Đề tài thảo luận : Nhận dạng các rủi ro trong đầu tư tài chính và chứng khoán
Lời mở đầu
Trong hoạt động kinh doanh chúng ta có thể bắt gặp rất nhiều rủi ro , rủi ro là
những yếu tố không chắc chắn tồn tại trong công việc mà chúng ta tiến hành, nó có
những ảnh hưởng tiêu cực và tiềm ẩn nguy cơ gây ra thiệt hại hoặc đã gây ra các
thiệt hại. Dù muốn hay không, hầu hết những điều chúng ta làm đều chứa đựng rủi
ro , hoạt động đầu tư cũng không thể tránh khỏi . Trong kinh tế thị trường, dường
như không có hoạt động đầu tư kinh doanh nào lại không có nguy cơ gặp rủi ro. Lợi
nhuận càng cao, rủi ro càng lớn, nhưng điều ngược lại thì chưa hẳn đã đúng: lợi
nhuận có thể thấp, song rủi ro chưa chắc đã nhỏ đi . Đầu tư tài chính , chứng khoán
cũng không nằm ngoài quy luật này, thậm chí, ở mức sâu đậm và đa diện hơn . Đó
là lý do tại sao chúng ta cần phải tìm hiểu các loại rủi ro, bản chất và đặc điểm của
mỗi loại để có thể xác định được mức độ rủi ro của công cụ mà chúng ta muốn đầu
tư, từ đó quyết định có nên chấp nhận hay không và tổ chức các phương thức quản
lý thích hợp . Từ thực tiễn thị trường chứng khoán quốc tế nói chung và thị trường
chứng khoán Việt Nam nói riêng trong thời gian qua, có thể nhận dạng một số rủi ro
chủ yếu trong đầu tư tài chính và chứng khoán.
I) Một số khái niệm
1. Khái niệm rủi ro
Cho đến nay chưa có được định nghĩa thống nhất về rủi ro. Những trường phái khác
nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những khái niêm rủi ro khác nhau. Những khái niệm
này rất phong phú và đa dạng, nhưng tập trung lại có thể chia thành hai trường phái lớn:
Theo trường phái truyền thống : rủi ro được xem là sự không may mắn, sự tổn thất
mất mát, nguy hiểm.Nó được xem là điều không lành, điều không tốt, bất ngờ xảy
đến.Đó là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận
dự kiến.Rủi ro còn được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình
kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của
một doanh nghiệp.Tóm lại, theo quan điểm này thì rủi ro là những thiệt hại, mất
mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều
không chắc chắn có thể xảy ra cho con người
Theo trường phái hiện đại : rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang
• Sử dụng bảng liệt kê ( check list ) và biến thể
• Phân tích báo cáo tài chính
• Sử dụng lưu đồ ( Flow – Chart )
• Giao tiếp trong nội bộ tổ chức
• Giao tiếp với các tổ chức chuyên nghiệp
• Phân tích hợp đồng
• Nghiên cứu số liệu tổn thất quá khứ
• Phân tích hiểm họa ( Hazard Analysis )
II) Các loại rủi ro trong đầu tư tài chính và chứng khoán
Trước khi lựa chọn kênh đầu tư phù hợp, nhà đầu tư yếu tố rủi ro nhằm đưa ra chiến
lược kinh doanh hiệu quả. Lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn, nhà đầu tư chấp nhận
mức rủi ro cao (risk takers) có khả năng thu được lợi nhuận cao hơn , nhà đầu tư chấp nhận
mức độ rủi ro thấp (risk averse). Tuy nhiên, không phải rủi ro nào, nhà đầu tư cũng có thể
kiểm soát được. Rủi ro hệ thống không phân tán được, trong khi rủi ro không hệ thống có
thể giảm thiểu bằng cách tái cơ cấu và đa dạng hoá danh mục đầu tư.
1. Rủi ro hệ thống
Rủi ro hệ thống , không thể đa dạng hóa ( Nondriversifiable ) là rủi ro tác động tới
hầu hết các tài sản đầu tư do đó việc đa dạng hóa danh mục đầu tư không có ( hoặc hầu
như không có ) tác dụng giảm thiểu tổn thất .
Rủi ro hệ thống là rủi ro tác động đến toàn bộ hoặc hầu hết tài chính ,chứng khoán.
Sự bấp bênh của môi trường kinh tế nói chung như GDP sụt giảm, lãi suất biến động, tốc
độ lạm phát thay đổi... là những ví dụ về rủi ro hệ thống, những biến đổi này tác động đến
sự dao động giá của các chứng khoán trên thị trường , rủi ro hệ thống được chia làm 4
loại .
1.1 Rủi ro thị trường
Một biểu hiện của rủi ro thị trường là việc giá cổ phiếu của doanh nghiệp có thể dao
động mạnh trong một khoảng thời gian ngắn, mặc dù thu nhập của công ty không thay đổi .
Nguyên nhân của nó có thể rất khác nhau, nhưng phụ thuộc chủ yếu vào cách nhìn
nhận của nhà đầu tư về các loại cổ phiếu nói chung, hay về một nhóm cổ phiếu nói riêng.
Những thay đổi trong mức sinh lời đối với phần lớn các loại cổ phiếu chủ yếu là do
với vấn đề tỷ giá, cần tiếp tục cho đồng Việt Nam lên giá hơn so với hiện nay để
giảm sức ép mua ngoại tệ và kích thích nhập khẩu, từ đó giảm sức ép lạm phát và
thúc đẩy cải cách hoạt động xuất khẩu.
Ngân hàng Nhà nước cần đẩy mạnh hơn việc mua vào ngoại tệ trong thời hạn ít
nhất một tháng, trong đó ưu tiên mua ngoại tệ là kiều hối, vốn đầu tư trực tiếp, vốn
đầu tư chiến lược và đầu tư vào thị trường chứng khoán, ông Vũ Bằng nhấn mạnh.
Phát huy chính sách kiểm soát tín dụng của Ngân hàng Nhà nước nhưng cho rằng
cần có sự điều chỉnh trong tổng mức tín dụng cho phép để nới lỏng kênh cho vay
chứng khoán, từ đó hỗ trợ cho thị trường chứng khoán không bị "tổn thương" quá
mức.
Đặc biệt, ổn định tâm lý cho các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, vì tâm lý
là yếu tố tác động mạnh đối với sự đi xuống của thị trường chứng khoán trong thời
gian vừa qua.
1.2 Rủi ro lãi suất (Interest Rate Risk )
Rủi ro lãi suất là một trong những rủi ro hệ thống, hay còn gọi là rủi ro không phân
tán được khi đầu tư vào thị trường chứng khoán. Rủi ro lãi suất là loại rủi ro nói đến sự
không ổn định trong giá trị thị trường và số tiền thu nhập trong tương lai, nguyên nhân
là dao động trong mức lãi suất chung.
Nguyên nhân cốt lõi của rủi ro lãi suất là sự lên xuống của lãi suất Trái phiếu Chính
phủ, khi đó sẽ có sự thay đổi trong mức sinh lời kỳ vọng của các loại chứng khoán
khác, như các loại cổ phiếu và trái phiếu công ty. Nói cách khác, chi phí vay vốn đối với
các loại chứng khoán không rủi ro thay đổi sẽ dẫn đến sự thay đổi về chi phí vay vốn của
các loại chứng khoán có rủi ro. Các nhà đầu tư thường coi trái phiếu Chính phủ là không
rủi ro. Lãi suất của trái phiếu Chính phủ được coi là lãi suất chuẩn, là mức phí vay vốn
không rủi ro. Những thay đổi trong lãi suất trái phiếu Chính phủ sẽ làm ảnh hưởng tới toàn
bộ hệ thống chứng khoán, từ trái phiếu cho đến các loại cổ phiếu rủi ro nhất.
Lãi suất trái phiếu Chính phủ cũng thay đổi theo cung cầu trên thị trường. Ví dụ, khi
ngân sách thâm hụt thì Chính phủ sẽ phát hành thêm chứng khoán đế bù đắp, như vậy sẽ
làm tăng mức cung chứng khoán trên thị trường. Các nhà đầu tư tiềm năng sẽ chỉ mua các
trái phiếu này nếu lãi suất cao hơn lãi suất các loại chứng khoán khác đang được lưu hành.
• Xuất phát từ cá chiến thuật căn bản : phân tích lãi suất đối sánh (benchmark ) ,
khai thác các cơ hội arbitrage , đánh cược với rủi ro – lãi suất .
• Kết hợp các phân tích giá với DV01 , thời lượng và các phân tích khác
• Dự đoán bối cảnh lãi suất
• Xây dựng kịch bản
• Điều chỉnh năng động danh mục đầu tư
• Tìm kiếm và tận dụng các khoản vay dài hạn với lãi suất ưu đãi , vay vốn với lãi
suất thấp, ổn định và loại trừ được rủi ro biến động tăng lãi suất
1.3 Rủi ro sức mua (Purchasing Power Risk )
Rủi ro sức mua là tác động của lạm phát đối với khoản đầu tư tài chính , chứng
khoán , biến động giá càng cao thì rủi ro sức mua càng tăng, nếu nhà đầu tư không tính
toán lạm phát vào thu nhập kỳ vọng. Nói cách khác, lợi tức thực tế của chứng khoán đem
lại là kết quả giữa lợi tức danh nghĩa sau khi khấu trừ lạm phát. Như vậy, khi có tình trạng
lạm phát thì lợi tức thực tế giảm.
Nếu chúng ta coi khoản đầu tư là một khoản tiêu dùng ngay, ta có thể thấy rằng khi
một người mua cổ phiếu, anh ta đã bỏ mất cơ hội mua hàng hoá hay dịch vụ trong thời gian
sở hữu cổ phiếu đó. Nếu, trong khoảng thời gian nắm giữ cổ phiếu đó, giá cả hàng hoá dịch
vụ tăng, các nhà đầu tư đã bị mất một phần sức mua. Giá cả hàng hoá và dịch vụ tăng gọi
là lạm phát, giá cả hàng hoá giảm gọi là giảm phát, cả đều liên quan đến khái niệm rủi ro
sức mua. Nguyên nhân chính của lạm phát là do giá thành sản phẩm và nhu cầu về hàng
hoá, dịch vụ tăng so với mức cung.
Thứ nhất lạm phát tăng là do nhu cầu tăng lên khi nền kinh tế có nhiều công ăn việc
làm hơn. Tại lúc này, mức cung không tăng kịp so với nhu cầu nhiều lên, các loại hàng hoá
và dịch vụ sẽ phải được phân bổ theo một mức giá nào đó tăng lên mà làm cho cung cầu
cân bằng tại đó. Thứ hai, lạm phát do tăng giá thành phẩm: Giá nguyên vật liệu và tiền
công tăng lên, các nhà sản xuất cố gắng bù đắp lại bằng cách tăng giá cả hàng hoá. Trong
một môi trường kinh tế có nhiều công ăn việc làm, tiền công được trả cao thì giá cả hàng
hoá sẽ tăng, ngược lại giá cả hàng hoá tăng cũng đòi hỏi tiền công tăng lên, chu trình này
cứ lặp đi lặp lại.
Như đã nói rủi ro sức mua thường đi kèm với sự thay đổi giá hàng hoá, dịch vụ thì
cũng ngày càng có ảnh hưởng lớn hơn , có phản ứng dây chuyền, lây lan và ngày càng có
biểu hiện phức tạp . Sự sụp đổ của ngân hàng có ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ đời sống-
kinh tế- chính trị và xã hội của một nước.
Rủi ro hối đoái trong đầu tư tài chính là rủi ro đe dọa lợi tức đầu tư vào tài sản
tài chính , bắt nguồn từ biến động tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền thể hiện trên tài sản
đầu tư với đồng tiền được nhà đầu tư lựa chọn tính toán lợi ích và lưu giữ giá trị . Rủi
ro tỷ giá là rủi ro phát sinh do sự biến động tỷ giá làm ảnh hưởng đến giá trị kỳ vọng
trong tương lai.
Mọi hoạt động mà dòng tiền thu vào phát sinh bằng một loại đồng tiền trong khi
dòng tiền chi ra lại phát sinh bằng một loại đồng tiền khác đều chứa đựng nguy cơ rủi ro
tỷ giá. Về cơ bản rủi ro tỷ giá phát sinh trong 3 hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp là
hoạt động đầu tư, hoạt động xuất nhập khẩu và hoạt động tín dụng.Rủi ro tỷ giá trong hoạt
động đầu tư thường phát sinh đối với công ty đa quốc gia (multinational corporations)
hoặc đối với các nhà đầu tư tài chính có danh mục đầu tư đa dạng hoá trên bình diện
quốc tế. Lý do là vốn đầu tư và doanh thu được tính bằng các loại đồng tiền khác nhau.
Trong điều kiện tỷ giá hối đoái không được dự báo chắc chắn về chiều hướng biến
động , thì rủi ro hối đoái thể hiện đặc trưng rõ ràng của rủi ro suy đoán.
Giải pháp
Né tránh mua và / hoặc bán khống các tài sản tài chính ghi bằng các đồng tiền dự
báo biến động bất lợi
Quan hệ mật thiết với các tổ chức kinh doanh ngoại hối
Tái cấu trúc danh mục đầu tư triệt tiêu tác động của tỉ giá tới RET bình quân của
danh mục đầu tư
Bán tài sản nhằm hạn chế tổn thất do rủi ro hối đoái
Đa dạnh hóa danh mục đầu tư
Sử dụng hoán đổi SWAP tiền tệ
2. Rủi ro phi hệ thống (Nonsystematic Risks )
Rủi ro phân tán được, tức rủi ro phi hệ thống là một phần rủi ro đầu tư mà nhà đầu
tư có thể loại bỏ được nếu nắm giữ một số loại chứng khoán đủ lớn. Loại rủi ro này là kết
quả của những biến cố ngẫu nhiên hoặc không kiểm soát được chỉ ảnh hưởng đến một