Tài liệu Luận văn: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ TĂNG SỨC CẠNH TRANH CỦA HÀNG THUỶ SẢN , XUẤT KHẨU VIỆT NAM - Pdf 10


1Luận văn
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ
TĂNG SỨC CẠNH TRANH
CỦA HÀNG THUỶ SẢN ,
XUẤT KHẨU VIỆT NAM

2
LỜI NÓI ĐẦU

Để phục vụ cho yêu cầu của quá trình quốc tế hoá toàn cầu. Khoa học
nghiên cứu sự phát triển kinh tế trong thời đại này đòi hỏi chúng ta phải có
cách nhìn nhận đúng đắn đáp ứng đợc nhu cầu của công cuộc hội nhập.
Sự hình thành và phát triển của quan hệ kinh tế quốc tế là một tất yếu
khách quan. Ban đầu đó là sự trao đổi sản phẩm giữa các quốc gia do sự
khác biệt về điều kiện tự nhiên nh đất đai, khoáng sản, tài nguyên rừng, tài
nguyên biển, khí hậu, giữa các quốc gia. Tiếp theo đó là sự phát triển của
khoa học công nghệ nguồn vốn tích luỹ, nguồn lao động, trình độ quản lý.
điều đó đa đến sự trao đổi các yếu tố quá trình sản xuất, đã làm cho trao đổi
quốc tế phát triển cả triều rộng và triều sâu. thúc đẩy các ngành kinh tế phát
triển mạnh mẽ, ngày càng có hiệu quả cao
Đối với ngành thuỷ sản nói riêng của Việt Nam, đối với những điều
kiện về bờ biển và nguồn nhân lực dồi dào chúng ta cần đẩy mạnh sản xuất
đầu tư và thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài để sản xuất và xuất khẩu hàng
thuỷ sản sang các thị trờng khu vực và thế giới. Tiềm năng của xuất khẩu
thuỷ sản của Việt Nam ngày càng có u thế, do đó việc nghiên cứu là rất cần
thiết đây chính là lý do mà em lựa chọn đề tài này để nghiên cú. Với sự hớng
dẫn tận tình của cô giáo và số tài liệu, em có thể góp một phần nhỏ bé tiếng

II. Những ưu điểm, nhược điểm, nguyên nhân.
1. Ưu điểm
2. Nhược điểm
3. Nguyên nhân
CHƯƠNG III

4
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ TĂNG SỨC CẠNH TRANH CỦA HÀNG
THUỶ SẢN , XUẤT KHẨU VIỆT NAM .

1. Trú trọng quản lý chất lượng hàng thuỷ sản xuất khẩu.
2. Chính phủ trợ giúp các doanh nghiệp công nghệ bảo quản hàng thuỷ
sản xuất khẩu.
3. Khuyến khích học hỏi kỹ thuật nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt, nước
mặn tăng quy mô và chủng loại hàng thuỷ sản xuất khẩu.
4.Chính phủ cần cung cấp thông tin kịp thời về sức cạnh tranh của
hàng thuỷ sản trên thế giới và nhu cầu của các thị trờng về mặt
hàng thuỷ sản cho các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân.

5
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN TRUNG VỀ SỨC CẠNH TRANH CỦA HÀNG HOÁ
I. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH HÀNG HOÁ.
1. Khái niệm cạnh tranh.
Lý luận kinh tế học trên thế giới qua thời gian sự phát triển nền kinh tế
thế giới. Do đó có rất nhiều các quan điểm về cạnh tranh hàng hoá của các
nhà kinh tế học trên thế giới. với việc tiếp cận thị trường trong các điều kiện
khác nhau như cạnh tranh thuần tuý, cạnh tranh hoàn hảo hay các điều kiện
khác về cạnh tranh hàng hoá dịch vụ. Tuy nhiên hiện nay trên các thị trường
nước ngoài không còn hoặc gần như không còn tồn tại sự cạnh tranh thuần

Cạnh tranh giữa sản phẩm của doanh nghiệp này với các sản phẩm
doanh nghiệp nội, không những vậy có thể do mức độ ưu tiên cho sản
phẩm nội địa ví dụ thị trường Nhật thì mức độ cạnh tranh lại tăng thêm cho
doanh nghiệp. Do vậy doanh nghiệp khi thâm nhập vào thị trường này phải
tính toán đến đối thủ cạnh tranh nội địa. Cạnh tranh sản phẩm của doanh
nghiệp với các doanh nghiệp nước ngoài khác. Trong vấn đề này doanh
nghiệp lại gặp phải sản phẩm mà nó có hình ảnh đất nước trong sản phẩm đó
được người tiêu dùng ưa chuộng thì sản suất gây ra khó khăn cho sản phẩm
của doanh nghiệp. Do đó cùng một lúc doanh nghiệp phải đối mặt với việc
cạnh tranh hàng hoá nội địa và doanh nghiệp nước ngoài khác. trong khi đó
nếu càng nhiều chủng loại hàng hoá thì mức độ cạnh tranh lại càng cao.
3. Khái niệm xuất khẩu.
Phương thức đơn giản nhất để mở rộng hoạt động của doanh nghiệp
ra thị trường nước ngoài là xuất khẩu. ở đây cũng có hai cách tiếp cận khác

7
nhau. Xuất khẩu thụ động là cấp độ hoạt động với nó doanh nghiệp thỉnh
thoảng xuất khẩu một số sản phẩm dư thừa của mình và bán sản phẩm cho
khác hàng mua ở thị trường thường trú đang đại diện cho các doanh nghiệp
nước nước ngoài. Việc xuất khẩu chủ động xẩy ra khi doanh nghiệp muốn
đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm của mình sang thị trường đặc thù nào đó một
cách lâu dài và có hệ thống. Trong cả hai cách tiếp cận doanh nghiệp đều
xuất khẩu toàn bộ sản phẩm của mình ở trong nứơc doanh nghiệp có thể cải
tiến hoặc không cải tiến gì về mặt hàng, bao gói, hoặc tổ chức các khoản đầu
tư hay nhiệm vụ của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp có thể xuất khẩu sản phẩm của mình bằng hai cách
là xuất khẩu gián tiếp và xuất khẩu trực tiếp.
a. Xuất khẩu gián tiếp.
Xuất khẩu gián tiếp là hình thức khi thông qua dịch vụ của các tổ chức
độc lập đặt ngay tại nước xuất khẩu để tiến hành xuất khẩu sản phẩm của

giao dich trực tiếp với khách hàng nước ngoài ở khu vực thị trường nước
ngoài thông qua tổ chức của mình .
Về nguyên tắc mặc dù xuất khẩu trực tiếp có làm tăng thêm rủi ro trong
kinh doanh, song nó lại có các ưu điểm sau.
Giảm bớt lợi nhuận trung gian sẽ làm tăng chênh lệch giữa giá bán và
chi phí, tức là làm tăng lợi nhuặn cho nhà xuất khẩu.
Nhà xuất khẩu có liên hệ đều đặn với khách hàng và tình hình bán hàng
.do đó có thể thay đổi sản phẩm và các điều kiện bán hàng trong trường hợp
cần thiêt. Các loại tổ chức bán hàng trực tiếp của nhà xuất khẩu gồm:
* Cơ sở bán hàng trong nước. Các bộ phận này hoặc có thể liên quan
trực tiếp tới nghiệp vụ bán hàng xuất khẩu hoặc hoạt độnh như một trụ sở
Marketing xuất khẩu đặt tại trong nứơc gồm có.

9
+ Gian hàng xuất khẩu
+ Phòng xuất khẩu
+ Chi nhánh bán hàng xuất khẩu
* Đại lý bán hàng xuất khẩu với nhiều loại sản phẩm của nhà xuất khẩu
có thể sử dụng các điều kiện bán hàng thường trực hoăc tạm thời của mình
ở thị trường nước ngoài có các đại diện.
+ Người đại diện được hưởng lương
+ Văn phòng đại diện.
* Chi nhánh bán hàng tại nước ngoài là một bộ phận của doanh nghiệp
nầm tại nước ngoài có trách nhiệm quản lý công việc xúc tiến và phân phối
hàng hoá trên toàn bộ thị trường đã định.
* Tổ chức trợ giúp ở nước ngoài là một công ty riêng rẽ được thành lập
và đăng ký ở nước ngoài. Song hầu hết vốn cổ phần của nó lại do nhà xuất
khẩu nắm quyền sở hữu. So với chi nhánh bán hàng hình thức tổ chức này
có ưu điểm là khong có vấn đề về thuế tuy nhiên có thể va chạm vấn đề pháp
lý.

2. Số lượng sản phẩm.
Trong một thị trường nhất định.Số lượng sản phẩm cùng loại và sản
phẩm thay thế cũng phản ánh sư cạnh tranh của sản phẩm đó. Số lượng sản
phẩm càng nhiều thì mức độ cạnh tranh càng cao. Với các sản phẩm đồng
nhất hoặc được xem như đồng nhất , thì các đối thủ cạnh tranh luôn tìm các
hình thức cạnh tranh khác nhau làm cho sản phẩm của mình mà khách hàng
cho là có ý nghĩa. Những nỗ lực như thế không chỉ bao gồm sự thay đổi về
sản phẩm mà còn thay đổi về bao gói, kênh tiêu thụ, quảng cáo và giá cả.
Khi số lượng sản phẩm là đủ phong phú vá người mua và người bán cũng
đủ lớn để hành vi của người này không thể ảnh hưởng đến người khác thì

11
cạnh tranh giá cả có ý nghĩa quan trọng. Do đó giá có su hướng bị ép giá, hạ
xuống đến mức chi phí đơn vị trung bình và những nhà sản xuất có có mức
chi phí thấp hơn sẽ thu được lợi thế cạnh tranh. Đúng lúc này đối thủ có sản
phẩm thay thế bắt đầu xuất hiện có thể gây nên mức độ cạnh tranh khốc liệt
hơn, sản phẩm mới có những ưu điểm mà khách hàng cho là phù hợp, với
họ. Lúc này sản phẩm của doanh nghiệp sẽ lâm vào môi trường cạnh tranh
khốc liệt hơn, không những vậy lúc này số lượng hàng hoá càng nhiều và
hàng hoá đa dạng, vì thế khách hàng sẽ lựa chọn cho những sản phẩm phù
hợp ở mọi góc độ của nó kể cả giá trị sử dụng và giá cả.
3.Nhu cầu thị trường
Một trong những chỉ tiêu quan trọng cho nhu cầu thị trường là tổng hợp
sản phẩm có thể tiêu thụ, doanh số và lợi nhuận mà doanh nghiệp có thể hi
vọng thuđược trên thị trường. Và các điều kiện này cũng đánh giá sức cạch
tranh hàng hoá cuả doanh nghiệp.
III. NHẬN XÉT CHUNG VÀ Ý NGHĨA.
Việc nghien cứu cạnh tranh và xuất khẩu hàng hoá chúng ta luôn phải
bám sát với các nhân tố. Như giá cả, mẫu mã, chủng loại, chất lượng của
các đối thủ cạnh tranh, đánh giá tổng hợp đưa ra các chiến lược kinh doanh

diệm mạo mới, được xếp vào hàng các nước có công nghệ chế biến xuất
khẩu thuỷ sản tiên tiến trong khu vực với khối lượng và chất lượng sản phẩm
ngày càng cao, đến nay hàng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam đã có mặt trên
gần 60 nước và lãnh thổ. Trứơc đó năm 1995 là 25 nứơc. Năm 1997 là 46
nước, 5 năm trở lại đây 1996 –2000.Trong xu thế phát triển chung của nền
kinh tế sau hợn một thập kỷ theo đường lối đổi mới của đất nước. Nghành
thuỷ sản đã có nhiều nỗ lực vượt qua mọi khó khăn thách thức và đạt được
những thành tựu nhất định. Từ năm 1996 đến nay nghàng luôn hoàn thành

13
kế hoạch nhà nước giao năm sau cao hơn năm trước đạt ddược mức độ tăng
trưởng tổng sản lượng bình quân 9,17%/năm. Giá trị kim ngạch xuất khẩu
tăng bình quân 21,85%/năm. Xuất khẩu thuỷ sản năm 2000 đạt 1,475 tỷ
USD, bằng 1/10 tổng kim nhạch xuất khẩu của cả nước, vươn lên đứng thứ 3
trong các nghành hàng xuất khẩu của Việt Nam.
Trong 5 năm từ 1996 –2000 tổng mức đầu tư của nghành thuỷ sản là
9.185.640 triệu dồng. Đầu tư nước ngoài trong đó 545 tỷ đồng (chiếm
5,93%). Trong hơn 9000 tỷ đồng được huy động để đầu tư phát triển,
nghành chú ý vận dụng nội lực là chính. Vốn đầu tư trong nước là khoảng
8600 tỷ đồng. Chiếm tới 94,07 %tổng mức đầu tư, do có được nguồn vốn
trong nước lớn như vậy. Ngoài nguồn vốn ngân sách, nghành đã có biện
pháp huy động nguồn vốn trong dân được 1700 tỷ đồng chiếm tỷ trọng
18,62%. Tuy vậy có thể thấy đầu tư nước ngoài vào nghàng thuỷ sản còn
hạn chế, thị trường thuỷ sản chưa hấp dẫn được các nhà đàu tư nước ngoài,
mặc dù vậy nhưng đầu tữ thuỷ sản vẫn có những lợi thế đem lại cho Việt
Nam. Hết năm 2000 có 50 doanh nghiệp chế biến đạt tiêu chuẩn xuất khẩu
thuỷ sản vào thị trường EU, 77 doanh nghiệp xuất khẩu vào Bắc Mỹ .
Bước vào năm 2000 nghàng thuỷ sản đứng trước những khó khăn thách
thức. Quy hoạch tổng thể của nghành thời kỳ 2000-2010, chưa được phê
duyệt. Đầu tư cho nghành ngày càng lớn mạnh trong khi nguồn ngân sách

quan.
3.Xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Mỹ
Với thị trường Mỹ năm 1997 có khoảng 17 doanh nghiệp. Năm 1998 là
30 doanh nghiệp và năm 1999 trên 50 doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn, đủ điều

15
kiện bảo đảm an toàn vệ sinh phực phẩm. Thời kỳ 6 tháng đầu năm 2001
giảm 10% so với cùng kỳ năm ngoái giá nhập khẩu trung bình gỉm20%. Kết
quả là lượng sản phẩm tôm tăng lên đựơc dồn sang Mỹ, trong đó xuất khẩu
thuỷ sản từ Việt Nam sang Mỹ tăng lên 108%, nhưng giá nhập khẩu giảm.
Trong tình hình đó Việt Nam vẫn tăng thêm 25% đạt 37 ngàn tấn tôm xuất
khẩu với giá trung bình chỉ giảm 11%, đánh dấu cố gắng vượt bậc của các
nhà chế biến thuỷ sản xuất khẩu Việt Nam .
II. ĐÁNH GIÁ SỨC CẠNH TRANH CỦA HÀNG THUỶ SẢN XUẤT
KHẨU VIỆT NAM
1. Ưu điểm
Trong nhiều năm trở lại đây nghành thuỷ sản đang có đà phát triển. Nhiều
các xí nghiệp đang gặt hái được những thành công trong thị trường nước
ngoài.
Cádoanh nghiệp có những nỗ lực tìm kiếm thị trường rất hiệu quả nhất là thị
trường EU, Mỹ và Nhật Bản. Tìm đúng thị trường, lựa chọn đúng khách
hàng dấn đến kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản ngày càng có xu hướng tăng lên,
nhưng đòi hỏi về chất lượng giá cả , và chủng loại hàng thuỷ sản ngày càng
được đáp ứng ở các thị trường khó tính như thị trường Châu Âu, Nhật Bản,
và Mỹ. Điều này làm cho hàng thuỷ sản Việt Nam có xu hướng cạnh tranh
mạnh lên dần so với hàng thuỷ sản của nước khác trên thế giới ở thị trường
đó. Ngày 16-11-1999 cộng đồng Châu Âu (EC) đã quyết định đưa Việt
Nam vào danh sách 1 các nước được phép xuất khẩu thuỷ sản vào EU.
Cũng theo quyết định này, tổ chức của Việt Nam có thẩm quyền trong việc
chấp nhận chất lượng, điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm của các doanh

mô đánh bắt, số lượng doanh nghiệp đánh bắt thuỷ sản cũng ngày càng tăng
đã đẩy giá hàng thuỷ sản xuống thấp. Trong khi đó quy mô thị trường hàng

17
thuỷ sản của chúng ta còn thấp do số lượng hàng thuỷ sản của chúng ta còn
ít, và sức cạnh tranh còn thấp so với hàng thuỷ sản nước ngoài. Tất cả đã bị
ảnh hưởng bởi chất lượng hàng thuỷ sản của chúng ta còn chưa cao, trình
quản lý xuất khẩu thuỷ sản còn tồn tại những hạn chế. Những cán bộ trong
nghành thuỷ sản bị hạn chế về cả chất lượng và số lượng. Vì vậy việc đáp
ứng cho đòi hỏi của nghành gặp phải những trở ngại , dẫn đến nguồn lợi của
chúng ta bị lãng phí rất nhiều. Nguyên nhân dẫn đến hàng thuỷ sản còn thấp
nữa là do vấn đề thu thập thông tin và sử lý nó, thì các doanh nghiệp vẫn
chưa khai thác triệt để nhất là thông tin dự báo biến động của thị trường
nước ngoài, vì thế mà các doanh nghiệp thường đi sau so với các doanh
nghiệp nước ngoài.
III.Nhận xét và ý nghĩa nghiên cứu.
Qua nghiên cứu thực trạng cạnh tranh của việc xuất khẩu hàng thuỷ
sản Việt Nam cho chúng ta thấy một số vấn đề mà nghàng thuỷ sản đã đạt
được trong thời gian qua. Một thời kỳ nghành thuỷ sản đang trên đà phát
triển xâm nhập vào nhiều thị trường khó tính như EU, Nhật Bản,và Bắc Mỹ.
Nghành đã đem lại một số ngoại tệ đáng kể đóng góp một phần vào ngân
sách nhà nước đồng thời giaỉ quyết một số lao động cho đất nướcvà đồng
thời cũng vạch ra xu hướng phát triển cho xuất khẩu hàng thuỷ sản trong
tương lai.
Việc nghiên cứu có ý nghĩa cho sinh viên đang đang học tại trường, với sự
xem xét lại khả năng của nghành thuỷ sản Việt Nam, và ít nhất cũng bổ sung
lý luận cho nghiên cứu và từ đó có những kiến thức để đưa ra các giải pháp,
xu hướng, từ những ưu nhựơc điểm và những nguyên nhân mà quá trình
cạnh tranh đã tạo ra.


Cần Thơ, công ty xuất khẩu thuỷ sản Kiên Giang nhược điểm này gây rất
nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp trong khâu quản lý chất lượng và
thị trường. Chính vì vậy trong thời gian tới các doanh nghiệp nên đào tạo
công nhân trong quá trình chuẩn bị sản xuất. Gửu các công nhân kỹ thuật
đi đào tạo ở nước ngoài. Không những vậy doanh nghiệp còn là doanh
nghiệp xuất khẩu hàng hoá nên doanh nghiệp cần phải chú ý đến chất
lượng của đội ngũ chuyên gia kinh tế. Đây là đội ngũ quan trọng cho việc
mở rộng thị trường và thị phần của doanh nghiệp ở thị trường nước ngoài
cần đưa họ đến đúng thị trường mà doanh nghiệp có hoặc đã xuất khẩu
để họ có thể biết được thị hiếu tiêu dùng, nền văn hoá, pháp luật của
nước đó, và sự biến động của thị trường đó cho doanh nghiệp đè ra
những chiến lược phát triển trong tương lai. Những người được gửu đi
đào tạo đó doanh nghiệp cần chú ý đén việc chon những người có đủ
năng lực thực sự để giảm chi phí và có hiệu quả đào tạo cao.
2.Công nghệ mẫu mã dịch vụ của doanh nghiệp về hàng thuỷ sản xuất
khẩu.
Với những thị trường khác nhau doanh nghiệp nên nhiên cứu mẫu
mã cho phù hợp với thị hiếu của thị trường đó, các hình thức quảng cáo
và dịch vụ sản phẩm cũng phải chú ý đánh vào thị hiếu của người
tiêu dùng. Với thị trường này doanh nghiệp cũng có thể liên kết với các
doanh nghiệp khác để mở rộng thị trường. Hiện nay trong xu thế đẩy
mạnh hội nhập kinh tế thế giới đây cũng là cơ hội tốt để các doanh
nghiệp tận dụng thời gian để mở rộng thị trường của mình bằng các mối
quan hệ song phương đa phương cuả nhà nước với các nước khác, tận
dụng những ưu đãi hác nhau như đãi ngộ quốc gia (GFN), mà thúc đẩy
tăng sức cạnh tranh của hàng hoá.

20
Việc liên kết này giúp cho doanh nghiệp thay đổi công nghệ sản xuất để
tiên kịp với các công nghệ của thế giới. Trong khi đó cùng với việc mở rộng

truyền thông đại chúng, tuyên truyền rộng dãi trong ngư dân và những tham
ra kinh doanh nguyên liệu thuỷ sản về việc đảm bảo an toàn vệ sinh thực
phẩm thuỷ sản xuất khẩu .
2.Chính phủ đối với vấn đề hội nhập quốc tế
Trong quá trình hội nhập chính phủ phải tăng cường công tác ngoại giao ,
hội nhập khu vực , cung cấp thông tin ký kết các hiệp ước thảo thuận
thương mại yhúc đẩy xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam trong thời gian này chính
phủ cũng nên hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp để họ đầu tư công nghệ
, kỹ thuật cho quá trình nghiên cứu cách thức mở rộng thị trường và chiếm
lĩnh thị phần so với các doanh nghiệp khác.
22
KẾT LUẬN

Đứng trước những thử thách của quá trình hội nhập
nền kinh tế thế giới ,và những thuận lợi và khó khăn mà
ngành thuỷ sản Việt nam đang gặp phải ,trên con đường
sản xuất và xuất khẩu vaò thị trường thế giới. Việt Nam cân
phải có những chính sách cho việc cạnh tranh hàng thuỷ
sản trên thị trừơng thế giới. Trên thực tế xuất khẩu thuỷ
sản đang ngày càng phát triển mạnh. Do đó việc nghiên
cứu mặt hàng này là điều rất cần thiết, có thể tìm ra được
những giải pháp thúc đẩy cạnh tranh có lợi cho phía Việt
nam, thu hút được nguồn ngoại tệ và giải quyết việc làm
cho ngừơi lao động. Chính vì thế mà em đã lựa chọn vấn
đề này để nghiên cứu. Do trình độ của em có hạn cho nên
không tránh khỏi những thiếu sót mong cô giúp đỡ và chỉ
bảo em thêm. em xin trân thành cảm ơn.

3/1999

24
12.Khả năng lập lại cân bằng trong tiêu thụ thuỷ sản của thé giới TCST số
3/1999
13.Những tồn tại cần sớm khắc phục
TCTS số 6/1999 (Đức Trung)
14.Hàng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam được EC đưa vào danh sách số 1
TCTS số 6/1999Quản lý chất lượng và vẹ sinh thực phẩm thuỷ sản
TCTS số 6/1999 (Quang Tuyến )
15.Tạp chí thông tin kinh tế kỹ thuật Công ty xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam
Số 4/1996
16.Hướng phát triển thị trường XNK thuỷ sản Việt Nam tới 2010
(PTS Phạm Quyên và PTS. Lê Minh Tạn NXBTK- Hà Nội 1997).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status