Luận văn
Hoàn thiện hệ thống xếp
hạng tín dụng nội bộ để góp
phần nâng cao hiệu quả quản
trị rủi ro tín dụng
1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG THÔNG QUA HỆ THỐNG XẾP
HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ
1.1 Các họat động của ngân hàng thương mại Trang 1
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại 1
1.1.2 Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại 1
1.1.2.1 Nghiệp vụ nguồn vốn 2
1.1.2.2 Nghiệp vụ tín dụng và đầu tư 3
1.1.2.3 Các hoạt động dịch vụ của ngân hàng 6
1.2 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng 7
1.2.1 Định nghĩa và đo lường rủi ro 7
1.2.2 Các loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng 9
1.2.2.1 Rủi ro thanh khỏan 9
1.2.2.2 Rủi ro lãi suất 10
1.2.2.3 Rủi ro tỷ giá 10
1.2.2.4 Rủi ro tín dụng 10
1.3 Quản trị rủi ro tín dụng thông qua hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ . 12
2.4.1 Thực trạng hệ thống xếp loại khách hàng của BIDV 35
2.4.2 Nhận xét về hệ thống xếp loại khách hàng của BIDV 41
2.4.2.1 Những kết quả đạt được 41
2.4.2.2 Những tồn tại của hệ thống xếp loại khách hàng 42
2.4.2.3 Nguyên nhân tồn tại của hệ thống xếp loại khách hàng 45
CHƯƠNG 3 - HOÀN THIỆN HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ
ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI BIDV
3.1 Ả
nh hưởng của xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đến hoạt động của các
ngân hàng thương mại Việt Nam 50
3.1.1 N
hững cơ hội đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam 50
3.1.2 N
hững khó khăn thách thức đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam 51
3.2 Định hướng chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng đến 2006-2010 53
Quan điểm có tính nguyên tắc về phát triển dịch vụ ngân hàng 53
Mục tiêu phát triển dịch vụ ngân hàng 54
2
3
3.3 Định hướng phát triển của BIDV giai đoạn 2006 -2010 56
3.3.Phương châm kinh doanh của BIDV 56
3.3.1.Các chỉ tiêu cơ bản đến 2010 của BIDV 57
Các mục tiêu tín dụng cụ thể trong giai đoạn 2006-2010 57
Định hướng đối với hoạt động quản trị rủi ro 58
3.4 Các đề xuất nhằm hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để nâng
cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV 59
3.4.1 Các đề xuất nhằm nâng cao năng lực quản trị rủi ro đối với NHTM 59
3.4.2 Các đề xuất nhằm hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của BIDV để
cho ngân hàng thì lĩnh vực tín dụng cũng là lĩnh vực có rủi ro lớn nhất. Hậu quả của
rủi ro tín dụng đối với ngân hàng thường rất năng nề: tăng thêm chi phí của ngân
hàng, giảm thu nhập, làm xấu đi tình hình tài chính và uy tín của ngân hàng
Rủi ro trong hoạt động tín dụng là không thể tránh khỏi, nó tồn tại khách
quan cùng với sự tồn tài của hoạt động tín dụng và xẩy ra do các nguyên nhân chủ
quan cũng như khách quan. Vì vậy, mỗi ngân hàng cần phải xây dựng cho mình một
chính sách quản trị rủi ro tín dụng, nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận tương ứng với
mức rủi ro chấp nhận được.
Trong những năm qua, hoạt động tín dụng của BIDV đạt được những thành
tựu không nhỏ đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước. BIDV đã
quan tâm hơn tới việc kiểm soát tỷ lệ tăng trưởng tín dụng, tập trung vào hiệu quả
của các hoạt động tín dụng. Quy trình tín dụng được thực hiện gần hơn với chuẩn
mực quốc tế. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu trong tổng dư nợ của các BIDV
vẫn còn ở mức cao hơn so với nhiều Ngân hàng các nước trong khu vực và trên thế
giới. Hệ thống thông tin tín dụng của BIDV vẫn còn yếu, thông tin về khác hàng
vay vốn không được lưu trữ đầy đủ, kịp thời và liên tục. Việc phân tích, đánh giá rủi
ro khách hàng còn nhiều bất cập, chưa hỗ trợ hiệu quả cho việc ra quyết định cho
vay và thu hồi nợ. Nguyên nhân của tình trạng này là do công tác quản trị rủi ro tín
dụng chưa được thực hiện tốt; Rủi ro tín dụng chưa được xác định, đo lường, đánh
giá và kiểm soát một cách chặt chẽ, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và yêu cầu
hội nhập.
Để đảm bảo tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả và bền vững, gần đây,
BIDV đã xây dựng và áp dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bô, cụ thể là hệ
thống xếp hạng khách hàng vay vốn. Tuy nhiên, hệ thống xếp hạng này vẫn còn
4
5
nhiều khiếm khuyết cần phải được bổ sung chỉnh sửa để có thệ ứng được yêu cầu
quản trị rủi ro tín dụng trong điều kiện hiện nay cũng như trong tương lai. Vì vậy,
3. Ý nghĩa nghiên cứu.
Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu và công trình khoa học đã được công bố
có liên quan đến hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, luận văn đã có những đóng góp
sau:
- Tổng hợp và trình bày một cách có hệ thống các vấn đề lý luận về hoạt
động tín dụng ngân hàng và quản trị rủi ro tín dụng thông qua hệ thống xếp hạng tín
dụng nội bộ.
- Qua phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh của BIDV, luận
văn chỉ ra những hạn chế, tồn tại trong hoạt động tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng
tại BIDV.
- Luận văn đã phân tích, đánh giá được những thành quả và những hạn chế,
tồn tại của hệ thống xếp hạng khách hàng mà BIDV đang áp dụng, từ đó đề xuất
được một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ
của BIDV.
4. Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của luận văn bao gồm các vấn đề chính sau đây:
Chương I Tổng quan về hoạt động tín dụng ngân hàng và quản trị rủi ro tín
dụng thông qua hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ.
Chương II Thực trạng hoạt động tín dụng và và hệ thống xếp hạng tín dụng
nội bộ của BIDV
Chương III Giải pháp hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng tại BIDV nhằm
nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng 6
7
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG THÔNG QUA HỆ
1.2.2.1 Nghiệp vụ nguồn vốn:
Là nghiệp vụ hình thành nên các nguồn vốn hoạt động của ngân hàng. Thành
phần nguồn vốn của ngân hàng bao gồm: vốn điều lệ, các quỹ dự trữ, vốn huy động,
vốn tiếp nhận, và vốn khác.
+ Vốn điều lệ và các quỹ:
- Vốn điều lệ: là nguồn vốn ban đầu khi ngân hàng mới bắt đầu đi vào họat
động và được ghi vào điều lệ hoạt động của ngân hàng, Vốn điều lệ phải đạt được
mức tối thiểu theo quy định của pháp luật (ở các nước cũng như ở Việt Nam đều có
quy định mức vốn pháp định cho mỗi loại hình ngân hàng). Vốn điều lệ được Ngân
sách nhà nước cấp phát nếu là ngân hàng công, do các cổ đông đóng góp theo cổ
phần nếu là ngân hàng cổ phần. Vốn điều lệ có thể được thay đổi theo xu hướng
tăng lên nhờ được cấp bổ sung, hoặc phát hành cổ phiếu bổ sung, hoặc được kết
chuyển từ quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ theo quy định của pháp luật mỗi nước.
Vốn điều lệ trước hết được sử dụng để xây dựng, mua sắm tài sản cố định, các
phương tiện làm việc và quản lý, tức là tạo ra cơ sở vật chất ban đầu cho hoạt động
của ngân hàng. Ngoài ra các ngân hàng thường mại còn được phép sử dụng vốn
điều lệ để hùn vốn, liên doanh, cấp vốn cho các công ty trực thuộc và thực hiện các
hoạt động kinh doanh khác.
- Các quỹ của ngân hàng: được hình thành khi ngân hàng đã đi vào hoạt
động, bao gồm các quỹ trích từ lãi ròng hàng năm của ngân hàng như: quỹ dự trữ bổ
sung vốn điều lệ, các quỹ dự phòng (tài chính, trợ cấp mất việc làm ), quỹ đầu tư
phát triển, các quỹ khác (khen thưởng, phúc lợi…) Ngoài ra , còn có các quỹ được
hình thành bằng cách trích và tính vào chi phí hoạt động của ngân hàng như: quỹ
khấu hao cơ bản, sửa chữa tài sản, dự phòng để xử lý rủi ro
8
9
10
1.2.2.2 Nghiệp vụ tín dụng và đầu tư
Nghiệp vụ tín dụng và đầu tư là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất,
quyết định khả năng tồn tại và hoạt động của ngân hàng thương mại. Đây là các
nghiệp vụ cấu thành bộ phận chủ yếu và quan trọng của tài sản có của ngân hàng.
Thành phần tài sản có của ngân hàng bao gồm:
+ Dự trữ
Các ngân hàng thương mại không sử dụng tòan bộ nguồn vốn cho hoạt động
kinh doanh, mà phải dành một phần dự trữ thích hợp nhằm đáp ứng những yêu cầu
sau:
- Thực hiện dự trữ bắt buộc theo quy định của ngân hàng nhà nước.
- Thực hiện các lệnh rút tiền mặt và thanh toán chuyển khoản của khách
hàng.
- Chi trả các khoản tiền gửi đến hạn, chi trả lãi.
- Đáp ứng nhu cầu vay vốn hợp lý trong ngày của khách hàng.
- Thực hiện các khỏan chi tiêu hàng ngày tại ngân hàng.
Dự trữ của ngân hàng có thể tồn tại dưới nhiều hình thức: tiền mặt, tiền gửi
tại ngân hàng khác và các chứng khoán có tính thanh khoản cao.
+ Cấp tín dụng (credit)
Số nguồn vốn còn lại sau khi dành một phần để dự trữ, các NHTM có thể
dùng cấp tín dụng cho các thể nhân và pháp nhân bao gồm:
- Cho vay (trực tiếp): Loans
Là loại hình tín dụng của NHTM trong đó ngân hàng sẽ cấp cho người đi vay
một số vốn để sản xuất kinh doanh, đầu tư hoặc tiêu dùng. Đến hạn người đi vay
phải hoàn trả vốn và tiền lãi. Khi cho vay ngân hàng kiểm soát được người đi vay,
kiểm soát được quá trình sử dụng vốn. Người đi vay có ý thức quan tâm đến việc trả
nợ nên bắt buộc họ phải quan tâm đến việc sử dụng vốn làm sao cho có hiệu quả để
hợp đồng …
- Các hình thức khác, Ngoài các loại hình cấp tín dụng kể trên ngân hàng còn
có nhiều loại hình cấp tín dụng khác như: tài khoản thấu chi, thẻ tín dụng …
Sự chuyển hóa từ vốn tiền gửi thành vốn tín dụng để bổ sung cho các nhu
cầu sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế không những có ý nghĩa đối với toàn bộ
hoạt động kinh tế xã hội, mà cả đối với bản thân ngân hàng thương mại bởi vì nhờ
11
12
cho vay mà tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng để từ đó bồi hoàn lại tiền
gửi cho khách hàng, bù đắp các chi phí kinh doanh và tạo ra lợi nhuận cho ngân
hàng. Tuy nhiên hoạt động cho vay là hoạt động mang tính rủi ro lớn. Vì vậy, cần
phải quản lý các khoản vay một các chặt chẽ thì mới có thể ngăn ngừa hoặc giảm
thiểu rủi ro.
+ Đầu tư (investment)
Nghiệp vụ đầu tư có vị trí quan trọng thứ hai sau nghiệp vụ cho vay, nó
mang lại khoản thu nhập lớn và đáng kể của ngân hàng thương mại.
Trong nghiệp vụ này, ngân hàng sẽ dùng nguồn vốn của mình và các nguồn
vốn ổn định khác để đầu tư dưới các hình thức như:
- Hùn vốn, mua cổ phần, cổ phiếu của các công ty xí nghiệp. Việc hùn vốn,
mua cổ phần chỉ được phép thực hiện bằng nguồn vốn của ngân hàng
- Mua trái phiếu chính phủ, chính quyền địa phương, mua trái phiếu công ty.
Tất cả mọi hoạt động đầu tư vào chứng khoán đều nhằm mục đích mang lại
thu nhập. Đồng thời nhờ có hoạt động đầu tư đa dạng mà các rủi ro trong hoạt động
ngân hàng sẽ được phân tán, trong đó đầu tư vào trái phiếu chính phủ có mức độ rủi
ro rất thấp. Vì vậy, các ngân hàng thương mại có xu hướng sử sụng nguồn vốn ngày
càng tăng cho việc đầu tư vào trái phiếu chính phủ.
1.2.2.3 Các hoạt động dịch vụ của ngân hàng
Dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển vừa cho phép hỗ trợ đáng kể cho
rủi ro. Còn tình trạng không chắc chắn nào chưa từng xảy ra và không thể ước đoán
được xác xuất chỉ được xem như là sự bất trắc chứ không phải là rủi ro. Tuy nhiên,
định nghĩa trên chỉ có giúp chúng ta phân biệt được rủi ro với sự bất trắc nhưng
không cho phép đo lường được rủi ro.
Để có thể đo lường được, rủi ro được định nghĩa như là sự khác biệt giữa giá
trị thực tế và giá trị kỳ vọng. Giá trị kỳ vọng chính là giá trị trung bình có trọng số
của một biến nào đó với trọng số chính là xác suất xảy ra giá trị của biến đó. Sự
khác biệt giữa giá trị thực tế so với giá trị kỳ vọng được đo lường bởi độ lệch chuẩn.
Do vậy, độ lệch chuẩn hay phương sai, bình phương của độ lệch chuẩn, chính là
thước đo của rủi ro. Nói đến rủi ro tức là nói đến quan hệ giữa giá trị một biến nào
đó so với kỳ vọng của nó. Ví dụ dưới đây chúng ta sẽ xét mối quan hệ giữa lợi
nhuận và rủi ro.
13
14
Lợi nhuận (return) là khoản thu nhập có được từ hoạt động đầu tư, để đo
lường mức độ hiệu quả của hoạt động đầu tư, người ta thường sử dụng chỉ tiêu tỷ
suất lợi nhuận, được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm giữa thu nhập và giá trị khỏan
đầu tư bỏ ra. Ví dụ bạn bỏ ra 100$ để mua một cổ phiếu, được hưởng cổ tức là 7$
một năm và sau một năm giá thị trường của cổ phiếu đó là 106$. Tỷ suất lợi nhuận
bạn có được từ hoạt động đầu tư cổ phiếu này là (7+6)/100 = 13%. Lợi nhuận bạn
có được từ hai nguồn: (1) cổ tức được hưởng từ cổ phiếu, (2) lãi vốn – tức là lợi tức
có được do chứng khoán tăng giá. Tổng quát:
R= {D
1
+ (P
1
– P
t-1
14
15
nhuận kỳ vọng, ký hiệu là E(R) được xác định theo công thức như sau: E(R)
=
∑
=
n
i
RiPi
1
))((
,
trong đó R
i
là tỷ suất lợi nhuận ứng với biến cố i, P
i
là xác suất xẩy ra
biến cố i và n là số biến cố có thể xẩy ra. Như vậy lợi nhuận kỳ vòng chẳng qua là
trung bình gia quyền của các lợi nhuận có thể xẩy ra với trọng số chính là xác suất
xẩy ra.
Để đo lường độ phân tán hay sai biệt giữa lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận
kỳ vọng , người ta dùng độ lệch chuẩn (σ). Độ lệch chuẩn chính là căn bậc hai của
phương sai:
∑
=
−=
n
i
Tình trạng thiếu hụt thanh khoản ở mức độ lớn là một trong những nguyên
nhân đưa đến phá sản một ngân hàng.
1.3.2.2 Rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất là lọai rủi ro do sự biến động của lãi suất. Loại rủi ro này phát
sinh trong quá trình quan hệ tín dụng của tổ chức tín dụng. Theo đó tổ chức tín dụng
có những khoản đi vay hoặc cho vay theo lãi suất thả nổi. Nếu ngân hàng đi vay
theo lãi suất thả nổi, khi lãi suất thị trường tăng khiến chi phí trả lãi của ngân hàng
tăng theo. Ngược lại, nếu ngân hàng cho vay theo lãi suất thả nổi, khi lãi suất thị
trường xuống thấp khiến thu nhập lãi cho vay của ngân hàng giảm. Rủi ro lãi suất
đặc biệt quan trọng khi ngân hàng huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu,
hoặc đầu tư tài chính khá lớn và theo lãi suất thị trường.
1.3.2.3 Rủi ro tỷ giá
Rủi ro tỷ giá là rủi ro phát sinh do sự biến động tỷ giá làm ảnh hưởng đến giá
trị kỳ vọng trong tương lai. Rủi ro tỷ giá có thể phát sinh trong nhiều hoạt động
khác nhau của ngân hàng. Nhưng nhìn chung bất cứ hoạt động nào mà ngân lưu thu
(inflows) phát sinh bằng một đồng tiền trong khi ngân lưu chi (outflows) phát sinh
bằng một đồng tiền khác đều chứa đựng nguy cơ rủi ro tỷ giá.
1.3.2.4 Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng (credit risk) là lọai rủi ro phát sinh do khách hàng không còn
khả năng chi trả. Trong hoạt động của các công ty, rủi ro tín dụng phát sinh khi
công ty bán chịu hàng hóa và khách hàng mua chịu không có khả năng trả nợ.
Trong hoạt động ngân hàng, rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng mất khả năng trả
nợ một khoản vay nào đó. Trong hoạt động tín dụng, khi ngân hàng thực hiện
nghiệp vụ cho vay thì đó mới chỉ là một giao dịch chưa hoàn thành. Giao dịch tín
dụng chỉ được xem là hoàn thành khi nào ngân hàng thu hồi về được khoản cho vay
cả gốc và lãi. Thế nhưng, khi thực hiện giao dịch tín dụng thì ngân hàng không biết
16
17
18
vậy, việc tìm ra biện pháp quản trị rủi ro tín dụng phù hợp có ý nghĩa sống còn đối
với một ngân hàng.
1.4 Quản trị rủi ro tín dụng thông qua hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ
Quản trị rủi ro là việc nhận diện, đánh giá, đo lường và đề ra các biện pháp
quản lý nhằm hạn chế sự xuất hiện của rủi ro và những thiệt hại khi chúng phát
sinh, đồng thời xác định tương quan hợp lý giữa vốn tự có của ngân hàng với mức
độ mạo hiểm có thể trong sử dụng vốn của ngân hàng
Trong thời gian dài, các ngân hàng thực hiện quản trị rủi ro tín dụng dựa vào
phân tích tín dụng truyền thống. Ngày nay, phương pháp quản trị rủi ro thông qua
hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ được nhiều ngân hàng trên thế giới áp dụng. Ở
Việt nam, quản trị rủi ro tín dụng thông hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ đang
được Ngân hàng nhà nước Việt Nam khuyến khích các ngân hàng áp dụng.
1.4.1 Tổng quan về hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ
1.4.1.1 Khái niệm về hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ:
Hệ thống xếp hạng nội bộ giúp cho các tổ chức tài chính quản lý và kiểm
soát được rủi ro tín dụng mà họ có thể phải gánh chịu trong hoạt động tín dụng và
các hoạt động khác bằng cách phân loại và quản lý mức độ tín nhiệm của người đi
vay cũng như chất lượng của các khoản vay.
Trong một thời gian dài, nhiều tổ chức tín dụng thực thiện quản lý rủi ro dựa
trên việc giám sát mức độ tín nhiệm của từng người đi vay riêng biệt. Theo cách
này, quá trình quyết định cho vay của tổ chức tín dụng cũng tương đối đơn giản,
thông thường là quyết định cho vay hoặc là không mà thôi. Tuy nhiên, ngay cả khi
người vay vốn bị phá sản, thì phần tổn thất của bên cho vay hầu như đã được bù đắp
bằng số tài sản cố định thế chấp.
Sau các cuộc khủng hoảng tài chính nổ ra, chi phí tín dụng của các tổ chức
tài chính gia tăng đáng kể do sự gia tăng số lượng người đi vay bị phá sản và sự sụt
giảm giá trị của tài sản thế chấp. Vì lẽ đó, việc kiểm soát rủi ro tín dụng trở thành
một công việc quản lý quan trọng đòi hỏi được xem xét lại. Ngoài ra, những thay
tín dụng đều mong muốn thiết lập một hệ thống xếp hạng nội bộ cho riêng mình.
Mỗi tổ chức tài chính có điều kiện và tính chất kinh doanh riêng biệt, vì thế hệ
thống xếp hạng rủi ro của mỗi tổ chức sẽ có những đặc trưng khác nhau, các tiêu chí
19
20
xếp hạng đơn giản sẽ phù hợp hơn với những tổ chức quy mô nhỏ và ngược lại. Sẽ
không có một đáp án cụ thể nào về các tiêu chuẩn cho một hệ thống xếp hạng nội
bộ; chẳng
hạn như nên có bao nhiêu mức xếp hạng, định nghĩa về mỗi thứ hạng và
phương pháp đánh giá xếp hạng. Do vậy, các tổ chức tài chính cần phải đưa ra hệ
thống xếp hạng của riêng mình dựa trên đặc điểm của danh mục cho vay, tính chất
hoạt động, mục tiêu của việc xếp hạng và các nhân tố khác có liên quan. Và hệ
thống xếp hạng tín dụng này cũng cần được thay đổi linh hoạt thích hợp với sự thay
đổi của môi trường kinh doanh.
Dưới đây là một số điểm quan trọng để xem xét trong việc thiết lập hệ thống
xếp hạng nội bộ.
1.4.2 Cấu trúc của hệ thống xếp hạng nội bộ
1.4.2.1 Xếp hạng người vay và xếp hạng khoản vay
Hệ thống xếp hạng nội bộ được dùng để xếp hạng tín nhiệm đối với người đi
vay (xếp hạng người vay), dựa trên khả năng chi trả của người vay hoặc là xếp hạng
khoản vay dựa trên mức độ rủi ro của từng khoản vay.
Xếp hạng người vay tập trung vào rủi ro tín dụng của người đi vay, nói cách
khác là đánh giá xem người đi vay có thể bị mất khả năng thanh toán (vỡ nợ) hay
không. Dưới đây là một ví dụ về cách xếp hạng người đi vay đang được nhiều tổ
chức tài chính áp dụng.
Bảng 1.1: Một ví dụ về xếp hạng người đi vay
Thứ hạng
người vay
đo lường rủi ro liên quan tới từng khoản vayriêng biệt.
Phương pháp xếp hạng khoản vay phức tạp hơn hơn phương pháp xếp hạng
người đi vay, có hai loại xếp hạng trong phương pháp này: xếp hạng một chiều và
xếp hạng hai chiều. Hệ thống xếp hạng một chiều lấy thứ hạng người đi vay làm cơ
sở cho việc xếp hạng khoản vay, từ thứ hạng người đi vay, người ta điều chỉnh tăng
lên hoặc giảm xuống tùy theo mức độ rủi ro của giao dịch tín dụng để phản ánh các
đặc điểm có liên quan đến khoản cho vay (chẳng hạn như mức độ bảo
đảm của các
khoản vay dựa trên tỷ lệ thế chấp hoặc bảo hiểm của khoản vay đó). Hệ thống xếp
hạng hai chiều kết hợp xếp hạng người vay với đánh giá đặc điểm của từng giao
dịch tín dụng độc lập với người đi vay (ví dụ: xếp hạng dựa trên tỷ lệ tổn thất khi vỡ
nợ –LGD)
Các tổ chức tài chính thường sử dụng phương pháp xếp hạng người vay chủ
yếu cho các khoản vay hạn mức đối với các công ty (vay theo hạn mức), trong khi
phương pháp xếp hạng khoản vay chỉ được sử dụng cho từng khoản vay cụ thể đòi
21
22
hỏi có sự kiểm soát đối với khoản vay đó. Phương pháp xếp hạng khoản vay được
áp dụng cho cả những khoản cho vay các dự án, đầu tư bất động sản hoặc xây dựng.
1.4.2.2 Đối tượng xếp hạng
Về nguyên tắc, việc xếp hạng được áp dụng cho cả người đi vay và giao dịch
tín dụng. Hệ thống xếp hạng tín dụng thể hiện quan điểm của tổ chức tín dụng đối
với việc đánh giá rủi ro tín dụng. Do đó, hệ thống xếp hạng tín nhiệm phải được áp
dụng nhất quán cho tất cả các tài sản có có rủi ro tín dụng. Điều này sẽ giúp thúc
đẩy việc xếp hạng chính xác và hiệu quả. Nói chung, tất cả các khách hàng và giao
dịch tín dụng chủ yếu cần được xếp hạng. Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt,
việc xếp hạng đối với tất cả các khoản vay có thể sẽ rất tốn kém. Các trường hợp
như vậy sẽ được xem là ngọai lệ và ngân hàng sẽ thiết lập những tiêu chuẩn riêng
những trường hợp như vậy, nên xem xét lại đặc điểm của các thứ hạng và số lượng
các thứ hạng, mặc dù tính liên tục và ổn định của hệ thống xếp hạng cũng cần được
coi trọng.
Mặc dù không có một tiêu chí cụ thể nào để quyết định số lượng các thứ
hạng nhưng phạm vi dao động của xác suất vỡ nợ của từng người đi vay và số
lượng người vay trong mỗi thứ hạng là hai nhân tố quan trọng trong quá trình xếp
hạng người đi vay.
Hai nhân tố này có mối quan hệ bổ sung cho nhau, số lượng thứ hạng càng
nhiều thì phạm vi dao động của xác suất vỡ nợ càng ít và tính đồng nhất trong từng
thứ hạng càng gia
tăng. Tuy nhiên, trong trường hợp đó, số lượng người đi vay trong
mỗi thứ hạng càng nhỏ thì sai số về xác suất vỡ nợ càng cao.
1.3.3 Quy trình xếp hạng
1.3.3.1 Xếp hạng và kiểm tra lại kết quả xếp hạng
Trong quy trình xếp hạng tín dụng nội bộ, căn cứ vào chính sách và quy
định đã được thiết lập, bộ phận marketing và/hoặc bộ phận cho vay sẽ thực hiện
việc xếp hạng. Quy trình nói chung bao gồm các bước sau:
(1) Đánh giá tín nhiệm của người vay dựa vào các chỉ tiêu định lượng
(2) Điều chỉnh kết quả đánh giá dựa trên các nhân tố định tính
(3) Đối chiếu kết quả đánh giá với các thông tin bên ngoài, như thông tin xếp
hạng bởi các công ty định mức tín nhiệm hoặc giá cổ phiếu trên thị trường.
Kết quả xếp loại theo quy trình này sẽ được bộ phận quản lý tín dụng đánh
giá lại.
23
24
Kết quả xếp hạng phải phản ánh đúng các rủi ro liên quan đến người vay. Vì
thế, việc đánh giá lại là cần thiết để phản ánh những thay đổi về khả năng trả nợ của
người vay. Quá trình đó bao gồm việc đánh giá lại theo định kỳ vào thời gian công