BÁO CÁO "NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SỬ DỤNG CỎ VETIVER ĐỂ KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC NUÔI TÔM TẠI XÃ TAM GIANG, HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM " - Pdf 11

Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 8 Đại học Đà Nẵng năm 2012
1

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SỬ DỤNG CỎ VETIVER ĐỂ KIỂM SOÁT
CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC NUÔI TÔM TẠI XÃ TAM GIANG,
HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM
STUDY OF USING VETIVER GRASS TO CONTROL THE WATER QUALITY OF
SHRIMP PONDS IN TAMGIANG COMMUNE, NUITHANH DISTRICT,
QUANGNAM PROVINCE

SVTH: Nguyễn Văn Trường
(1)
, Lê Văn Bình
(1)
, Cao Xuân Phong
(1)
, Nguyễn Thị Thanh
Hằng
(2)
, Phan Thị Hà Nhi
(2)
(1)
Lớp 08CSM,
(2)
Lớp 09CSM, Khoa Sinh-Môi trường, Trường ĐHSP, Đại học Đà Nẵng
GVHD: TS. Võ Văn Minh
(1) (1)
, TS. Paul Truong
(2)

(1)


1. Đặt vấn đề
Huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam là nơi có điều kiện thuận lợi cho phát triển
nuôi trồng thủy sản [1]. Tuy nhiên, do sự phát triển ồ ạt, thiếu quy hoạch và kỹ thuật nuôi
trồng nên đã gây ra suy thoái và ô nhiễm môi trường nước tại các khu vực nuôi [2], [3].
Cỏ vetiver (Vetiveria zizanioides L.) là loài có khả năng hấp thụ rất mạnh các chất
ô nhiễm hữu cơ, kim loại nặng trong nước thải và có phổ thích nghi rộng với những điều
Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 8 Đại học Đà Nẵng năm 2012
2
kiện môi trường khác nhau, đặc biệt là khả năng chịu đựng với nồng độ muối khá cao [5],
[6]. Việc nghiên cứu khả năng sử dụng cỏ Vetiver nhằm mục đích cải tạo các hồ nuôi tôm
xã tam Giang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam có ý nghĩa quan trọng, góp phần pháp
triển bền vững nghề nuôi trồng thủy sản tại địa phương.
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Cỏ vetiver (Vetiveria zizanioides L.); nước lấy tại kênh dẫn và trong ao nuôi tôm tại
xã Tam Giang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm
Cỏ Vetiver được ươm vào bầu (gồm: đất, mùn cưa, phân vi sinh) trong thời gian 3
tháng. Chọn những cây khỏe mạnh, có chiều dài lá, chiều dài rễ và số nhánh tương đương
nhau để tiến hành thí nghiệm.
Thí nghiệm gồm 3 lô: Lô chứa nước lấy từ kênh dẫn nước vào và ra ao nuôi tôm
(KV1), lô chứa nước lấy trong ao nuôi tôm (KV2) và lô chứa nước lấy từ ao nuôi tôm pha
loãng với nước ngọt theo tỉ lệ 1:1 (KV50). Mỗi lô gồm 1 thùng đối chứng và 3 thùng có
kích thước 45cm x 30cm x 20cm để lặp lại thí nghiệm.
Cỏ vetiver được trồng dưới dạng thủy canh vào các thùng với mật độ 9cây/thùng có
chứa 20 lít nước thí nghiệm. Cứ sau 3 ngày tiến hành thay nước một lần. Đến ngày thứ 15
và 30 tiến hành đo các chỉ tiêu sinh trưởng; ngày thứ 16, 17, 18 tiến hành lấy mẫu và phân
tích khả năng cải thiện chất lượng nước của cỏ vetiver tại các lô thí nghiệm.

trọng lượng tươi của rễ tại KV1, KV2, KV50 lần lượt tăng 229,79%, 273,43% và
401,52%; số nhánh tăng từ 2 đến 6 nhánh so với ban đầu.

Hình 1. Cỏ vetiver tại lô KV1 sau 1 tháng trồng trong mô hình thí nghiệm
3.2. Khả năng cải thiện chất lượng nước của cỏ vetiver trong mô hình thí nghiệm
3.2.1. Giá trị pH
Kết quả phân tích ANOVA một yếu tố (α=0,05) cho thấy giá trị pH không có sự sai
khác ở các thời gian nghiên cứu và vẫn nằm trong tiêu chuẩn cho phép về chất lượng nước
mặt của QCVN 08 : 2008/BTNMT. Giá trị pH tại các lô thí nghiệm dao động trong khoảng
6,5 đến 8,5.
3.2.2. Hàm lượng DO và COD
0
2
4
6
8
CKV1
KV1
CKV2
KV2
CKV50
KV50
Ban đầu
1 ngày
2 ngày
3 ngày

5
7
9


Hàm lượng P-PO
4
3-
ban đầu tại tất cả các lô thí nghiệm so sánh với QCVN 08:
2008/BTNMT về yêu cầu chất lượng nước mặt đều vượt tiêu chuẩn B
2
từ 2.56 đến 4.6 lần
(Hình 3).

0.0
0.5
1.0
1.5
2.0
2.5
CKV1
KV1
CKV2
KV2
CKV50
KV50
ban đầu
1 ngày
2 ngày
3 ngày

2
4
6

3-
lần lượt là 83.25%; 91.74%
và 63.28%; hiệu suất xử lý N
ts
đạt lần lượt là 53,54%; 42,89% và 50,70%. Hiệu suất xử lý
tại các lô thí nghiệm cao hơn các lô đối chứng. Hàm lượng P-PO
4
3-
đạt tiêu chuẩn B
2
của
QCVN 08: 2008/BTNM.
3.3. Khả năng sinh trưởng của cỏ vetiver ở ngoài thực địa
3.3.1. Tại khu vực T-KV1 và T-KV2
Cỏ vetiver có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt tại T-KV1 và T-KV2. Kết quả
phân tích ANOVA một yếu tố và kiểm tra LSD (α=0,05) cho thấy, trọng lượng tươi của lá,
chiều dài rễ, trọng lượng tươi của rễ, số nhánh giữa các giai đoạn nghiên cứu khác nhau có
ý nghĩa. Sau 1 tháng tiến hành thí nghiệm, trọng lượng tươi của lá tại T-KV1, T-KV2 lần
lượt tăng 98,15% và 92,34%; chiều dài rễ tăng tại T-KV1, T-KV2 lần lượt tăng 31,18% và
37,32%; trọng lượng tươi của rễ tại T-KV1, T-KV2 lần lượt tăng 280,64% và 304,74%; số
nhánh tăng từ 2 đên 5 nhánh so với ban đầu.
3.3.2. Tại bờ ao nuôi tôm
Các chỉ tiêu chiều dài rễ, trọng lượng tươi của lá; trọng lượng tươi của rễ và số
nhánh của cỏ vetiver sau thời gian trồng 90 ngày tăng lên lần lượt 155,59%; 335,66%;
798,42%; 638,12% và 354,22% so với ban đầu. Điều này cho thấy, cỏ vetiver có khả năng
sinh trưởng tốt trên môi trường đất bờ ao nuôi tôm.
Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 8 Đại học Đà Nẵng năm 2012
5
[2] Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Núi Thành (2010), Báo cáo tổng
kết nông, lâm, ngư nghiệp 5 năm (2006-2010) và phương hướng nhiệm vú sản xuất
năm 2011, UBND huyện Núi Thành, Phòng NN&PTNT
[3] Trần Xuân Hòa (1989), Hoạt động khoa học công nghệ và môi trường trong ngành
thủy sản Quảng Nam, Sở khoa học Công nghệ và Môi trường Quảng Nam.
[4] Đinh Hải Hà (2009), Phương pháp phân tích các chỉ tiêu môi trường, Viện Khoa học
Công nghệ và Quản lý môi trường, Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh

Tuyển tập Báo cáo Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 8 Đại học Đà Nẵng năm 2012
6
Tài liệu tiếng Anh
[5] Paul Truong (2005), Wastewater treatment and phytoremediation with Vetiver grass,
Brisbane, Australia
[6] Paul Truong and et al. (2002), Vetiver grass for saline land rehabilitation under
tropical and mediterrranean climate, Saline Lands National Conference, Fremantle,
Australia


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status