Cải tiến công tác tuyển dụng và đào tạo lao động xuất khẩu đi làm việc ở nước ngoài của Công ty Cổ phần Nhân lực và Thương mại Vinaconex - Pdf 11

LỜI CẢM ƠN
1. Em xin chân thành cảm ơn T.s Vũ Thị Uyên trong thời gian qua đã
nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp em hoàn thành bài luận văn này.
2. Em xin chân thành cảm ơn các anh chị, các bác, các chú trong phòng
Hành chính và Nhân lực thuộc Công ty Cổ phần Nhân lực và Thương mại
Vinaconex đã nhiệt tình giúp đỡ trong quá trình thu thập tài liệu cần thiết cho
bài luận văn này, cũng như sự kèm cặp, chỉ bảo trong quá trình thực tập làm
việc tại Công ty Cổ phần Nhân lực và Thương mại Vinaconex.
LỜI CAM ĐOAN
Tên em là: Phạm Văn Tuyên
Lớp: QTNL 46A
Khoa: Kinh tế và Quản lý nguồn nhân lực
Trường: Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
Cơ sở thực tập: Công ty Cổ phần Nhân lực và Thương mại Vinaconex
Tên đề tài luận văn tốt nghiệp: “Cải tiến công tác tuyển dụng và đào tạo lao
động xuất khẩu đi làm việc ở nước ngoài của Công ty Cổ phần Nhân lực và
Thương mại Vinaconex”.
Em xin cam đoan trước Hội đồng kỷ luật của Trường, của Khoa rằng, bài
luận văn này là kết quả làm việc nghiêm túc của bản thân em, không sao chép
từ bất kỳ tài liệu nào. Tất cả các tài liệu chỉ mang tính chất tham khảo. Nếu
sai sự thật, em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội ngày 3/6/2008
Ký tên
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Vai trò: .................................................................................................................................. 20
1.4. Sự cần thiết phải cải tiến công tác tuyển dụng và đào tạo lao động xuất khẩu đi làm việc ở
nước ngoài của công ty Cổ phần Nhân lực và Thương mại Vinaconex..................................24
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Mục đích nghiên cứu: Khái quát một số vấn đề cơ sở lý luận về công
tác tuyển dụng và đào tạo lao động xuất khẩu đi làm việc ở nước ngoài. Đồng
thời đánh giá một số thực trạng nổi cộm trong công tác tuyển dụng và đào tạo
lao động xuất khẩu đi làm việc ở nước ngoài của Công ty Cổ phần Nhân lực
1
và Thương mại Vinaconex. Cuối cùng, đề xuất một số giải pháp nhằm cải tiến
công tác tuyển dụng và đào tạo lao động xuất khẩu đi làm việc ở nước ngoài
của Công ty Cổ phần Nhân lực và Thương mại Vinaconex, và một số kiến
nghị đối với các bên có liên quan.
Đối tượng nghiên cứu: Công tác tuyển dụng và đào tạo lao động xuất
khẩu đi làm việc ở nước ngoài.
Phạm vi nghiên cứu: Chỉ nghiên cứu sâu các vấn đề trong công tác
tuyển dụng và đào tạo lao động xuất khẩu đi làm việc ở nước ngoài của Công
ty Cổ phần Nhân lực và Thương mại Vinaconex. Số liệu thông tin chủ yếu lấy
từ năm 2005 trở lại đây.
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp thống kê: Có dựa trên những thống kê hàng năm của Công
ty Cổ phần Nhân lực và Thương mại, qua đó thống kê số liệu theo nội dung
đề tài của mình.
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Từ những số liệu thống kê đưa ra
những đánh giá, phân tích, tổng hợp.
Phương pháp bảng hỏi: Bảng hỏi bao gồm 10 câu hỏi được gửi đến 40
người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Kết cấu đề tài:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác tuyển dụng và đào tạo lao động xuất
khẩu đi làm việc ở nước ngoài của công ty Cổ phần Nhân lực và Thương mại
Vinaconex.
Chương 2: Thực trạng của công tác tuyển dụng và đào tạo lao động xuất
khẩu đi làm việc ở nước ngoài của công ty Cổ phần Nhân lực và Thương mại
Vinaconex

được xác định giá cả. Hàng hóa sức lao động cũng tuân theo quy luật cung-
3
cầu của thị trường. Khi mức cung cao sẽ dẫn tới dư thừa lao động, giá cả sức
lao động ( biểu hiện bằng tiền công ) sẽ thấp, ngược lại khi mức cung thấp sẽ
dẫn tới tình trạng thiếu lao động , giá cả sức lao động sẽ cao hơn.
* Thị trường lao động: Trong mỗi xã hội, nơi nào xuất hiện nhu cầu sử
dụng lao động và có nguồn lao động cung cấp, ở đó sẽ hình thành nên thị trường
lao đông. Trong nền kinh tế thị trường, người lao đông muốn tìm việc phải thông
qua thị trường lao động. Về mặt thuật ngữ, "Thị trưòng lao đông" thực chất phải
được hiểu là "Thị trường sức lao động" để phù hợp với khái niệm của tổ chức
lao động quốc tế: Thị trường lao động là một lĩnh vực của nền kinh tế, nó bao
gồm toàn bộ các quan hệ lao động được xác lập trong lĩnh vực mua bán, trao đổi
và thuê mướn sức lao động. Trên thị trường lao động, mối quan hệ được thiết lập
giữa một bên là người lao động và một bên là người sử dụng lao động. Qua đó,
cung-cầu về lao đọng ảnh hưởng tới tiền công lao động và mức tiền công lao
động cũng ảnh hưởng tới cung - cầu lao động.
Xuất khẩu lao động trên thị trường lao động quốc tế được thực hiện chủ
yếu dựa vào quan hệ cung - cầu lao động. Nó chịu sự tác động, điều tiết của
các quy luật kinh tế thị trường. Bên cầu phải tính toán kỹ hiệu quả của việc
nhập khẩu lao động từ đo cần phải xác định chặt chẽ số lượng, cơ cấu, chất
lượng lao động hợp lý. Mặt khác, bên cung có mong muốn xuất khẩu càng
nhiều lao động càng tốt. Do vậy, muốn cho loại hàng hoá đặc biệt này chiếm
đựơc ưu thế trên thị trường lao động, bển cung phải có sự chuẩn bị và đầu tư
để được thị trường chấp nhận, phải đáp ứng kịp thời các yêu cầu về số lượng,
cơ cấu và chất lượng lao động cao.
Thị trường lao động nước ta hiện nay tuy đã hình thành song phạm vi
còn nhỏ hẹp. Để phù hợp với sự phát triển quá nhanh của nguồn lao động
trước hết thị trường lao động phải được mở rộng cả trong và ngoài nước, đồng
thời tạo điều kiện cho người lao động có quyền bình đẳng, tự do tìm việc làm,
thuê mướn lao động theo pháp luật.

Xuất khẩu lao động thực tế đem lại lợi ích thiết thực cho cả người lao
động và phía Nhà nước. Nhận thức rõ điều đó Đảng và Nhà nước ta đã không
ngừng đưa ra những chủ trương, chính sách tạo điều kiện cho người lao động
có cơ hội đi làm việc ở nước ngoài. Hiện nay có một số hình thức xuất khẩu
lao động sau:
◘ Thông qua doanh nghiệp Việt Nam được phép cung ứng lao động
theo hợp đồng ký kết với bên nước ngoài:
Đối tác nước ngoài có nhu cầu sử dụng lao động, đưa ra những yêu cầu
cụ thể về số lượng, tuổi tác, nghề nghiệp, giới tính...Các doanh nghiệp, tổ
chức kinh tế của Việt Nam sau khi nhận được đơn đặt hàng của bên nước
ngoài sẽ tiến hành sơ tuyển dựa trên những tiêu chí có sẵn. Để đảm bảo đúng
yêu cầu của mình, bên nước ngoài thực hiện kiểm tra lại một lần nữa trước
khi lao động sang làm việc.
◘ Thông qua doanh nghiệp Việt Nam nhận thầu, nhận khoán công
trình hoặc đầu tư ở nước ngoài.
Bên nước ngoài đặt hàng các công trình xây dựng cho các doanh nghiệp
Việt Nam nhận thầu, nhận khoán, do vậy phải đưa đi đồng bộ các đối tượng
lao động gồm có kỹ thuật, quản lý, chỉ đạo thi công và lao động trực tiếp sang
nước ngoài làm việc. Sau khi công trình kết thúc thì cũng chấm dứt hợp đồng
đối với người lao động, vì thế xuất khẩu lao động theo hình thức khoán khối
lượng công việc thường không ổn định, tâm lý của người lao động dễ bị chán
nản, không tận tâm với công việc.
◘ Theo hợp đồng lao động do cá nhân người lao động trực tiếp ký kết
với người sử dụng lao động ở nước ngoài (sau đây gọi là hợp đồng cá
nhân):
Đây là hình thức phổ biến nhất hiện nay, hình thức này đòi hỏi đối
tượng lao động đa dạng tuỳ theo yêu cầu và mức độ phức tạp của công việc.
6
Có những yêu cầu của người nước ngoài đòi hỏi người có trình độ kỹ thuật,
kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm tổ chức quản lý, cũng có những yêu cầu

Xuất khẩu lao động cũng là một kênh đem lại một nguồn thu nhập quan
trọng cho đất nước.
+ Về xã hội: Đối với một nước hơn 82 triệu dân, với trên một nửa là số người
trong độ tuổi lao động, nhưng số người thất nghiệp ở thành thị lên đến 5,6% và
số thời gian chưa được sử dụng ở nông thôn lên đến trên 20%, thì xuất khẩu lao
động là một kênh giải quyết việc làm cho người lao động rất có ý nghĩa. Trong
mấy năm gần đây, số lao động đi xuất khẩu của nước ta mỗi năm đã lên đến trên
dưới 70 nghìn người và đến nay đã có khoảng trên 400 nghìn người Việt Nam
đang làm việc ở khoảng trên 40 nước và vùng lãnh thổ.
Thực hiện tốt công tác xuất khẩu lao động sẽ giảm được tệ nạn xã hội
do thất nghiệp gây ra, tạo một hướng lao động tích cực cho người lao động,
học tập được phong cách lao động mới do tổ chức lao động ở nước ngoài
trang bị...
+ Về quan hệ đối ngoại: Mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác trong lĩnh vực
xuất khẩu lao động là vô cùng quan trọng, từ đó quan hệ giữa nước cung ứng
lao động và nước tiếp nhận lao động trở nên gắn bó hơn, hiểu nhau hơn, tao ra
mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước. Cung cấp cho nhau những thông tin quan
trọng về những vấn đề hai nước cùng quan tâm và thống nhất quan điểm hai
bên cùng có lợi. Sự đa dạng hoá các quan hệ hợp tác quốc tế được mở rộng
thông qua hợp tác về lao động sẽ tạo điêù kiện mở rộng hơn nữa các quan hệ
hợp tác khác.
◘ Với nước nhập khẩu lao động:
+ Nước nhập khẩu lao động thu được những lợi ích đáng kể như: cung cấp
đủ số lao động bù đắp vào các ngành thiếu hụt, khai thác có hiệu qủa tiềm
năng của đất nước. Đồng thời, mở rộng quan hệ và uy tín với nước có lao
8
động, khai thác kinh nghiệm, kiến thức, tác phong lao động và cung cách
quản lý của nước khác, mở rộng nhu cầu thị trường trong nước...
+ Ngoài ra xuất khẩu lao động cũng góp phần giả quyết nhu cầu lao
động đặc biệt là trong các lĩnh vực mà lao động địa phương ít tham gia tại

1.1.5.1. Lợi ích kinh tế đạt được
◘ Số lượng lao động được giải quyết việc làm trong năm:
Công thức tính:
L = Lc + Lx - Ln
Trong đó:
L : Số lao động được giải quyết việc làm trong năm
Lc : Số lao động từ năm trước vẫn còn đang tiếp tục
Lx : Số lao động được đưa sang hoạt động trong năm
Ln : Số lao động kết thúc hợp đồng trở về nước trong năm
Chỉ tiêu này nêu ra được chi tiết kết quả đạt được trong một năm qua
của công tác xuất khẩu lao động. Nó chỉ ra được những đóng góp của lĩnh vực
này đối với việc tạo công ăn việc làm cho xã hội mà nhà nước ta đã không
phải bỏ vốn đầu tư để tạo việc làm mới, giải quyết một phần tình trạng ứ đọng
lao động của đất nước (mặc dù trước khi đi xuất khẩu lao động những người
lao động này không phải tất cả đều thuộc diện thất nghiệp).
◘ Thu nhập quốc dân về ngoại tệ thông qua hoạt động xuất khẩu lao động:
Công thức tính:

10
P =∑ Yj ( j = 1 đến n)
Yj = Xij . Kj
Trong đó:
P : Mức thu của nhà nước
Y: Mức thu của nhà nước ở mỗi thị trường
n : Số thị trường đưa lao động sang
j : Nước đưa lao động sang
K : Tỷ số hối đoái quy đổi ra ngoại tệ quy ước
X : Thuế thu nhập mỗi người phải đóng
Chỉ tiêu này cho biết số tiền nhà nước thu được thông qua xuất khẩu lao
động. Vấn đề ngoại tệ (nhất là ngoại tệ mạnh) đối với Việt Nam có ý nghĩa to

. N
j
Trong đó:
G : Giá trị hàng hoá do người lao động đem về
H : Giá trị hàng hoá do người lao động ở mỗi thị trường đem về
h : Giá trị hàng hoá trung bình của một người lao động đem về
N : Số người gửi hàng hoá về trong năm
i : Biến số người
j : Biến số thị trường
Chỉ tiêu cho biết lượng hàng hoá do người lao động đem về góp phần
vào việc cân đối quỹ hàng hoá trong nước và cải thiện đời sống gia đình, tăng
thêm máy móc thiết bị làm tư liệu sản xuất.
◘ Thu nhập do lao động đi làm việc ở nước ngoài bổ sung vào thu nhập
quốc dân:
Công thức tính:
Q =∑ (Pj + Vij) . k
j
( j = 1 đến n)
12
Trong đó:
Q : Thu nhập của người lao động làm việc ở nước ngoài tính vào thu
nhập quốc dân
P : Các khoản phải nộp của mỗi người lao động
V : Thu nhập của người lao động sau khi đã khấu trừ phần phải nộp
k : Tỷ giá hối đoái quy đổi ngoại tệ
i : Biến số người
j : Biến số nước sử dụng lao động
Chỉ tiêu cho biết phần thu nhập của người lao động ở nước ngoài được
tính vào thu nhập quốc dân.
Ngoài các chỉ tiêu có thể lượng hoá được để so sánh nói trên còn có một

nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài khác nhau.
+Tuyển chọn lao động đi XKLĐ. Đây là quá trình có vai trò quyết định
đến chất lượng nguồn lao động đi làm việc ở nước ngoài. Thông qua quá trình
tuyển chọn lao động đi XKLĐ công ty XKLĐ sẽ sàng lọc, đánh giá và tuyển
chọn được những người lao động có đầy đủ năng lực, trình độ, phẩm chất
theo yêu cầu của đối tác nước bạn nhập khẩu lao động Việt Nam.
Vai trò:
◘ Đối với công ty XKLĐ:
+Là hoạt động có vai trò quan trọng đến sự thành công trong kinh
doanh XKLĐ của công ty, đến uy tín và khả năng cạnh tranh của công ty.
+Nếu tuyển dụng được nguồn lao động đi XKLĐ phù hợp với yêu cầu
của phía đối tác nước ngoài (là các công ty, doanh nghiệp, tổ chức nước
14
ngoài) sẽ giúp công ty giảm bớt được chi phí cho đào tạo, giáo dục định
hướng, cũng như các rủi ro khác
◘ Đối với người lao động đi XKLĐ:
+ Công tác tuyển dụng nếu được làm tốt sẽ giúp người lao động có nhu
cầu đi XKLĐ có đầy đủ thông tin, nhanh chóng, chính xác về công tác XKLĐ
của công ty XKLĐ. Qua đó giúp người lao động có nhu cầu đi XKLĐ giảm
thiểu được các chi phí tìm kiếm, tìm hiểu , đi lại,..., tránh được sự lừa gạt của
các công ty “ma” .
1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tuyển dụng lao động đi XKLĐ
◘ Nguồn lao động cần tuyển dụng đi XKLĐ: Đây là tập hợp những
người có nhu cầu, và mong muốn được đi làm việc ở nước ngoài.
+ Khả năng cập nhật, tìm kiếm thông tin XKLĐ của người lao động có
nhu cầu đi XKLĐ. Theo khảo sát của Chính phủ thì có đến 96% lao động đi
XKLĐ là nông dân. Họ là những người xuất thân nghèo khó, ít được đầu tư
học tập nên trình độ tay nghề, khả năng giao tiếp, khả năng tiếp thu còn rất
hạn chế. Vì vậy mặc dù họ có nhu cầu đi XKLĐ thật sự, nhưng cũng là người
thiếu thông tin, hiểu biết về các công ty XKLĐ . Phần lớn người lao động

vào năng lực của cán bộ tuyển dụng lao động đi XKLĐ
+ Năng lực phỏng vấn, định hướng cho người lao động đi XKLĐ. Biết
cách tiếp cận, gần gũi với người lao động, giải quyết tốt những nghi vấn, thắc
mắc của họ về những vấn đề liên quan đến XKLĐ, định hướng cho họ phải
làm gì, hành trang gì khi đi XKLĐ là một trong những cách tốt nhất gây dựng
lòng tin của người lao động đi XKLĐ đối với công ty XKLĐ.
◘ Sự cạnh tranh của các công ty XKLĐ khác. Hiện nay cả nước có đến cả
trăm công ty lớn nhỏ kinh doanh về XKLĐ. Đó là chưa kể đến các cục, sở làm
công tác XKLĐ ở các địa phương. Vì vậy mà mức độ cạnh tranh về XKLĐ, đặc
biệt là cạnh tranh về tìm và tạo nguồn lao động đi XKLĐ là rất mạnh mẽ.
16
◘ Cơ chế, chính sách về XKLĐ của Nhà nước, Chính phủ. Cho đến
nay đã có nhiều cơ chế, chính sách, luật về XKLĐ được ban hành. Và điều đó
đã gây ảnh hưởng ít nhiều đến công tác tuyển dụng lao động đi XKLĐ của
các công ty XKLĐ.
◘ Những đòi hỏi, yêu cầu từ phía đối tác nước ngoài.Với từng đối tác
nước ngoài, và ở từng thời điểm thì họ lại có những yêu cầu khác nhau về
chất lượng người lao động Việt Nam như thế nào. Có nước nhập khẩu lao
động chỉ đòi hỏi lao động Việt Nam có trình độ phổ thông, nhưng cũng có
những nước đòi hỏi người lao động Việt Nam phải có bằng cấp, trình độ cao,
ngoại ngữ tốt. Nếu như trước kia hầu hết các nước nhập khẩu lao động đều
muốn thuê một số lượng lớn lao động Việt Nam có trình độ phổ thông, hoặc
chưa qua đào tạo thì nay hầu hết các nước này lại chỉ muốn thuê lao động
Việt Nam có trình độ.
1.2.3. Các phương pháp tuyển dụng lao động đi XKLĐ
◘ Phương pháp tuyển dụng trực tiếp: Công ty XKLĐ tự mình tuyển
dụng lấy nguồn lao động có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài mà không qua
trung gian.
+ Phương pháp tuyển dụng trực tiếp tại công ty: Người lao động trực tiếp
đến công ty phỏng vấn, nộp hồ sơ, làm thủ tục XKLĐ. Phương pháp này có

lao động đã được đảm bảo tin cậy về trình độ tay nghề, chuyên môn nghiệp
vụ, do vậy giúp công ty XKLĐ giảm được chi phí đào tạo cho người lao
động. Nhược điểm của phương pháp này là nhiều khi phải tốn nhiều thời gian
vì quá trình đào tạo nghề của người lao động ở các trường, trung tâm dạy
nghề có thể ngắn hạn, dài hạn.
18
1.2.4. Quá trình tuyển dụng lao động đi XKLĐ
Dựa vào những yêu cầu của nước nhập khẩu lao động, công ty XKLĐ sẽ
đặt ra các tiêu chuẩn tuyển dụng lao động đi làm việc ở nước ngoài . Các tiêu
chuẩn tuyển dụng xác định những yêu cầu về tuổi, giới tính, tình trạng sức
khỏe, trình độ tay nghề, ngoại ngữ.
Tuyển dụng lao động đi XKLĐ bao gồm tuyển mộ và tuyển chọn lao
động đi XKLĐ, vì vậy nó bao gồm một số bước thông thường sau:
◘ Quảng bá, thu hút người lao động có nhu cầu đi XKLĐ. Có nhiều
phương thức để quảng bá, thu hút như thông qua các phương tiện thông tin đại
chúng như báo, đài, ti vi hay qua mạng intẻnet,... Hiện nay có một cách rất hữu
hiệu được nhiều công ty XKLĐ áp dụng và cũng được nhà nước rất khuyến
khích , đó chính là “ mô hình liên kết 3 nhà” là: Nhà tuyển dụng lao động XKLĐ
( công ty XKLĐ ) - Địa phương - Người lao động . Đây là mô hình vừa có thế
giúp công ty XKLĐ dễ dàng tiếp cận hơn với người lao động có nhu cầu đi
XKLĐ ở các địa phương, vừa giúp các cơ quan, chức năng địa phương có liên
quan quản lý tốt nguồn lao động đi XKLĐ, tạo công ăn, việc làm cho họ , khắc
phục được các hiện tượng cò mội, môi giới, lừa đảo người lao động, đồng thời
vừa có thế giúp người lao động được tạo điều kiện dễ dàng hơn trong việc làm
thủ tục hành chính và vay vốn, giảm thiểu nhiều chi phí.
◘ Tiếp đón ban đầu và định hướng sơ bộ. Những người lao động có nhu
cầu đi XKLĐ muốn đến công ty để làm thủ tục đi XKLĐ sẽ được cán bộ của
công ty XKLĐ tiếp đón và có những định hướng cho họ về những hành tranh
mà họ cần phải có như hồ sơ cá nhân, văn bằng, chứng chỉ, visa,.hay khoản
chi phí họ phải đóng , thời gian nộp hồ sơ,...

động đi XKLĐ được coi là nhân tố quyết định đến năng lực, đến uy tín và khả
năng cạnh tranh của các công ty XKLĐ. Công tác đào tạo, giáo dục định
hướng nếu được làm tốt sẽ giúp công ty XKLĐ có được những bước phát
triển bền vững hơn, nhất là trong thời đại ngày nay khi mà các nước nhập
khẩu lao động ngày càng có nhu cầu cao hơn về lao động Việt Nam có trình
độ cao hơn, tác phong, ý thức kỷ luật tốt hơn, hòa nhập văn hóa tốt hơn, giao
tiếp tốt hơn.
+ Giúp công ty giảm thiểu được rủi ro về tình trạng người lao động Việt
Nam bỏ trốn về nước, tự phá bỏ hợp đồng ra ngoài làm việc, qua đó gìn gĩư
và nâng cao uy tín về XKLĐ đối với trong và ngoài nước. Nếu đào tạo hời
hợt, qua loa cho người lao động, không giáo dục định hướng một cách tốt
nhất cho họ những hành trang cần thiết khi làm việc ở nước ngoài thì sẽ xảy
ra tình trạng người lao động không đủ trình độ, năng lực để làm việc ở nước
ngoài, hay thiếu ý thức bỏ trốn ra ngoài ,... Đây là điều không một công ty
XKLĐ nào mong muốn.
◘ Đối với người lao động đi XKLĐ:
+ Giúp người lao động đi XKLĐ nâng cao được trình độ, năng lực bản
thân, qua đó giúp họ có cơ hội được làm công việc có thu nhập cao bên công
ty nước ngoài
+ Giúp người lao động sau khi về nước có thể có đủ trình độ, năng lực
để tìm kiếm việc làm. Sau thời gian làm việc ở bên nước ngoài trở về nước
người lao động có thể tự tin hơn vì bản thân họ đã có được một số vốn trình
độ, kiến thức nhất định để có thể tìm kiếm được việc làm ở trong nước.
◘ Đối với Xã hội:
+ Giúp xã hội giảm bớt gánh nặng về giải quyết việc làm, nâng cao trình
độ, tay nghề cho người lao động.
21

Trích đoạn Sự cần thiết phải cải tiến công tác tuyển dụng và đào tạo lao động xuất khẩu đi làm việc ở nước ngoài của công ty Cổ phần Nhân lực và Lịch sử hình thành và phát triển củaCông ty Các lĩnh vực kinh doanh chính của công ty Kết quả sản xuất kinh doanh củaCông ty Cổ phần Nhân lực Và Thương mại Vinaconex trong các năm 2005,2006 và 2007 và quý I/ Thực trạng công tác tuyển dụng và đào tạo lao động xuất khẩu đi làm việc ở nước ngoài của Công ty Cổ phần Nhân lực và Thương mạ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status