT nhằm phát triển ngành
Thủy sản tỉnh Kiên Giang Trần Vónh – Luận văn Thạc só Khoa học Kinh tế

MỤC LỤC

Trang
LỜI MỞ ĐẦU
01
CHƯƠNG I: VỐN ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NGÀNH THỦY SẢN.
04
1.1 TỔNG QUAN VỀ VỐN ĐẦU TƯ.
04

1.1.1 Khái niệm vốn đầu tư
04

1.1.2 Các nguồn vốn đầu tư
05
1.2 VAI TRÒ CỦA NGÀNH THỦY SẢN TRONG CHIẾN LƯC PHÁT TRIỂN
KINH TẾ XÃ HỘI.
06


14

Trang 1/ 75
Trần Vónh – Luận văn Thạc só Khoa học Kinh tế CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỐN ĐẦU TƯ ĐÁP ỨNG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA
NGÀNH THỦY SẢN TỈNH KIÊN GIANG TRONG NHỮNG NĂM QUA.
18
2.1 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH THỦY SẢN TỈNH KIÊN
GIANG.
18

2.1.1 Tiềm năng, lợi thế của ngành Thủy sản.
18
2.1.1.1 Tiềm năng hải sản.
18
2.1.1.2 Tiềm năng nuôi trồng thủy sản.
19

2.1.2 Đánh giá những mặt làm được.
20
2.1.2.1 Tình hình khai thác hải sản.
20
2.1.2.2 Tình hình nuôi trồng thủy sản.
21
2.1.2.3 Tình hình chế biến và xuất khẩu thủy sản.
22

2.1.3 Đánh giá những mặt còn tồn tại.

Trang 2/ 75
Trần Vónh – Luận văn Thạc só Khoa học Kinh tế

CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ VỐN ĐẦU TƯ NHẰM PHÁT TRIỂN
NGÀNH THỦY SẢN TỈNH KIÊN GIANG.
43
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO CỦA NGÀNH
THỦY SẢN.
43

3.1.1 Thuận lợi và khó khăn.
43

3.1.2 Đònh hướng phát triển và quan điểm chỉ đạo.
44

3.1.3. Mục tiêu phát triển ngành Thủy sản tỉnh Kiên Giang.
45
3.1.3.1 Khai thác hải sản.
46
3.1.3.2 Nuôi trồng thủy sản.
47
3.1.3.3 Chế biến và xuất khẩu thủy sản.
48

3.1.4 Nhiệm vụ phát triển ngành Thủy sản tỉnh Kiên Giang.
48
3.1.4.1 Khai thác hải sản.
48
3.1.4.2 Nuôi trồng thủy sản

62

3.3.4 Giải pháp về khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào phát
64

Trang 3/ 75
Trần Vónh – Luận văn Thạc só Khoa học Kinh tế

triển ngành Thủy sản.
3.3.5 Giải pháp về cổ phần hoá DNNN.
66
KẾT LUẬN
68
PHỤ LỤC: BẢNG BIỂU

Bảng 01: Kế họach phát triển thủy sản giai đọan 2006 - 2010

Bảng 02: Giá trò sản xuất GO và GDP ngành thủy sản tỉnh Kiên Giang
Bảng 03: Cơ cấu GDP ngành thủy sản

Bảng 04: Kết qủa vốn đầu tư trên lãnh vục chế biến thủy sản tỉnh Kiên
Giang 2001 -2003

Bảng 05: Cơ cấu thò trường xuất khẩu tỉnh Kiên Giang

Bảng 06: Kết qủa vốn đầu tư xây dựng hệ thống cảng cá ngành thủy sản
trong những năm qua

Bảng 07: Báo cáo tình hình thực hiện dự án thủy lợi phục vụ nuôi tôm ngành
thủy sản

2
ngư trường gấp
10 lần diện tích đất liền và chiếm 1/5 diện tích vùng Vònh Thái Lan. Trữ lượng
vùng biển hơn 460.000 tấn thủy sản; với nguồn lợi phong phú gồm 273 loài, 139
giống thuộc 71 họ trong đó có hơn 20 loài cá kinh tế. Hằng năm cho phép khai
thác trên 200.000 tấn hải sản. Bờ biển dài gần 200 km tạo điều kiện thuận lợi
phát triển nuôi trồng thủy sản (NTTS). Hải đảo với ba quần đảo: Phú Quốc, Thổ
Chu và Nam Du có trên 105 hòn đảo lớn nhỏ che chắn là nơi tàu thuyền có thể
neo tránh gió bão để khai thác quanh năm. Do vậy vùng biển, hải đảo và ven
biển Kiên Giang chính là lợi thế so sánh của tỉnh nhà so với các tỉnh đồng bằng
sông Cửu Long trong quá trình đưa ngành Thủy sản tỉnh Kiên Giang phát triển
theo con đường công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Bên cạnh những tiến bộ đạt
được, kinh tế thủy sản vẫn còn nhiều khó khăn tồn tại. Chưa khai thác tốt tiềm
năng vùng biển, hải đảo, ven biển và bên trong nội đồng. Sản lượng khai thác
lớn nhưng giá trò thấp. Phát triển nuôi trồng và chế biến chưa cân đối với đánh
bắt. Trình độ khoa học công nghệ trong khai thác, nuôi trồng và chế biến còn
thấp dẫn đến năng suất sản lượng và giá trò hàng hoá không cao, kim ngạch xuất
khẩu (KNXK) thấp. Những tồn tại đó có nhiều nguyên nhân, một trong những
nguyên nhân cơ bản là vốn đầu tư (vốn ĐT) cho ngành Thủy sản trong những
năm qua chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của ngành Thủy sản, vốn ĐT
còn hạn chế, đònh hướng cơ cấu vốn ĐT trên từng lónh vực của ngành chưa

Trang 5/ 75
Trần Vónh – Luận văn Thạc só Khoa học Kinh tế

chuyển biến nhanh theo hướng tính cực và có hiệu quả. Từ những vấn đề nêu
trên cần tìm ra những giải pháp về vốn ĐT nhằm đáp ứng cho yêu cầu phát triển
của ngành Thủy sản, giúp cho ngành Thủy sản phát huy các tiềm năng lợi thế
của mình để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, góp phần quan trọng vào việc hoàn
thành các chỉ tiêu kinh tế, xã hội của tỉnh Kiên Giang. Để giải quyết vấn đề vốn

NSNN và vốn TDNH cho các lónh vực nói trên.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Xuất phát từ quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lòch sử đồng thời sử
dụng các phương pháp khác như: phương pháp diễn dòch, quy nạp, phân tích,
tổng hợp, phương pháp thống kê kết hợp nghiên cứu chọn lọc những kiến thức
lý luận đã được đúc kết rút ra từ thực tiễn tình hình triển khai thực hiện vốn ĐT
đối với sự phát triển của ngành Thủy sản. Luận văn cũng đã sử dụng các tài liệu
của Bộ Thủy sản, Sở Thủy sản, Cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước và một số
đơn vò liên quan về số liệu thống kê, các báo cáo quy hoạch, báo cáo tổng kết,
báo cáo tham luận vềø vốn ĐT, về hoạt động của ngành Thủy sản
6. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu 3 chương:
- Chương I: Vốn ĐT đối với sự phát triển của ngành Thủy sản.
- Chương II: Thực trạng vốn ĐT đáp ứng sự phát triển của ngành Thủy
sản tỉnh Kiên Giang trong những năm qua.
- Chương III: Một số giải pháp về vốn ĐT nhằm phát triển ngành Thủy
sản tỉnh Kiên Giang.

Trang 7/ 75
Trần Vónh – Luận văn Thạc só Khoa học Kinh tế

CHƯƠNG I: VỐN ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NGÀNH
THỦY SẢN.

1.1 TỔNG QUAN VỀ VỐN ĐẦU TƯ.
1.1.1 Khái niệm vốn đầu tư.
Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các
hoạt động nào đó nhằm đem lại cho người đầu tư các kết quả nhất đònh trong
tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra. Nguồn lực bỏ ra có thể là tiền, tài
nguyên thiên nhiên, sức lao động, tài sản vật chất. Biểu hiện bằng tiền tất cả các

ICOR Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn ĐT. Ở
các nước phát triển, ICOR thường lớn, từ 5-7 do thừa vốn, thiếu lao động, vốn
được sử dụng nhiều để thay thế cho lao động, do sử dụng công nghệ hiện đại có
giá cao. Còn ở các nước chậm phát triển, ICOR thấp, từ 2-3 do thiếu vốn, thừa
lao động nên có thể và cần phải sử dụng lao động để thay thế cho vốn, do sử
dụng công nghệ kém hiện đại, giá rẻ. Chỉ tiêu ICOR của mỗi nước phụ thuộc
vào nhiều nhân tố, thay đổi theo trình độ phát triển kinh tế và cơ chế chính sách
trong nước.
Về đầu tư và sự chuyển dòch cơ cấu kinh tế, kinh nghiệm của các nước
trên thế giới cho thấy, con đường tất yếu có thể tăng trưởng nhanh với tốc độ
mong muốn (từ 9 đến 10%) là tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển nhanh
ở các khu vực công nghiệp và dòch vụ. Đối với các ngành nông, lâm nghiệp,
thủy sản, do những hạn chế về đất đai và các khả năng sinh học, để đạt được tốc
độ tăng trưởng từ 5-6% là rất khó khăn. Như vậy, chính đầu tư quyết đònh quá
trình chuyển dòch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia nhằm đạt được tốc độ tăng
trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế.
Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát
triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình
trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, đòa thế,
kinh tế, chính trò,… của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn
đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển.
1.1.2 Các nguồn vốn đầu tư.
Có thể xem xét nguồn vốn ĐT dưới những góc độ khác nhau, dưới mỗi
góc độ nguồn vốn ĐT có hình thái biểu hiện riêng. Tuy nhiên, xét về bản chất

Trang 9/ 75
Trần Vónh – Luận văn Thạc só Khoa học Kinh tế


Trang 10/ 75
Trần Vónh – Luận văn Thạc só Khoa học Kinh tế

nhiều loại sinh sản quanh năm, là nhân tố quan trọng chi phối tính bền vững của
nguồn lợi thủy sản và hệ sinh thái.
Về tài nguyên thủy sản nội đòa, theo thống kê chưa kể diện tích có thể
phát triển nuôi trên biển, tổng diện tích các loại hình mặt nước nội đòa có khả
năng NTTS là trên 1,4 triệu ha, đến nay mới chỉ sử dụng khoảng 700.000 ha,
nhưng Nhà nước chưa có chính sách khuyến khích để khơi dậy tiềm năng nhằm
cung ứng nhiều nguồn nguyên liệu thủy sản cho chế biến xuất khẩu.
1.2.1 Vai trò kinh tế:
Trong lòch sử phát triển nền kinh tế Việt Nam, kinh tế thủy sản có vai trò
và vò trí rất quan trọng trong đời sống kinh tế của đất nước:
• Đối với kinh tế trong nước, từ chỗ là một bộ phận không lớn thuộc khối
kinh tế nông nghiệp, với trình độ công nghệ rất lạc hậu vào những năm 80, đến
nay ngành Thủy sản đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, có tốc độ phát
triển nhanh. Trong 15 năm qua (từ 1980-1995) nhòp độ tăng giá trò KNXK bình
quân đạt được 189%/năm, trong 5 năm gần đây (1990-1995) bình quân
35,5%/năm, quy mô ngày càng tăng, giá trò KNXK năm 1995 tăng gấp trên 50
lần so với năm 1981 và giai đoạn 1995-1999 KNXK vẫn tiếp tục tăng bình
quân 15%/năm. Hiện nay xuất khẩu thủy sản đã đứng hàng thứ 3 về giá trò kim
ngạch trong các ngành hàng xuất khẩu, đã góp phần tích cực vào việc ổn đònh và
phát triển kinh tế đất nước.

So với kế hoạch 1986-1990, thì giai đoạn 1991-1995 tổng sản lượng thủy
sản tăng 32,43%, KNXK tăng 143,68%. Ngoài ra, so với năm 1990 thì năm 1995
tổng công suất tàu thuyền đánh cá tăng 64,84%, tổng công suất CBTS đông lạnh
tăng 64,71%.
• Đối với kinh tế thế giới, kinh tế thủy sản Việt Nam đã khắc phục được

1.2.3 Vai trò an ninh quốc phòng:
Khai thác hải sản (KTHS) là ngành sản xuất cơ bản của nghề cá, có vò trí
hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế biển của cả nước, vừa phát triển kinh

Trang 12/ 75
Trần Vónh – Luận văn Thạc só Khoa học Kinh tế

tế vùng biển, hải đảo, vừa gắn với an ninh quốc phòng và chủ quyền quốc gia
trên biển. Vì vậy, thực hiện chương trình đánh bắt xa bờ, bên cạnh phát triển
nhanh đội tàu khai thác quốc doanh, còn có nghề cá nhân dân nếu được đầu tư
và khuyến khích thì họ vừa sản xuất vừa bảo vệ vùng biển quốc gia, đây chính
là lực lượng quốc phòng toàn dân hùng mạnh. Thực tế những năm qua lực lượng
tàu khai thác của ngư dân đã góp phần rất lớn trong việc bắt giữ tàu thuyền nước
ngoài xâm nhập vùng biển nước ta đánh bắt trộm hải sản, giữ vững an ninh trên
biển để bà con ngư dân an tâm ra khơi sản xuất.
1.2.4 Vai trò bảo vệ môi trường sinh thái:
Khoa học công nghệ và môi trường có vai trò hết sức quan trọng trong sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong giai đoạn mới. Đặc biệt,
vai trò này càng thể hiện rõ nét trong đònh hướng phát triển kinh tế thủy sản, vì
đây là ngành kinh tế - kỹ thuật có ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sinh thái,
đến nhiều ngành sản xuất khác và nhất là khả năng đóng góp ngoại tệ lớn. Với
các thành tựu khoa học công nghệ đã đạt được, đã nhanh chóng được ứng dụng
vào lónh vực sản xuất giống các loài tôm, cá và hải sản khác có giá trò kinh tế
cao, phục vụ cho nghề nuôi tôm nước lợ, nuôi cá lồng bè và các loại hình nuôi
thủy sản khác.
Trong KTHS nếu có kế hoạch khai thác hợp lí; khai thác đi đôi với bảo vệ
và phát triển nguồn lợi thủy sản thì sẽ nuôi dưỡng phát triển nguồn lợi, không
dẫn đến phá hoại nguồn lợi, huỷ diệt vi sinh vật làm mồi cho các loài thủy sản,
phá huỷ thảm thực vật, làm xáo trộn nền đáy biển, phá hoại môi trường sống
của các loài thủy sản, hạn chế tối đa các nghề khai thác ven bờ để bảo vệ các

- Chi dự trữ Nhà nước.
Trong đó chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã
hội là khoản tài chính có tính chất hình thành thế cân đối của nền kinh tế, tạo ra
tiền đề kích thích quá trình vận động vốn của các doanh nghiệp và đầu tư nhằm
mục đích tăng trưởng kinh tế. Chi đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn tài chính của
Nhà nước hướng vào củng cố và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng của nền kinh

Trang 14/ 75
Trần Vónh – Luận văn Thạc só Khoa học Kinh tế

tế. (Chi đầu tư cho cầu cống, bến cảng, sân bay, hệ thống thuỷ lợi, năng lượng,
vận tải, viễn thông), các ngành công nghiệp cơ bản, các công trình kinh tế có
tính chất chiến lược, các công trình trọng điểm phục vụ phát triển văn hoá, xã
hội, phúc lợi công cộng.
Chi phí đầu tư xây dựng cơ bản có tầm quan trọng trong việc tạo ra cơ sở
vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế và xã hội, góp phần hình thành cơ cấu kinh tế
theo đònh hướng của Nhà nước, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển và
nâng cao năng suất lao động xã hội.
1.3.2 Vai trò nguồn vốn TDNH thương mại.

Tín dụng xuất phát từ khi xã hội loài người có sự phân công lao động và
trao đổi hàng hoá.
Tín dụng là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trò nhất đònh
dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ trong một thời hạn nhất đònh từ người sở hữu
sang người sử dụng và phải hoàn trả lại.
Trong nền kinh tế thò trường, tín dụng hoạt động rất đa dạng phong phú.
Căn cứ vào thời hạn tín dụng, tín dụng được chia làm 3 loại:
- Tín dụng ngắn hạn:
Đây là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, thường được sử dụng để
cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của doanh nghiệp và cho

loại: tín dụng có bảo đảm bằng tài sản và tín dụng không có đảm bảo tài sản.
- Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản:
Là việc cho vay vốn của tổ chức tín dụng mà theo đó nghóa vụ trả nợ của
khách hàng vay được cam kết bảo đảm bằng tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bằng
chính tài sản hình thành từ vốn vay của khách hàng vay hay bảo lãnh bằng tài
sản của bên thứ ba.
- Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản (còn gọi là tín chấp) có 3 loại
như sau:

Trang 16/ 75
Trần Vónh – Luận văn Thạc só Khoa học Kinh tế

Loại 1: tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng có tín nhiệm và khả
năng tài chính trong việc sử dụng vốn vay và trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc và
lãi.
Loại 2: tổ chức tín dụng Nhà nước cho vay không có bảo đảm bằng tài sản
theo chỉ đònh của Nhà nước như sau:
Loại 3: Tổ chức tín dụng cho vay qua sự bảo lãnh bằng tín chấp của các tổ
chức đoàn thể, chính trò xã hội cho các cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn.
1.3.2.1 TDNH góp phần khai thác có hiệu qủa tiềm năng về lao động,
đất đai và tài nguyên thiên nhiên sẵn có.
Về phương diện lực lượng lao động, lao động trong nông nghiệp nói chung
và vùng ven biển nói riêng còn rất dồi dào nhưng chưa được sử dụng hợp lý.
Nếu ngành ngân hàng có một số chính sách phù hợp như đẩy mạnh cho vay hộ
sản xuất, mở rộng đầu tư vốn tới tất cả thành phần kinh tế, đầu tư cải tạo ao đầm
đẩy mạnh NTTS (đặc biệt là nuôi tôm sú), đầu tư đánh bắt hải sản xa bờ, đầu tư
mở rộng CBTS,.v.v… Qua đó sẽ góp phần khai thác tiềm năng ngành Thủy sản,
tận dụng sức lao động xã hội, nâng cao hiệu qủa sử dụng đất đai, mặt nước và
công suất máy móc, thiết bò để có thêm của cải, vật chất cho xã hội, góp phần
tăng trưởng kinh tế và gia tăng xuất khẩu để mang ngoại tệ về cho đất nước.

góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
1.3.3 Vai trò các nguồn vốn khác.

- Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước:
Cùng với quá trình đổi mới và mở cửa, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà
nước ngày càng đóng vai trò đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội.
Nếu như trước năm 1990, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước chưa được
sử dụng như một công cụ quản lý và điều tiết nền kinh tế thì trong giai đoạn
1991-2000, nguồn vốn này đã có mức tăng trưởng đáng kể và bắt đầu có vò trí
quan trọng trong chính sách đầu tư của Chính phủ.

Trang 18/ 75
Trần Vónh – Luận văn Thạc só Khoa học Kinh tế

Giai đoạn 1991-1995, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
mới chiếm 5,6% tổng số vốn ĐT toàn xã hội thì giai đoạn năm 1996-1999 đã
chiếm 14,5% và riêng năm 2000, nguồn vốn này đã đạt đến 17% tổng vốn ĐT
toàn xã hội.
Mục tiêu của tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là thực hiện chức
năng điều tiết vó mô nền kinh tế.
Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước được dùng để đầu tư đối với các
dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, các cơ sở sản xuất tạo việc làm, các dự án
đầu tư trọng điểm của Nhà nước trong từng thời kỳ và một số dự án khác có khả
năng thu hồi vốn đã được xác đònh trong kế hoạch đầu tư của Nhà nước.
- Nguồn vốn ĐT từ DNNN:
Được xác đònh là thành phần giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, các
DNNN vẫn nắm giữ một khối lượng vốn Nhà nước khá lớn. Theo báo cáo tổng
kết công tác kiểm kê tài sản và xác đònh lại giá trò tài sản DNNN tại thời điểm
0h ngày 1/1/2000, tổng nguồn vốn chủ sở hữu tại các DNNN là 173.857 tỷ đồng.
Với chủ trương tiếp tục đổi mới DNNN, hiệu quả hoạt động của khu vực

hội nghò các nhà tài trợ với tổng số vốn cam kết là 17,54 tỷ USD.
+ Nguồn vốn ĐT trực tiếp nước ngoài FDI:
Đây là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư và phát triển không chỉ đối với
các nước nghèo mà kể cả các nước công nghiệp phát triển. Nguồn vốn ĐT trực
tiếp nước ngoài có đặc điểm cơ bản khác với các nguồn vốn nước ngoài khác là
việc tiếp nhận nguồn vốn này không phát sinh nợ cho nước tiếp nhận.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang theo toàn bộ tài nguyên kinh doanh vào
nước nhận vốn nên nó có thể thúc đẩy phát triển ngành nghề mới, đặc biệt là
những ngành nghề đòi hỏi cao về kỹ thuật, công nghệ hay cần nhiều vốn. Vì thế
nguồn vốn này có tác dụng cực kỳ to lớn đối với quá trình công nghiệp hóa,
chuyển dòch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng nhanh ở nước nhận đầu tư.
+ Thò trường vốn quốc tế:

Trang 20/ 75
Trần Vónh – Luận văn Thạc só Khoa học Kinh tế

Đối với nước ta, để thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh và bền vững, nhằm
mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa Nhà nước ta cũng rất quan tâm huy động
vốn qua thò trường quốc tế. Các đề án về phát hành trái phiếu Chính phủ và trái
phiếu Công ty ra nước ngoài cũng đã được xây dựng và xem xét. Tuy nhiên đây
là một hình thức huy động vốn rất mới mẻ và còn phức tạp đối với Việt Nam.
+ Nguồn vốn tín dụng từ các Ngân hàng thương mại:
Điều kiện ưu đãi dành cho loại vốn này không dễ dàng như đối với nguồn
vốn ODA. Tuy nhiên, bù lại nó có ưu điểm rõ ràng là không có gắn với các ràng
buộc về chính trò, xã hội. Mặc dù vậy, thủ tục vay vốn đối với nguồn vốn này
thường là tương đối khắc khe, thời gian trả nợ nghiêm ngặt, mức lãi suất cao là
những trở ngại không nhỏ đối với các nước nghèo.

Trang 21/ 75
Trần Vónh – Luận văn Thạc só Khoa học Kinh tế

Trang 22/ 75
Trần Vónh – Luận văn Thạc só Khoa học Kinh tế

* Hải sâm phân bố ở Bãi Nò (Hà Tiên) với mật độ 1-17 con/m
2
, mùa khai
thác từ tháng 2-4 và tháng 9-10.
* Trai ngọc (ngọc điệp, ngọc nữ, hào bao) thường phân bố ở một số đảo
thuộc quần đảo Nam Du, quần đảo An Thới và quần đảo Thổ Châu.
* Nghêu lụa là loài nhuyễn thể 2 mảnh vỏ mới được phát hiện từ đầu năm
1994, phân bố tập trung ở quần đảo Bà Lụa, trữ lượng ước tính từ 20.000-25.000
tấn, khả năng khai thác cho phép khoảng 10.000-13.000 tấn/năm.
* Rong câu: có phân bố tại Hà Tiên, Phú Quốc có thể khai thác khoảng
300 tấn tươi/năm.
2.1.1.2 Tiềm năng NTTS.
Tỉnh Kiên Giang có diện tích đất tự nhiên là 627.285 ha, trong đó có
9.000 ha bãi triều ven biển và có gần 150.000 ha ruộng trũng, rừng tràm, ao hồ,
mương vườn và hệ thống sông ngòi, kênh mương chằng chòt, là điều kiện rất
thuận lợi cho việc phát triển NTTS trên các vùng sinh thái ngọt, lợ, mặn ở các
tuyến cao triều, trung triều và hạ triều.
- Nuôi thủy sản mặn,lợ:
Toàn tỉnh có 77.580 mặt nước và bãi triều thích hợp cho nuôi tôm, nhuyễn
thể, cá biển. Trong đó diện tích nuôi chuyên tôm 11.693 ha, nuôi tôm-trồng lúa
56.688 ha; nuôi sò huyết, nghêu, ngọc trai, rong sụn 9.000 ha, nuôi cá hồng 200
ha.
- Nuôi thủy sản nước ngọt:
Qua số liệu điều tra cho thấy tiềm năng nuôi thủy sản nước ngọt có diện
tích 97.300 ha. Trong đó nuôi cá - tôm ruộng trũng 60.000 ha, nuôi cá rừng tràm
34.000 ha, nuôi cá ao, mương vườn 1.300 ha và gần 2.000 ha mặt nước sông,
kênh rạch có thể nuôi thủy sản bằng lồng bè.

vào sản xuất. Đây là nhân tố góp phần quyết đònh cho ngành KTHS Kiên Giang

Trang 24/ 75


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status