Cải tiến công tác tuyển dụng và đào tạo lao động xuất khẩu đi làm việc ở nước ngoài của công ty Cổ phần Nhân lực và Thương mại Vinaconex - Pdf 11

LỜI MỞ ĐẦU
Xuất khẩu lao động là hoạt động đã được quan tâm từ khá lâu ở Việt
Nam, nhưng vai trò quan trọng của nó chỉ thực sự được Đảng, Nhà nước ta
quan tâm đầu tư trong những năm trở lại đây, nhất là khi quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ. Đảng và Nhà nước ta coi hoạt động
xuất khẩu lao động là hoạt động kinh tế-xã hội quan trọng góp phần phát triển
nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay
nghề cho người lao động, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước và tăng cường
hợp tác quốc tế giữa nước ta với các nước khác trên thế giới.
Có một thực tế đối với nguồn lao động Việt Nam có nhu cầu sang nước
ngoài làm việc là nguồn lao động dồi dào nhưng chủ yếu là nông dân trình độ
học vấn còn thấp, chuyên môn tay nghề chưa có hoặc chưa vững, trong khi
vốn ngoại ngữ lại hạn chế, thiếu thông tin,... nên công tác tuyển dụng và đào
tạo nguồn lao động này cho đảm bảo yêu cầu chất lượng mà phía đối tác
nước ngoài yêu cầu là rất khó khăn, gặp nhiều thách thức. Bên cạnh đó sự hạn
chế về nguồn lực,sự thiếu đầu tư cho công tác tuyển dụng và đào tạo lao động
cho XKLĐ từ phía các công ty kinh doanh XKLĐ cũng là nguyên nhân dẫn
đến sự thiếu hiệu quả trong kinh doanh XKLĐ.
Để đi sâu nghiên cứu về công tác tuyển dụng và đào tạo lao động xuất
khẩu đi làm việc ở nước ngoài, tôi đã chọn chuyên đề thực tập với tên đề tài :
“ Cải tiến công tác tuyển dụng và đào tạo lao động xuất khẩu đi làm
việc ở nước ngoài của công ty Cổ phần Nhân lực và Thương mại
Vinaconex”.
Để thu thập được tư liệu, thông tin cần thiết cho đề tài, tôi đã sử dụng các
phương pháp phân tích, tổng họp, thống kê, phương pháp nghiên cứu tại bàn (ở nhà
tự tìm hiểu thông tin qua sách, báo, internet,...), phương pháp khảo sát thực tế
(trực tiếp tìm hiểu thông tin tại công ty thông qua thời gian thực tập),...
Một số nội dung chính như : Tại sao phải cải tiến công tác tuyển dụng và
đào tạo lao xuất khẩu đi làm việc ở nước ngoài của Công ty? Thực trạng công
tác tuyển dụng và đào tạo lao động xuất khẩu đi làm việc ở nước ngoài của
Công ty ? Giải pháp và kiến nghị nhằm cải tiến công tác tuyển dụng và đào

thuộc rất lớn vào nhu cầu của nước nhập khẩu lao động.
Để làm rõ về xuất khẩu lao động cần làm rõ một số khái niệm liên quan:
- Lao động: là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm
thay đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người. Lao động
chính là quá trình kết hợp sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản
phẩm phục vụ nhu cầu con người.Nó là yếu tố quyết định cho mọi hoạt động
kinh tế xã hội.
- Sức lao động: Nó là tổng hợp thể lực và trí lực của con người trong
quá trình tạo ra của cải xã hội. Nó phản ánh khả năng lao động của con
người, là điều kiện đầu tiên cần thiết trong quá trình lao động xã hội. Trong
nền kinh tế hàng hóa thì sức lao động là một hàng hóa đặc biệt. Ngoài những
giá trị và giá trị sử dụng như những hàng hóa thông thường thì nó còn có các
giá trị khác về tư duy, tinh thần. Thông qua thị trường lao động, hàng hóa sức
lao động được xác định giá cả. Hàng hóa sức lao động cũng tuân theo quy luật
cung-cầu của thị trường. Khi mức cung cao sẽ dẫn tới dư thừa lao động, giá
cả sức lao động ( biểu hiện bằng tiền công ) sẽ thấp, ngược lại khi mức cung
thấp sẽ dẫn tới tình trạng thiếu lao động , giá cả sức lao động sẽ cao hơn.
- Thị trường lao động: Trong mỗi xã hội, nơi nào xuất hiện nhu cầu sử
dụng lao động và có nguồn lao động cung cấp, ở đó sẽ hình thành nên thị
trường lao đông. Trong nền kinh tế thị trường, người lao đông muốn tìm việc
phải thông qua thị trường lao động. Về mặt thuật ngữ, "Thị trưòng lao đông"
thực chất phải được hiểu là "Thị trường sức lao động" để phù hợp với khái
niệm của tổ chức lao động quốc tế: Thị trường lao động là một lĩnh vực của
nền kinh tế, nó bao gồm toàn bộ các quan hệ lao động được xác lập trong lĩnh
vực mua bán, trao đổi và thuê mướn sức lao động. Trên thị trường lao động,
mối quan hệ được thiết lập giữa một bên là người lao động và một bên là
người sử dụng lao động. Qua đó, cung-cầu về lao đọng ảnh hưởng tới tiền
công lao động và mức tiền công lao động cũng ảnh hưởng tới cung - cầu lao
động.
Xuất khẩu lao động trên thị trường lao động quốc tế được thực hiện chủ

- Căn cứ vào nước xuất khẩu lao động:
+ Nhóm các nước phát triển: Có xu hướng gửi lao động kỹ thuật cao
sang các nước đang phát triển để thu ngoại tệ. Trường hợp này không phải là
chảy máu chất xám mà là đầu tư chất xám có mục đích. Việc đầu tư nhằm
một phần thu lại kinh phí đào tạo cho đội ngũ chuyên gia trong nhiều năm,
một phần khác lớn hơn là phát huy năng lực trình độ đội ngũ chuyên gia, công
nhân kỹ thuật bậc cao ở nước ngoài .v.v... để thu ngoại tệ.
+ Nhóm các nước đang phát triển: có xu hướng gửi lao động bậc trung
hoặc bậc thấp sang các nước có nhu cầu để lấy tiền công và tích luỹ ngoại tệ,
giảm bớt khó khăn kinh tế và sức ép việc làm trong nước.
1.1.3. Các hình thức xuất khẩu lao động:
Xuất khẩu lao động thực tế đem lại lợi ích thiết thực cho cả người lao động và
phía Nhà nước. Nhận thức rõ điều đó Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng
đưa ra những chủ trương, chính sách tạo điều kiện cho người lao động có cơ
hội đi làm việc ở nước ngoài. Hi?n nay cú m?t s? hỡnh th?c xu?t kh?u lao d?
ng ch? y?u sau:
- Thông qua doanh nghiệp Việt Nam được phép cung ứng lao động
theo hợp đồng ký kết với bên nước ngoài:
Đối tác nước ngoài có nhu cầu sử dụng lao động, đưa ra những yêu cầu cụ thể
về số lượng, tuổi tác, nghề nghiệp, giới tính...Các doanh nghiệp, tổ chức kinh
tế của Việt Nam sau khi nhận được đơn đặt hàng của bên nước ngoài sẽ tiến
hành sơ tuyển dựa trên những tiêu chí có sẵn. Để đảm bảo đúng yêu cầu của
mình, bên nước ngoài thực hiện kiểm tra lại một lần nữa trước khi lao động
sang làm việc.
- Thông qua doanh nghiệp Việt Nam nhận thầu, nhận khoán công
trình hoặc đầu tư ở nước ngoài.
Bên nước ngoài đặt hành cho các công trình xây dựng, do vậy phải đưa đi
đồng bộ các đối tượng lao động gồm có kỹ thuật, quản lý, chỉ đạo thi công và
lao động trực tiếp sang nước ngoài làm việc. Sau khi công trình kết thúc thì
cũng chấm dứt hợp đồng đối với người lao động, vì thế xuất khẩu lao động

lược giải quyết việc làm, đây là một công cụ hữu hiệu để thực hiện mục tiêu
của Đảng và Nhà nước ta đặt ra tới năm 2010 sẽ xoá hết đói nghèo. Kinh
nghiệm từ một số nước cho thấy, xuất khẩu lao động là một giải pháp khắc
phục tình trạng thất nghiệp có hiệu quả cao.
Bên cạnh những đóng góp trên, xuất khẩu lao động còn đem lại nguồn thu
ngoại tệ đáng kể cho đất nước, góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế
do vậy rút ngắn khoảng cách giàu - nghèo giữa nước phát triển và nước đang
phát triển.
Xuất khẩu lao động cũng là một kênh đem lại một nguồn thu nhập quan
trọng cho đất nước.
+ Về xã hội: Đối với một nước hơn 82 triệu dân, với trên một nửa là số
người trong độ tuổi lao động, nhưng số người thất nghiệp ở thành thị lên đến
5,6% và số thời gian chưa được sử dụng ở nông thôn lên đến trên 20%, thì
xuất khẩu lao động là một kênh giải quyết việc làm cho người lao động rất có
ý nghĩa. Trong mấy năm gần đây, số lao động đi xuất khẩu của nước ta mỗi
năm đã lên đến trên dưới 70 nghìn người và đến nay đã có khoảng tren 400
nghìn người Việt Nam đang làm việc ở khoảng trên 40 nước và vùng lãnh
thổ.
Thực hiện tốt công tác xuất khẩu lao động sẽ giảm được tệ nạn xã hội do
thất nghiệp gây ra, tạo một hướng lao động tích cực cho người lao động, học
tập được phong cách lao động mới do tổ chức lao động ở nước ngoài trang
bị...
+ Về quan hệ đối ngoại: Mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác trong lĩnh
vực xuất khẩu lao động là vô cùng quan trọng, từ đó quan hệ giữa nước cung
ứng lao động và nước tiếp nhận lao động trở nên gắn bó hơn, hiểu nhau hơn,
tao ra mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước. Cung cấp cho nhau những thông tin
quan trọng về những vấn đề hai nước cùng quan tâm và thống nhất quan điểm
hai bên cùng có lợi. Sự đa dạng hoá các quan hệ hợp tác quốc tế được mở
rộng thông qua hợp tác về lao động sẽ tạo điêù kiện mở rộng hơn nữa các
quan hệ hợp tác khác.

đạt được hiệu quả đó (Hiệu quả H= kết quả - chi phí). Có hai loại hiệu quả
là hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Hiệu quả kinh tế là hiệu quả đạt được
về mặt kinh tế, còn hiệu quả xã hội là hiệu quả đạt được về mặt xã hội. Đây là
khái niệm chung để đánh giá hiệu quả, tuy nhiên khi đi vào từng lĩnh vực cụ
thể thì việc đánh giá hiệu quả không đơn giản chút nào, đặc biệt là trong lĩnh
vực xuất khẩu lao động này. Một số chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả của xuất
khẩu lao động
1.1.5.1. Lợi ích kinh tế đạt được
- Số lượng lao động được giải quyết việc làm trong năm:
Công thức tính:
L = Lc + Lx - Ln
Trong đó:
L : Số lao động được giải quyết việc làm trong năm
Lc : Số lao động từ năm trước vẫn còn đang tiếp tục
Lx : Số lao động được đưa sang hoạt động trong năm
Ln : Số lao động kết thúc hợp đồng trở về nước trong năm
Ý nghĩa của chỉ tiêu:
Chỉ tiêu này nêu ra được chi tiết kết quả đạt được trong một năm qua
của công tác xuất khẩu lao động. Nó chỉ ra được những đóng góp của lĩnh vực
này đối với việc tạo công ăn việc làm cho xã hội mà nhà nước ta đã không
phải bỏ vốn đầu tư để tạo việc làm mới, giải quyết một phần tình trạng ứ đọng
lao động của đất nước (mặc dù trước khi đi xuất khẩu lao động những người
lao động này không phải tất cả đều thuộc diện thất nghiệpm).
- Thu nhập quốc dân về ngoại tệ thông qua hoạt động xuất khẩu lao động:
Công thức tính:
P =∑ Yj ( j = 1 đến n)
Yj = Xij . Kj
Trong đó:
P : Mức thu của nhà nước
Y: Mức thu của nhà nước ở mỗi thị trường

quyết việc làm.
- Giá trị hàng hoá do người lao động đưa về:
Công thức tính:
G =∑ Hj
( j = 1 đến n)
Hj =∑ h
ij
. N
j
Trong đó:
G : Giá trị hàng hoá do người lao động đem về
H : Giá trị hàng hoá do người lao động ở mỗi thị trường đem về
h : Giá trị hàng hoá trung bình của một người lao động đem về
N : Số người gửi hàng hoá về trong năm
i : Biến số người
j : Biến số thị trường
Ý nghĩa chỉ tiêu:
Cho biết lượng hàng hoá do người lao động đem về góp phần vào việc
cân đối quỹ hàng hoá trong nước và cải thiện đời sống gia đình, tăng thêm
máy móc thiết bị làm tư liệu sản xuất.
- Thu nhập do lao động đi làm việc ở nước ngoài bổ sung vào thu
nhập quốc dân:
Công thức tính:
Q =∑ (Pj + Vij) . k
j
( j = 1 đến n)
Trong đó:
Q : Thu nhập của người lao động làm việc ở nước ngoài tính vào thu
nhập quốc dân
P : Các khoản phải nộp của mỗi người lao động

hút nguồn lao động có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài được đặt lên hàng
đầu. Mỗi công ty XKLĐ sẽ có các phương thức tuyển mộ nguồn lao động có
nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài khác nhau.
+Tuyển chọn lao động đi XKLĐ. Đây là quá trình có vai trò quyết định
đến chất lượng nguồn lao động đi làm việc ở nước ngoài. Thông qua quá trình
tuyển chọn lao động đi XKLĐ công ty XKLĐ sẽ sàng lọc, đánh giá và tuyển
chọn được những người lao động có đầy đủ năng lực, trình độ, phẩm chất
theo yêu cầu của đối tác nước bạn nhập khẩu lao động Việt Nam.
Vai trò:
- Đối với công ty XKLĐ:
+Là hoạt động có vai trò quan trọng đến sự thành công trong kinh
doanh XKLĐ của công ty, đến uy tín và khả năng cạnh tranh của công ty.
+Nếu tuyển dụng được nguồn lao động đi XKLĐ phù hợp với yêu cầu
của phía đối tác nước ngoài (là các công ty, doanh nghiệp, tổ chức nước
ngoài) sẽ giúp công ty giảm bớt được chi phí cho đào tạo, giáo dục định
hướng, cũng như các rủi ro khác
- Đối với người lao động đi XKLĐ:
+ Công tác tuyển dụng nếu được làm tốt sẽ giúp người lao động có nhu
cầu đi XKLĐ có đầy đủ thông tin, nhanh chóng, chính xác về công tác XKLĐ
của công ty XKLĐ. Qua đó giúp người lao động có nhu cầu đi XKLĐ giảm
thiểu được các chi phí tìm kiếm, tìm hiểu , đi lại,..., tránh được sự lừa gạt của
các công ty “ma” .
1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tuyển dụng lao động đi XKLĐ
- Nguồn lao động cần tuyển dụng đi XKLĐ: Đây là tập hợp những
người có nhu cầu, và mong muốn được đi làm việc ở nước ngoài.
+ Khả năng cập nhật, tìm kiếm thông tin XKLĐ của người lao động có
nhu cầu đi XKLĐ. Theo khảo sát của Chính phủ thì có đến 96% lao động đi
XKLĐ là nông dân. Họ là những người xuất thân nghèo khó, ít được đầu tư
học tập nên trình độ tay nghề, khả năng giao tiếp, khả năng tiếp thu còn rất
hạn chế. Vì vậy mặc dù họ có nhu cầu đi XKLĐ thật sự, nhưng cũng là người

vào năng lực của cán bộ tuyển dụng lao động đi XKLĐ
+ Năng lực phỏng vấn, định hướng cho người lao động đi XKLĐ. Biết
cách tiếp cận, gần gũi với người lao động, giải quyết tốt những nghi vấn, thắc
mắc của họ về những vấn đề liên quan đến XKLĐ, định hướng cho họ phải
làm gì, hành trang gì khi đi XKLĐ là một trong những cách tốt nhất gây dựng
lòng tin của người lao động đi XKLĐ đối với công ty XKLĐ.
- Sự cạnh tranh của các công ty XKLĐ khác. Hiện nay cả nước có đến
cả trăm công ty lớn nhỏ kinh doanh về XKLĐ. Đó là chưa kể đến các cục, sở
làm công tác XKLĐ ở các địa phương. Vì vậy mà mức độ cạnh tranh về
XKLĐ, đặc biệt là cạnh tranh về tìm và tạo nguồn lao động đi XKLĐ là rất
mạnh mẽ.
- Cơ chế, chính sách về XKLĐ của Nhà nước, Chính phủ. Cho đến nay
đã có nhiều cơ chế, chính sách, luật về XKLĐ được ban hành. Và điều đó đã
gây ảnh hưởng ít nhiều đến công tác tuyển dụng lao động đi XKLĐ của các
công ty XKLĐ.
- Những đòi hỏi, yêu cầu từ phía đối tác nước ngoài.Với từng đối tác
nước ngoài, và ở từng thời điểm thì họ lại có những yêu cầu khác nhau về
chất lượng người lao động Việt Nam như thế nào. Có nước nhập khẩu lao
động chỉ đòi hỏi lao động Việt Nam có trình độ phổ thông, nhưng cũng có
những nước đòi hỏi người lao động Việt Nam phải có bằng cấp, trình độ cao,
ngoại ngữ tốt. Nếu như trước kia hầu hết các nước nhập khẩu lao động đều
muốn thuê một số lượng lớn lao động Việt Nam có trình độ phổ thông, hoặc
chưa qua đào tạo thì nay hầu hết các nước này lại chỉ muốn thuê lao động
Việt Nam có trình độ.
1.2.3. Các phương pháp tuyển dụng lao động đi XKLĐ
- Phương pháp tuyển dụng trực tiếp ( Công ty XKLĐ tự mình tuyển
dụng lấy nguồn lao động có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài mà không qua
trung gian).
- Phương pháp tuyển dụng gián tiếp ( Công ty tuyển dụng lấy nguồn
lao động có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài thông qua trung gian)

Khái niệm:
Đào tạo lao động đi XKLĐ là quá trình giáo dục, nâng cao chất lượng
của người lao động đi XKLĐ cho phù hợp với yêu cầu của các đối tác công ty
nước ngoài cần thuê lao động. Chất lượng của người lao động đi XKLĐ được
thể hiện ở trình độ, tay nghề, tác phong, ý thức kỷ luật, khả năng giao tiếp,
khả năng tiếp thu, hòa nhập với văn hóa nước bạn,...
Vai trò:
- Đối với công ty XKLĐ:
+ Giúp công ty có được những người lao động đi XKLĐ có chất lượng
đáp ứng được yêu cầu của phía đối tác nước ngoài. Hiện nay chất lượng người
lao động đi XKLĐ được coi là nhân tố quyết định đến năng lực, đến uy tín và
khả năng cạnh tranh của các công ty XKLĐ. Công tác đào tạo, giáo dục định
hướng nếu được làm tốt sẽ giúp công ty XKLĐ có được những bước phát
triển bền vững hơn, nhất là trong thời đại ngày nay khi mà các nước nhập
khẩu lao động ngày càng có nhu cầu cao hơn về lao động Việt Nam có trình
độ cao hơn, tác phong, ý thức kỷ luật tốt hơn, hòa nhập văn hóa tốt hơn, giao
tiếp tốt hơn.
+ Giúp công ty giảm thiểu được rủi ro về tình trạng người lao động Việt
Nam bỏ trốn về nước, tự phá bỏ hợp đồng ra ngoài làm việc, qua đó gìn gĩư
và nâng cao uy tín về XKLĐ đối với trong và ngoài nước. Nếu đào tạo hời
hợt, qua loa cho người lao động, không giáo dục định hướng một cách tốt
nhất cho họ những hành trang cần thiết khi làm việc ở nước ngoài thì sẽ xảy
ra tình trạng người lao động không đủ trình độ, năng lực để làm việc ở nước
ngoài, hay thiếu ý thức bỏ trốn ra ngoài ,... Đây là điều không một công ty
XKLĐ nào mong muốn.
- Đối với người lao động đi XKLĐ:
+ Giúp người lao động đi XKLĐ nâng cao được trình độ, năng lực bản
thân, qua đó giúp họ có cơ hội được làm công việc có thu nhập cao bên công
ty nước ngoài
+ Giúp người lao động sau khi về nước có thể có đủ trình độ, năng lực

đào tạo lao động đi XKLĐ của Việt Nam.
- Yêu cầu về chất lượng người lao động đi XKLĐ cần đào tạo mà phía
đối tác nước ngoài đưa ra. Đối với từng đối tác, ở từng thời kỳ khác nhau thì
họ lại có những yêu cầu về chất lượng lao động Việt Nam khác nhau. Điều đó
buộc các công ty XKLĐ phải điều chỉnh công tác đào tạo cho phù hợp với
yêu cầu của họ.
1.3.3. Các phương pháp đào tạo lao động đi XKLĐ
- Phương pháp đào tạo trực tiếp ( Công ty XKLĐ tự xây dựng cơ sở
đào tạo và trực tiếp đưa cán bộ của công ty đào tạo, giảng dạy)
-Phương pháp đào tạo gián tiếp (Thông qua một số trường, cơ sở đào
tạo bên ngoài)
1.3.4. Các nội dung chính cần đào tạo cho người lao động đi XKLĐ
- Chuyên môn tay nghề. Để làm việc được ở các tổ chức, doanh nghiệp
ở nước ngoài thì yêu cầu đầu tiên, tối quan trọng là chuyên môn tay nghề.
Không có chuyên môn tay nghề, người lao động sẽ không thể thực hiện được
các công việc, nhiệm vụ mà tổ chức, doanh nghiệp ở nước ngoài giao cho.
- Tác phong làm việc, ý thức kỷ luật. Đây là yêu cầu được coi là rất
quan trọng đối với lao động Việt Nam bởi lao động Việt Nam vốn thiếu tác
phong công nghiệp, ý thức kỷ luật, ý thức tập thể rất kém. Lối sống nông
nghiệp, tự phát ở nông thôn đã ăn sâu vào tiềm thức của người lao động Việt
Nam-những người xuất thân chủ yếu là nông dân nghèo chưa được tiếp xúc
nhiều với máy móc, công nghệ.
- Trình độ ngoại ngữ, giao tiếp. Đây cũng là một trong những điểm yếu
của lao động Việt Nam cần khắc phục. Muốn làm việc tốt thì người lao động
phải hiểu cấp trên người nước ngoài nói gì, mà muốn thế họ phải có khả năng
giao tiếp bằng ngoại ngữ tốt.
- Văn hóa, lối sống của nước nhập khẩu lao động. Văn hóa, lối sống
của người Việt Nam có những điểm khác biệt với nhiều nước trên thế giới. Để
người lao động Việt Nam có thể hòa nhập tốt với văn hóa, lối sống của các
nước nhập khẩu lao động mà họ sẽ làm việc thì cần phải có công tác giáo dục

2.1. Giới thiệu chung về Công ty Cổ phần Nhân lực và Thương
mại Vinaconex
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
- Tên doanh nghiệp: CÔNG TY CỔ PHẦN NHÂN LỰC VÀ
THƯƠNG MẠI VINACONEX
- Tên giao dịch: VINACONEX TRADING AND MANPOWER
JOINT STOCK COMPANY
- Địa chỉ trụ sở chính: Tầng 1 nhà 17 T6 khu đô thị mới Trung Hòa-
Nhân Chính, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
- Họ và tên giám đốc công ty: Ông Trần Thế Hà
- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 0103017007, do Sở Kế
hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp ngày 03 tháng 05 năm 2007
- Vốn điều lệ của công ty: 20.000.000.000 (Hai mươi tỷ đồng)
- Tài khoản tại ngân hàng: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam- Chi
nhánh Thành Công:
+ Tiền Việt Nam: 0451001382672
+ Tiền ngoại tệ: 0451371382682
Công ty cổ phần Nhân lực và Thương mại Vinaconex được thành lập
năm 1988 với tên là trung tâm Xuất khẩu lao động và Thương mại
Vinaconex. Năm 2000 được đổi thành công ty Cổ phần Nhân lực và Thương
mại Vinaconex, là đơn vị thực hiện chức năng xuất khẩu lao động, đào tạo
nghề, xuất nhập khẩu thương mại và Du lịch thuộc Tổng công ty Cổ phần
Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam VINACONEX
Sau 20 năm thành lập, công ty đã có được những bước phát triển mạnh
mẽ và bền vững, trở thành 1 trong những đơn vị đứng đầu về lĩnh vực xuất
khẩu lao động , thành công trong thương mại và du lịch. Kể từ ngày thành lập
đến nay công ty đã đưa được hơn 60.000 lượt lao động và chuyên gia đi làm
việc tại trên 30 nước trên thế giới như các nước thuộc khối XHCN cũ( Tiệp
Khắc, Bungary, Nga,...), Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, U.A.E, Quatar,...
với nhiều nhóm ngành nghề đa dạng như: công nhân, chuyên gia( quản lý ) về


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status