Những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam tại thị trường EU - Pdf 35

CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG
QUỐC TẾ VÀ CẠNH TRANH TRONG THỊ TRƯỜNG QUỐC
TẾ
1. Khái niệm và vai trò của thị trường quốc tế đối với nền kinh tế Việt
Nam
1.1 Khái niệm và những yếu tố đặc trưng cơ bản của thị trường quốc
tế
Thị trường, tiếng Anh là “Market”, nghĩa là cái chợ. Đây là nơi diễn ra
các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu của con
người. Ngày nay, khi hoạt động trao đổi hàng hóa ngày càng phát triển, khái
niệm thị trường được mở rộng. Hàng hóa sản xuất ra không chỉ được buôn
bán trong nước mà còn được buôn bán với nước khác. Khái niệm thị trường
quốc tế ra đời. Như vậy, xét theo nghĩa rộng thị trường quốc tế là nơi trao đổi
buôn bán hàng hóa không chỉ bó hẹp ở phạm vi một quốc gia mà giữa các
quốc gia với nhau và toàn cầu.
Nội dung bản chất của thị trường là hoạt động trao đổi. Thông qua các
hoạt động trao đổi mà người mua và người bán thoả mãn nhu cầu của chính
mình. Vì vậy, khi nghiên cứu thị trường người ta thường đề cập đến những
yếu tố đặc trưng cơ bản sau:
- Chủ thể của quá trình trao đổi: đó chính là người bán và người mua. Cả
hai chủ thể này đều có mong muốn được thoả mãn lợi ích của mình thông qua
trao đổi.
- Đối tượng của quá trình trao đổi: để có thể tham gia vào quá trình trao
đổi, người bán cần có hàng hoá, dịch vụ, còn người mua cần phải có một
lượng tiền tệ đáp ứng đủ khả năng thanh toán. Như vậy hàng hoá, dịch vụ và
tiền tệ chính là đối tượng của quá trình trao đổi trên thị trường.
- Điều kiện của quá trình trao đổi: quá trình trao đổi là hoạt động tự
nguyện của các chủ thể. Họ có thể tự do chấp nhận hoặc từ chối đề nghị của
phía bên kia. Mặt khác, để có thể trao đổi hàng hoá, giữa người bán và người
1

số lượng bao nhiêu để quyết định quy mô sản xuất hợp lý. Việc sản xuất ít
hơn hay nhiều hơn nhu cầu thị trường đều khiến doanh nghiệp hoạt động
không hiệu quả, thậm chí còn bị thua lỗ, phá sản.
2
Thứ ba, thị trường là nơi cung cấp các yếu tố đầu vào cho doanh nghiệp.
Từ đó, doanh nghiệp phải xác định được bằng cách nào tận dụng được các
yếu tố đó một cách hiệu quả nhất để sản xuất sản phẩm với chi phí thấp nhất.
Do đó, nói thị trường quyết định việc doanh nghiệp sản xuất bằng cách nào.
Với vai trò to lớn như vậy, trong quá trình nền kinh tế toàn cầu hoá ngày
càng diễn ra mạnh mẽ hiện nay, việc doanh nghiệp của một nước phải luôn
tìm kiếm và mở rộng thị trường ở những nước khác hoặc những khu vực khác
là vô cùng cần thiết đối với sự sống còn của doanh nghiệp đó.
2. Cạnh tranh trong thị trường quốc tế.
2.1 Khái niệm
Trên thương trường, nói chung các Công ty đều hoạt động vì mục đích lâu
dài là lợi nhuận. Để đạt được mục đích đó, các Công ty luôn tìm mọi cách
thức, thực hiện mọi biện pháp làm cho mình trở nên có lợi thế hơn các đối thủ
khác về một hay một số mặt hàng, dịch vụ nào đó.
Thuật ngữ khả năng cạnh tranh chỉ khả năng tồn tại và phát triển của các
chủ thể hoạt động trên thị trường nhờ có ưu thế hơn các chủ thể khác về các
đặc trưng, với môi trường kinh doanh mà tính chất và qui mô ngày càng tăng
theo trình độ phát triển. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, sự
phát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế, môi trường cạnh tranh không chỉ
trong phạm vi quốc gia mà mở rộng ra toàn cầu. Trong môi trường đó, các
chủ thể tham gia cạnh tranh có sự góp mặt thêm của các quốc gia khác nhau.
"Cạnh tranh đối với một quốc gia là mức độ mà ở đó dưới các điều kiện
tự do và công bằng, có thể sản xuất được các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng
được các đòi hỏi của thị trường quốc tế, đồng thời duy trì mở rộng được thu
nhập thực tế của nhân dân nước đó "
1

các doanh nghiệp và sản phẩm mà quốc gia đó cung ứng.
2.2 Vai trò của cạnh tranh trên thị trường quốc tế:
Bất kỳ một vấn đề nào cũng có 2 mặt: mặt tích cực và mặt tiêu cực. Theo
qui luật này, cạnh tranh trong thị trường quốc tế cũng đã mang lại những tác
dụng to lớn nhưng cũng không tránh khỏi những hạn chế của nó. Trước hết
cạnh tranh đóng vai trò tích cực thông qua:
- Cạnh tranh thương mại đảm bảo điều chỉnh cung cầu, cạnh tranh phối
hợp tối ưu giữa người sản xuất và người tiêu dùng theo một cách thức dài hạn,
đảm bảo cho hàng hoá và dịch vụ được cung cấp sẽ đáp ứng đủ cho nhu cầu
của thị trường.
- Cạnh trạnh thực hiện chức năng phân phối nguồn lực, làm nguồn lực di
chuyển đến những nơi mà chúng sinh lời nhất, vì những người sở hữu nguồn
lực đó muốn sử dụng chúng để đạt lợi nhuận cao nhất.
- Cạnh tranh làm thoả mãn người tiêu dùng. Trong nền kinh tế thị trường,
chỉ những sản phẩm và dịch vụ người tiêu dùng muốn mới được bán ra và sản
xuất dài hạn. Do đó, các nhà sản xuất phải tìm mọi cách cải tiến chất lượng
4
sản phẩm , thay đổi mẫu mã, bao bì, giảm giá thành cho sản phẩm. Tất cả điều
đó mang lại lợi ích cho khách hàng.
- Cạnh tranh thúc đẩy các tiến bộ kỹ thuật. Một trong những yếu tố quyết
định khả năng cạnh tranh là năng suất. Muốn có được năng suất cao chỉ có thể
nhờ hệ thống, máy móc kỹ thuật. Trong khi, khoa học công nghệ phát triển
như vũ bão với sự ra đời của máy móc mới trong từng phút. Do đó, các nhà
sản xuất phải luôn nỗ lực để có được những máy móc kỹ thuật hiện đại hơn để
tăng năng suất, chất lượng sản phẩm nhằm cạnh tranh không ngừng với
những đối thủ khác.
Tuy nhiên, đã là cạnh tranh thì tất nhiên sẽ có những doanh nghiệp mạnh
lên, qui mô ngày càng mở rộng, có sức ảnh hưởng lớn trên thị trường; ngược
lại, sẽ có những doanh nghiệp nhỏ không đủ sức cạnh tranh dẫn đến phá sản.
Doanh nghiệp lớn mạnh nhất dễ trở thành độc quyền, nghĩa là thao túng thị

nhiều thuận lợi về nguồn lực nhất và quốc gia kia nên sản xuất mặt hàng mà
nó gặp ít bất lợi nhất.
• Hiệu quả của sản xuất (năng suất lao động)
Sự khác biệt về lợi thế so sánh ở một ngành sản xuất nào mới chỉ cho
phép quốc gia có thể có khả năng cạnh tranh cao hơn quốc gia khác trong sản
xuất mặt hàng đó. Nhưng để biến các ưu thế thành hiện thực thì cần phải tổ
chức sản xuất để đưa ưu thế về nguồn lực sản xuất thành ưu thế về hiệu quả
sản xuất, thể hiện bằng năng suất lao động. Năng suất lao động là chỉ số thể
hiện sự tăng trưởng của ngành, của quốc gia, được đo bằng giá trị hàng hoá,
và dịch vụ sản xuất được trên một đơn vị lao động, vốn, nguồn lực vật chất
trong ngành đó, quốc gia đó. Năng suất chính là tiêu chí mà thông qua đó xác
định tính cạnh tranh.
Quy mô sản xuất:
Khả năng cạnh tranh còn được quyết định bởi quy mô sản xuất. Trước
một tổng cầu nhất định, doanh nghiệp phải tổ chức quy mô sản xuất phù hợp.
Quy mô sản xuất qúa lớn, nghĩa là khả năng sản xuất nhiều hơn so với nhu
cầu, sẽ dẫn đến lãng phí và đẩy chi phí sản xuất lên cao, không có lợi cho
cạnh tranh. Ngược lại, nếu quy mô sản xuất qúa nhỏ doanh nghiệp không có
khả năng sản xuất đủ đáp ứng nhu cầu thị trường; lúc đó, doanh nghiệp tự bỏ
lỡ cơ hội ký kết các hợp đồng lớn với công ty nước ngoài.
6
Tổ chức hoạt động thương mại:
Khả năng cạnh tranh còn được tăng cường hơn nữa nhờ tổ chức hoạt động
thương mại. Tổ chức hoạt động thương mại không chỉ dừng ở chỗ kết nối
thông tin về nguồn cung - cầu trên thị trường mà còn thể hiện ở việc liên kết
các nhà cung cấp với nhau để vừa đáp ứng nhu cầu hàng hóa của thị trường,
vừa tạo ra sức mạnh tổng hợp nhằm đánh bại các đối thủ khác. Nhiều khi xảy
ra hiện tượng tranh mua tranh bán, các nhà xuất khẩu mạnh ai nấy xuất, gìm
giá lẫn nhau. Điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp
nói riêng và của các quốc gia nói chung.

đoạn không thể sử dụng máy móc và đặc biệt là tính tập trung của lao động
thấp, do đó sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào lao động, chi phí lao
động chiếm một phần lớn trong giá thành sản phẩm.
Cuối cùng, chính sách của các nước xuất - nhập khẩu có tác động rất lớn
đến khả năng cạnh tranh của hàng nông sản. Các nước xuất khẩu muốn tăng
cường xuất khẩu một mặt hàng nào đó thì sẽ có chính sách tăng cường sản
xuất trong nước, chính sách mở rộng thị trường, chính sách ưu đãi về thuế,…
đối với mặt hàng đó. Các nước nhập khẩu cũng có chính sách ưu đãi về thuế
cho một số nước có hàng nông sản mà họ cần. Nhờ đó mà hàng nông sản của
nước này có lợi thế cạnh tranh hơn so với hàng nông sản của nước khác.
3. Tổng quan về thị trường nông sản thế giới và tình hình cung cấp hàng
nông sản của Việt Nam ra thị trường thế giới
3.1 Đặc điểm của thị trường nông sản thế giới
Thị trường nông sản thế giới luôn diễn biến phức tạp, sự biến động thường
xuyên về các nguồn cung và cầu ảnh hưởng đến giá cả và sản lượng của các
mặt hàng nông sản. Nhìn chung, thị trường nông sản thế giới có 6 đặc điểm
chính sau:
Thứ nhất, khác với sản phẩm của công nghiệp phần sản phẩm nông
nghiệp được đưa ra trao đổi trên thị trường thế giới chiếm tỷ trọng thấp trong
tổng sản lượng sản xuất ra hàng năm. Theo tài liệu của WTO, trong những
năm gần đây, tỷ lệ đó của một số nông sản như sau: lúa gạo: 4%, lúa mì: 20%,
đậu tương: 30%, đường: 30%, cà phê: 75%, ca cao 65%... song không vì nông
sản trao đổi trên thị trường quốc tế chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng lượng sản
xuất ra mà thương mại nông sản giữ vị trí kém phần quan trọng trong lưu
thông quốc tế.
8
Thứ hai, chủ nghĩa bảo hộ và chủ nghĩa tự do là 2 mặt mâu thuẫn của một
vấn đề nhằm hướng tới việc hình thành một thị trường buôn bán nông sản
ngày càng tự do hơn. Một số nước có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất nông
sản, cùng với lợi ích dân tộc của mình luôn theo đuổi chính sách tự do trong

thế giới, trên cơ sở nhận thức được những điểm còn hạn chế của nó, xác định
được chiến lược thâm nhập vào những thị trường phù hợp, những kẽ hở của
thị trường nhằm mục tiêu cuối cùng là tăng uy tín và sức cạnh tranh của hàng
nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới.
3.2 Xu hướng của thị trường nông sản thế giới
Thị trường nông sản thế giới tuy diễn biến bất thường nhưng đi theo một
số xu hướng chính sau:
* Xu hướng chuyển từ chuyên môn hoá sang đa dạng hoá sản xuất và xuất
khẩu nông sản. Điều này xuất phát từ nguyên nhân cơ bản là các quốc gia
muốn giảm bớt hậu quả của các cuộc khủng hoảng kinh tế, mà theo đó là sự
biến động lớn về giá cả. Cụ thể là quốc gia nếu bị thất thu từ nông sản này
còn có nguồn thu từ nông sản khác gánh đỡ. Vì vậy, đa dạng hoá sản xuất và
xuất khẩu nông sản vừa đối phó được với diễn biến bất thường của thị trường,
vừa khai thác hợp lý nguồn lực trong nông nghiệp, làm tăng thu ngoại tệ cho
nước xuất khẩu.
* Nhu cầu nông sản của thế giới đang hướng tới những sản phẩm có chất
lượng tự nhiên. Ví dụ: người ta thích ăn thịt gà được chăn thả tự nhiên hơn là
thịt gà được nuôi theo kiểu công nghiệp, hay các loại rau quả được bón bằng
phân hữu cơ lại được ưa chuộn hơn sản phẩm cùng loại bón bằng phân vô cơ
và dùng nhiều hoá chất khác. Điều này cho phép các nước đang phát triển có
lợi thế so sanh về điều kiện tự nhiên, lao động tận dụng triệt để ưu thế của
mình.
* Giá thực phẩm cơ bản nhìn chung ít biến động hơn các nông sản nâng
cao đời sống. Vì ba lý do: thứ nhất, các quốc gia đặc biệt chú ý đến sự cân đối
vững chắc cung - cầu những nông sản cơ bản ở thị trường nước họ bằng mọi
biện pháp thích hợp, thứ hai, sự ứng dụng thành công cách mạng khoa học kỹ
thuật, cách mạng xanh, cách mạng trắng vào sản xuất nông nghiệp đã góp
phần giải quyết cơ bản vấn đề lương thực cơ bản, cuối cùng hầu hết các quốc
gia đều thực hiện dự trữ đối với những thực phẩm cơ bản nhằm tránh được
cơn sốt về thực phẩm.

lớn, loại gạo 25% tấn giao động tới 30 USD/ tấn. Đây là điều kiện bất lợi cho
các doanh nghiệp kinh doanh xuất - nhập khẩu.
Cà phê:
Tổng sản lượng cà phê niên vụ 2001 / 2002 đạt mức 117,3 triệu tấn, tăng
4,8% so với 112,7 triệu bao đạt được trong niên vụ 2000/2001. Trong đó, sản
11
lượng của khu vực Châu Phi, Châu Á - Thái Bình Dương, Mexico và các
nước Trung Mỹ liên tục giảm, còn sản lượng của các nước Nam Mỹ (trừ
Ecuador) đều tăng, đặc biệt sản lượng Brazin tăng mạnh khiến nguồn cung cà
phê thế giới vẫn tiếp tục dồi dào.
Mức tiêu thụ của các nước nhập khẩu ổn định ở mức 81 triệu bao của niên
vụ trước do tăng trưởng tiêu thụ ở các nước tiêu thụ truyền thống như một số
nước Châu Âu, Nhật Bản… yếu đi, nhưng bù lại Trung Quốc lại nổi lên như
là một nước tiêu thụ cà phê đầy tiềm năng.
Sau vài năm liên tiếp giảm, giá cà phê thế giới niên vụ 2001/2002 đã phục
hồi nhờ những cố gắng của ngành cà phê toàn cầu trong việc giải quyết cuộc
khủng hoảng của thị trường cà phê những năm qua. Giá cà phê Robusra và
Arabica tăng lần lượt là 27%, và 13,2% so với cuối niên vụ 2000/2001.
Cao su:
Các nước xuất khẩu chính là Thái Lan, Inđonêxia, Việt Nam, Malayxia,
Libêria với tổng sản lượng năm 2002 là 4,5 triệu tấn, và các nước nhập khẩu
lớn nhất là Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp, Đức.
Nếu như năm 2001 là năm u ám nhất trong lịch sử ngành cao su thế giới
thì tình hình năm 2002 đã sáng sủa hơn do 3 nước có lượng xuấ khẩu cao su
lớn nhất thế giới là Thái Lan, Inđonêxia, Malayxia đã quyết định giảm 4% sản
lượng sản xuất cao su ở mỗi nước và 10% lượng xuất khẩu nhằm đẩy giá cao
su tăng lên.
Theo tổ chức nghiên cứu cao su quốc tế (IRSG), nhu cầu cao su toàn cầu
năm 2002 đạt mức 18,4 triệu tấn, tăng khoảng 5,3% so với năm trước, trong
đó, nhu cầu của Bắc Mỹ tăng tới 10,6%, của EU tăng hơn 4% , các nước Châu

Thị phần (%) 17 % 13% 5% 3%
Mức giá so với giá TB Thấp hơn 55% Thấp hơn 20% Thấp hơn Thấp hơn
CPSX so với đối thủ cạnh
tranh chính
50% - 60 - 70% -
Nguồn: Đánh giá sơ bộ tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam - Dự án VIE98/021 Cục xúc tiến thương
mại - Bộ thương mại
Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn năm 1999 thì
trong số 5 mặt hàng nông sản chủ lực có 3 mặt hàng là gạo, cà phê, điều là có
13
khả năng cạnh tranh cao. Cao su, chè có khả năng cạnh tranh ở mức trung
bình, cụ thể:
a. Mặt hàng gạo: Cho đến năm 2002, Việt Nam xuất khẩu vào 80 thị
trường chủ yếu, trong đó: khu vực Trung Đông chiếm 30% ( năm 2001 chiếm
14%), khu vực Châu Phi chiếm 10% (năm 2001 chiếm 25 %), các khu vực
còn lại chiếm tỷ trọng tương đối ổn định so với năm 2001; với lượng xuất
khẩu đạt khoảng 3,4 triệu tấn, trị giá 726 triệu USD giảm khoảng 13% về
lượng nhưng lại tăng 16% về giá trị. Chất lượng hàng xuất khẩu đã được nâng
lên, vì vậy những tháng cuối năm giá suất của ta tương đương với Thái Lan.
Gạo chất lượng cao chiếm khoảng 7%, loại chất lượng trung bình chiếm
khoảng 85% loại chất lượng thấp và các loại khác chiếm khoảng 8%.
b. Mặt hàng cà phê: Năm 2002 Việt Nam xuất khẩu 710 ngàn tấn, ước
đạt 315 triệu USD, bằng 76,3% về lượng và 86,3% về trị giá vào 35 thị
trường chủ yếu, trong đó có 12 thị trường có tỷ trọng lớn nhất (Có tỷ trọng từ
3,3 - 15%): Đức, Hoa Kỳ, Bỉ, Tây ban Nha, Nhật Bản, Anh, Thụy Sỹ, Pháp,
Hà Lan, Italia, Philippin, Ba Lan. Giá xuất khẩu không ổn định, bình quân 10
tháng đầu năm đạt 414,5 USD/tấn, các tháng cuối năm giá đạt khoảng 560 -
600 USD/tấn, tăng khoảng 80 - 100 USD/ tấn. Khối lượng xuất khẩu tăng
chậm. Về chất lượng, lượng xuất khẩu cà phê hoà tan và cà phê rang xay của
Việt Nam còn nhỏ bé so với tiềm năng, kim ngạch xuất khẩu 2 loại này mới

giá hạt tiêu xuất khẩu giảm còn 1.319 USD/ tấn so với mức 1.596 USD/ tấn
năm 2001. Đặc biệt, 70% khối lượng xuất khẩu phải qua nước thứ 3.
f. Mặt hàng nhân điều: Năm 2002, cả nước xuất khẩu khoảng 63 ngàn
tấn nhân điều, đạt kim ngạch khoảng 212 triệu USD với giá bình quân cả năm
là 3.275 USD/ tấn. Nhu cầu nhập khẩu hạt điều từ Việt Nam của 25 thị trường
tăng rất mạnh, trong đó có Nga, Ba Lan, Thái Lan, Tây Ban Nha, Indonêxia,
Pháp, Newzealand, Trung Quốc, Hoa Kỳ, …
g. Mặt hàng rau quả: Năm 2002 đạt khoảng 200 tr USD, vào 36 thị
trường chủ yếu, trong đó có 6 thị trường có tỉ trọng lớn nhất là Trung Quốc,
Đài Loan, Nhật Bản, Nga, Hàn Quốc, Hoa Kỳ. Khối lượng xuất khẩu giảm
20% chủ yếu do sản lượng trong nước giảm vì hạn hán nặng. Đồng thời, giá
xuất khẩu cũng giảm 15%.
Như vậy, hàng nông sản Việt Nam đã có mặt tại hầu hết các khu vực
trên thế giới, thậm chí thâm nhập vào các thị trường khó tính như Hoa Kỳ,
Nhật Bản, EU. Tại thị trường EU, các mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt
Nam đã có mặt, chủ yếu ở Anh, Pháp, Đức; Tuy nhiên còn gặp rất nhiều khó
15
khăn như chính sách của EU đối với hàng nông sản Việt Nam, cạnh tranh gay
gắt với các nước khác, cũng như việc sản xuất, chế biến chưa đáp ứng được
yêu cầu của thị trường này.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA HÀNG
NÔNG SẢN XUẤT KHẨU VIỆT NAM TẠI THỊ TRƯỜNG
EU
1. Khái quát thị trường nông sản EU và tiềm năng của thị trường EU đối
với hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam
1.1 Khái quát thị trường nông sản EU
1.1.1 Đặc điểm thị trường nông sản EU
Trước năm 1995, thị trường xuất khẩu nông sản của Việt Nam chủ yếu là
Liên Xô, các nước Đông Âu cũ, .. Tuy nhiên, sau khi các thị trường này sụp

liệt giữa hàng nông sản từ cường quốc kinh tế (Mỹ), từ các nước công nghiệp
phát triển (Singapore, Thái Lan,...) cho tới các nước ở khu vực Châu Mỹ La
Tinh, các nước khu vực Caribê. Đặc biệt, hàng nông sản xuất khẩu của Trung
Quốc - 1 nước thành viên WTO đã được hưởng nhiều ưu đãi khi thâm nhập
vào EU cũng trở nên rất đáng gờm. Cạnh tranh tại thị trường này trong những
năm tới sẽ gay gắt hơn, một phần lớn xuất phát từ việc tự do hoá về thương
mại và đầu tư trên thế giới cũng như những cải cách về chính sách và cơ chế
quản lýý xuất nhập khẩu của EU đang có xu hướng ngày càng được nới lỏng.
Thứ tư, kênh phân phối của EU rất phức tạp. Một số mặt hàng nông sản
của Việt Nam rất được ưa chuộng như hạt điều, rau quả đóng hộp,… cho đến
nay vẫn chưa tiếp cận được trực tiếp với kênh phân phối này. Nhiều khi, hàng
17
nông sản Việt Nam thâm nhập vào thị trường EU theo một nhánh của kênh
phân phối. Việc này hạn chế khả năng đẩy mạnh xuất khẩu và nâng cao giá
bán của các Doanh nghiệp Việt Nam.
Tóm lại, thị trường nông sản EU là nơi hội tụ rất nhiều nguồn cung cũng
như nguồn cầu đa dạng, phong phú nên xảy ra một sự cạnh tranh rất gay gắt.
Một mặt, EU thực hiện việc nới lỏng quản lýý xuất nhập khẩu hàng nông sản
theo tinh thần tự do hoá, toàn cầu hoá nền KT. Nhưng mặt khác, để đảm bảo
nền nông nghiệp nội khối phát triển vững chắc, EU vẫn thực hiện chính sách
bảo hộ nông nghiệp ngày càng chặt chẽ.
1.1.2 Chính sách bảo hộ nông nghiệp của EU:
Chính sách bảo hộ nông nghiệp của EU được thực hiện thông qua nhiều
biện pháp như: Thuế quan, các biện pháp hạn chế định lượng, các biện pháp
quản lýý giá, hàng rào kỹ thuật, hỗ trợ trong nước trong nông nghiệp và trợ
cấp xuất khẩu nông sản, các biện pháp phòng vệ thương mại tạm thời,... Dưới
đây là một số biện pháp điển hình bảo hộ sản phẩm hàng nông sản của EU.
* Thuế quan .
Các nước EU thực hiện chính sách nông nghiệp chung (Common
Agriculture Poliey). Chính sách này đưa ra nhằm đảm bảo tất cả các sản phẩm

(%)
Tối thiểu
(%)
Tối đa
(%)
Mức chênh
lệch chuẩn
(%)
0910 Cà phê 6.602,7 7,3 0,8 12,6 4,7
1201 Đậu Nành 4.098,9 0,0 0,0 0,0 0,0
2304 Bánh dầu 2.843,9 0,0 0,0 0,0 0,0
0803 Chuối 2.045,0 54,6 16,7 130,4 65,6
1801 Đậu Coca 1.851,
6
0,5 0,5 0,5 0,
2401 Thuốc lá 1.827,5 9,8 3,3 35,6 7,1
2204 Rượu 1.486,1 8,2 0,0 42,5 8,8
2009 Nước rau quả 1.456,6 28,0 12,5 108,3 18,4
0802 Hạt 1.425,6 2,7 0,0 5,8 2,2
1511 Dầu cọ 1.128,0 7,7 0,7 14,0 5,0
Nguồn: Rà soát chính sách thương mại EU, 2000
Tuy nhiên, thuế nhập khẩu trong các cơ quan ưu đãi mà EU tham gia cũng
rất khác nhau. Bảng dưới dây cho chúng ta các mức thuế trung bình đối với
nông sản mà EU áp dụng trong các thoả thuận thương mại ưu đãi.
Bảng 4: Các mức thuế áp dụng trung bình của EU, năm 1999 (%).
Mức thuế
MFN ràng
Mức thuế
MFN áp
Lomé

- Hạn ngạch - hạn ngạch thuế quan: EU đang áp dụng hạn ngạch đối với
mặt hàng cà phê.
- Hàng rào kỹ thuật: mặc dù EC được trao quyền điều phối, đàm phán và
tổ chức thực hiện chính sách thương mại, giữa các quốc gia thnàh viên EU
vẫn còn có khác biệt lớn về tiêu chuẩn, kiểm tra và thủ tục cấp chứng nhận
đối với một số sản phẩm. Những khác biệt này có thể đóng vai trò như những
rào cản đối với việc vận chuyển tự do các sản phẩm này trong EU và gây nên
chậm chễ kéo dài trong việc bán hàng do yêu cầu kiểm tra và chứng nhận sản
phẩm theo các đòi hỏi khác nhau về sức khoẻ và an toàn của các quốc gia
thành viên.
- Các biện pháp tự vệ: Cơ chế tự vệ đặc biệt cho các sản phẩm nông
nghiệp qui định trong Hiệp định Nông nghiệp của WTO. Cơ chế này cho
20
phép EU áp dụng thuế bổ sung đối với sản phẩm nhập khẩu nếu như giá của
sản phẩm thấp hơn mức giá "lẫy" hoặc số lượng nhập khẩu tăng vượt quá mức
"lẫy".
1.1.3 Tình hình cung - cầu nông sản tại thị trường EU
Tình hình cung.
Về một số hàng nông sản là ngũ cốc, EU có khả năng tự cung một phần
lớn và có xu hướng giành nhiều ngân sách hơn nữa để mở rộng ngành trồng
trọt này. 40% đất nông nghiệp tại EU được sử dụng để trồng lúa mạch, lúa mì,
ngô, cây cải dầu,… và hầu như những loại cây này được trồng ở mọi quốc gia
thành viên EU. Giá của các sản phẩm từ ngũ cốc tại thị trường EU thường cao
hơn giá trên thế giới. Các nhà sản xuất được trợ cấp nhằm làm giảm sự chênh
lệch giữa 2 mức giá trên. Mỗi năm, mức trợ cấp dầu hạn chế cả về khối lượng
và giá trị. Do vậy, những sản phẩm này có thể thu được lợi nhuận từ nhiều cơ
hội khác nhau trên thị trường thế giới vốn được cho là có dung lượng trao đổi
tăng đáng kể trong thời gian trung hạn.
Hiện nay, hầu như tất cả các khu vực trên thế giới đều có hàng nông sản
xuất khẩu vào EU. Đối với khu vực Châu Á, ngoài Mỹ, Trung Quốc, Hàn

1,66 3,2 1,8 4,04 1,61 5,53 3,86
Nguồn: Commodity market review 2000 - 2001, 2001 - 2002
Cụ thể, nhu cầu của thị trường EU về một số mặt hàng nông sản được thể
hiện rõ nhất qua số liệu nhập khẩu các mặt hàng này trong những năm gần
đây:
Bảng 6: Nhập khẩu một số mặt hàng nông sản EU trong những năm gần
đây.
Mặt hàng 2000 2001 2002
Gạo (nghìn tấn) 700 850 850
Cà phê (nghìn tấn) 2.400 2580 2700
Chè (nghìn tấn) >213 212 230
Cao su (nghìn tấn) 538 540 550
Nguồn: Cục diện kinh tế thế giới 2002 - Bộ Thương Mại.
1.2. Tiềm năng của thị trường EU đối với hàng nông sản xuất khẩu của
Việt Nam.
EU là thị trường xuất khẩu tiềm năng của Việt Nam. Điều này thể hiện ở
chỗ EU là một trong những thị trường tiêu thụ lớn trên thế giới, có nhu cầu đa
dạng và phong phú về hàng nông sản và nhu cầu nhập khẩu của EU đối với
mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam rất lớn.
22
Trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu
sang thị trường EU liên tục tăng từ năm 1991 cho tới nay. Năm 1991, kim
ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU từ 119,4 triệu USD (chiếm 5,7% tổng
kim ngạch xuất khẩu Việt Nam) đã tăng lên trên 3 tỉ USD (chiếm 25% tổng
kim ngạch xuất khẩu Việt Nam). Trong đó kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng
nông sản chủ yếu của Việt Nam sang EU chiếm 15% tổng kim ngạch xuất
khẩu sang EU. Sự tăng lên về giá trị tuyệt đối (tăng giá trị USD) và giá trị
tương đối (tăng tỷ trọng của kim ngạch xuất khẩu sang EU trong tổng kim
ngạch xuất khẩu của Việt Nam) đã khẳng định rằng thị trường EU có nhu cầu
nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam nói chung và hàng nông sản của Việt Nam

Qua 3 điểm phân tích ở trên, EU thực sự là thị trường tiềm năng đối với
hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam mặc dầu Việt Nam xác định rõ, tại thị
trường này, Việt Nam sẽ phải đối mặt với rất nhiều đối thủ mạnh khác.
2 Một số đối thủ cạnh tranh của Việt Nam về hàng nông sản tại thị
trường EU.
Năm 1999, xuất khẩu gạo sang EU chiếm 6% tổng sản lượng xuất khẩu
gạo của Việt Nam, rau quả 7,7%, hạt điều 8,6%. Tương tự, đối với chè là
11%, cà phê là 35%, cao su là 15%. Hiện nay, các tỷ lệ này đã tăng lên, nghĩa
là, Việt Nam xuất khẩu vào EU những mặt hàng trên với khối lượng và giá trị
ngày càng tăng. Tuy nhiên, hàng nông sản Việt Nam tại EU vẫn chiếm 1 thị
phần khiêm tốn và Việt Nam phải cạnh tranh với nhiều đối thủ khác để tăng
thị phần hoặc ít nhất là giữ nguyên được thị phần như vậy. Điển hình, Việt
Nam phải cạnh tranh với các nước ASEAN về mặt hàng gạo, cao su, hạt điều;
cạnh tranh với Mỹ về mặt hàng gạo; cạnh tranh với các nước Châu Mỹ La
Tinh về mặt hàng cà phê, rau quả,...
2.1 ASEAN.
Cạnh tranh về gạo, rau quả xuất khẩu với Thái Lan tại thị trường EU.
Hàng năm, Thái Lan xuất khẩu trung bình 7 triệu tấn gạo ra thị trường thế
giới (gấp đôi sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam). Tại EU, Thái Lan cũng
là nước chiếm thị phần gạo xuất khẩu lớn nhất. Giữa gạo Việt Nam và Thái
Lan luôn diễn ra sự cạnh tranh gay gắt về chủng loại, chất lượng và giá cả.
Thái Lan có lợi thế hơn Việt Nam ở chỗ: Thái Lan có khối lượng gạo xuất
khẩu lớn, có uy tín, được nhiều khách hàng ưa chuộng. Hơn nữa, gạo Thái
Lan đồng đều và có phẩm cấp, chất lượng cao, phù hợp với thị trường đòi hỏi
gạo chất lượng cao như EU. Tuy nhiên, theo ý kiến của nhiều chuyên gia,
Việt Nam có lợi thế hơn Thái Lan trong sản xuất xuất khẩu gạo.
Bảng 7: Một số chỉ tiêu so sánh về sản xuất lúa.
24
Chỉ tiêu Thái Lan Việt Nam
% so sánh (Việt

1600 VND tương đương 90 - 115 USD/tấn
2
.
2
Nguyễn Tiến Mạnh - Phát huy lợi thế, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản xuất khẩu Việt
Nam - NXB Nông nghiệp 1999.
25

Trích đoạn Nguyễn Tiến Mạnh Phát huy lợi thế, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản xuất khẩu Việt Nam NXB Nông nghiệp 1999. Hồ Sơ xuất khẩu h ng nông sà ản Việt Nam Bộ Thương Mại. Vụ Tổng hợp kinh tế Bộ Ngoại Giao. Giải pháp về thị trường Kiến nghị với Nhà nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status