pháp luật về hoạt động đưa người lao động việt nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng – bất cập và giải pháp hoàn thiện - Pdf 30

Pháp luật về hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo
hợp đồng – Bất cập và giải pháp hoàn thiện

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT THƢƠNG MẠI


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA: (2010 – 2014)
Đề tài:
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG ĐƢA NGƢỜI LAO ĐỘNG VIỆT
NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƢỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG – BẤT
CẬP VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

Giảng viên hƣớng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

Th.s Diệp Thành Nguyên

Trịnh Thị Muội

Bộ môn: Luật Hành Chính

MSSV: 5105883
Lớp: Luật thƣơng mại 1 – K36

Cần Thơ tháng 8/2013
GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên


1.4. Tổng quan về tình hình hoạt động đƣa ngƣời lao động đi làm việc ở nƣớc
ngoài theo hợp đồng ........................................................................................................ 19
1.4.1. Tình hình đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp
đồng qua các giai đoạn ...................................................................................................... 19
1.4.2. Các thị trường Việt Nam tiến hành đưa người lao động đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng .......................................................................................................... 25
1.5. Chính sách của Đảng và Nhà nƣớc đối với hoạt động đƣa ngƣời lao động Việt
Nam đi làm việc ở nƣớc ngoài theo hợp đồng ............................................................... 29

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 2

SVTH: Trịnh Thị Muội


Pháp luật về hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo
hợp đồng – Bất cập và giải pháp hoàn thiện
CHƢƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG ĐƢA NGƢỜI
LAO ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƢỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG .. 32
2.1. Cơ sở pháp lý về hoạt động đƣa ngƣời lao động Việt Nam đi làm việc ở nƣớc
ngoài .................................................................................................................................. 32
2.1.1.

Điều kiện và trình tự thủ tục để người lao động Việt Nam đi làm việc ở

nước ngoài theo hợp đồng ................................................................................................. 32
2.1.2. Điều kiện và trình tự thủ tục để doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người
lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng............................................ 37
2.2. Quyền và nghĩa vụ của ngƣời lao động Việt Nam đi làm việc ở nƣớc ngoài theo

hợp đồng – Bất cập và giải pháp hoàn thiện
3.1. Thực trạng về hoạt động đƣa ngƣời lao động Việt Nam đi làm việc ở nƣớc
ngoài theo hợp đồng ........................................................................................................ 64
3.1.1. Những kết quả đạt được từ hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm
việc ở nước ngoài theo hợp đồng ...................................................................................... 64
3.1.2. Những vấn đề bất cập trong hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm
việc ở nước ngoài theo hợp đồng ...................................................................................... 67
3.2. Nguyên nhân dẫn đến những vấn đề bất cập trong hoạt động đƣa ngƣời lao
động Việt Nam đi làm việc ở nƣớc ngoài theo hợp đồng ............................................. 74
3.3. Giải pháp hoàn thiện và một số kiến nghị ............................................................ 76
KẾT LUẬN ...................................................................................................................... 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 4

SVTH: Trịnh Thị Muội


Pháp luật về hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo
hợp đồng – Bất cập và giải pháp hoàn thiện

LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong công cuộc đổi mới nền kinh tế đất nước, Đảng và nhà nước ta đang thực hiện
chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời đẩy
mạnh quan hệ hợp tác quốc tế trong giai đoạn hội nhập kinh tế toàn cầu hóa. Kinh tế - xã
hội đất nước trong thời gian qua đã đạt được kết quả đáng khích lệ. Lịch sử phát triển
kinh tế - xã hội cho thấy, mỗi quốc gia hay bất kỳ một nền kinh tế nào thì vấn đề lao

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 5

SVTH: Trịnh Thị Muội


Pháp luật về hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo
hợp đồng – Bất cập và giải pháp hoàn thiện
dụng sức lao động. Đặc biệt, số lượng lao động Việt Nam tự ý phá hợp đồng, bỏ trốn, và
cư trú bất hợp pháp ở các nước ngày một tăng. Những vấn đề đó đã tác động tiêu cực tới
quan hệ hợp tác lao động của Việt Nam với các nước trong khu vực, là nguyên nhân gây
ra nguy cơ bị đóng băng hoặc mất thị trường vào tay các nước khác, làm phức tạp thêm
tình hình, gây khó khăn cho công tác quản lý lao động Việt Nam ở các nước này. Hơn
nữa, xét về tầm chiến lược, những vấn đề đó nếu không được giải quyết triệt để sẽ làm
mất uy tín của người lao động cũng như các doanh nghiệp tiến hành hoạt động đưa người
lao động đi làm việc ở nước ngoài của Việt Nam trên thị trường lao động quốc tế, tạo dư
luận và tâm lý không tốt trong xã hội, làm ảnh hưởng xấu tới mục tiêu và hiệu quả của
hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài của Việt Nam sang các khu vực
trong thời gian tới. Đứng trước tình hình đó, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 10 đã thông qua Luật người lao động Việt Nam đi làm
việc ở nước ngoài theo hợp đồng ngày 29 tháng 11 năm 2006, có hiệu lực ngày 01 tháng
7 năm 2007 và sau đó hàng loạt các Nghị định và Thông tư hướng dẫn các quy định của
Luật này đã được ban hành.
Kể từ ngày Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
có hiệu lực thi hành đến nay, hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
diễn ra khá sôi nổi, thu hút lượng lớn lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài qua
nhiều hình thức, đặc biệt là hình thức đi làm việc theo hợp đồng được ký kết giữa doanh
nghiệp dịch vụ và người lao động. Bên cạnh những mặt tích cực thì Luật người lao động
Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng vẫn bộc lộ nhiều bất cập làm ảnh

góp phần để hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp
đồng trở thành một thế mạnh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Đưa nước ta phát
triển đi lên ngày càng đa dạng hơn ở tất cả các ngành và lĩnh vực, khẳng định vị thế của
mình không chỉ trong khu vực mà còn ở cả trên trường quốc tế.
Để đạt được mục đích trên luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu và tìm hiểu các vấn đề
sau:
- Tìm hiểu và phân tích các cơ sở lý luận của hoạt động đưa người lao động Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
- Phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề đưa người lao động đi
làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
- Phân tích tình hình hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng trong thời gian qua
- Nêu lên những bất cập, khó khăn trong hoạt động đưa người lao động Việt Nam
đi làm việc ở nước ngoài. Bên cạnh đó nêu lên những hạn chế, thiếu sót trong việc thực
hiện quy định của pháp luật trong thời gian qua. Để từ đó người viết nêu lên quan điểm
của mình và đề xuất những giải pháp hoàn thiện trong thời gian tới để hoạt động này
ngày càng phát triển hơn, phát huy hiệu quả thế mạnh của nước ta.
3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài “ Pháp luật về hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài theo đồng – Bất cập và giải pháp hoàn thiện” là một đề tài có nội dung rộng và
phức tạp vì liên quan đến rất nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội và sự quy định cụ thể của
pháp luật. Nên người viết không thể tập trung vào phân tích tất cả các lĩnh vực do thời
gian và kiến thức có giới hạn, chính vì thế với nội dung đề tài này người viết chỉ tập
trung đi sâu vào phân tích các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến hoạt động
đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Đồng thời nêu
lên thực tiễn hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp
GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 7



SVTH: Trịnh Thị Muội


Pháp luật về hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo
hợp đồng – Bất cập và giải pháp hoàn thiện

CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG ĐƢA NGƢỜI LAO
ĐỘNG VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƢỚC NGOÀI THEO HỢP
ĐỒNG
Trong cơ chế thị trường hiện nay, khi đời sống tinh thần và vật chất của con người
ngày càng được nâng cao thì lao động đã trở thành một nhu cầu tất yếu không thể thiếu
trong đời sống xã hội, lao động là một hoạt động quan trọng nhất của con người để tạo ra
của cải vật chất và các giá tinh thần. Lao động có năng suất, chất lượng và đạt hiệu quả
cao là nhân tố quyết định sự phát triển của một đất nước.
Việt Nam là nước có thế mạnh về nguồn lao động, với dân số hơn 86 triệu dân,
đứng thứ 14 trên thế giới và thứ 7 tại Châu Á, hằng năm với mức tăng dân số trung bình
khoảng 1 triệu người, đây chính là tiềm năng kinh tế rất lớn của nước ta. Nhưng do dân
số nước ta ngày một tăng nhanh, nhu cầu tìm việc làm ngày càng nhiều, nền kinh tế nước
ta đang trên đà phát triển nhưng vẫn còn đó những khó khăn, lạm phát kinh tế kéo dài,
đồng tiền mất giá, trong khi đó các công ty, nhà máy, xí nghiệp nước ta còn quá ít không
đủ đáp ứng nguồn lao động trong nước, dẫn đến nguồn lao động bị dư thừa. Khi có sự dư
thừa về lao động sẽ kéo theo những hệ lụy, đó là nạn thất nghiệp, đời sống người lao
động bị bấp bênh. Vì vậy, giải quyết việc làm cho người lao động là vấn đề đang được
toàn xã hội quan tâm và một trong những giải pháp của Đảng và nhà nước ta hiện nay là
đẩy mạnh hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp
đồng vừa mang tính cấp thiết vừa mang tính bền lâu
1.1. Một số khái niệm liên quan đến hoạt động đƣa ngƣời lao động Việt Nam
đi làm việc ở nƣớc ngoài theo hợp đồng
1.1.1. Việc làm

nước, hoặc làm việc trong các hợp tác xã. Với cách hiểu đó, khái niệm viêc làm đã không
tính đến những người lao động đang làm việc ở các khu vực sau:
-

Khu vực kinh tế tư nhân, cá thể, tự làm việc kể cả những người chưa đủ tuổi

hoặc đã quá tuổi lao động theo quy định chung của nhà nước.
- Làm việc tại nhà (nội trợ, chăm nom)
Mặt khác, cách hiểu trên cũng không phân biệt những người hiện trong guồng máy
sản xuất nhưng tạm thời thiếu việc làm hoặc thực tế không có việc làm.
Hiện nay, quan niệm về việc làm đã được thay đổi. “Việc làm là hoạt động lao
động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”.2 Giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi
người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của
các doanh nghiệp và toàn xã hội.
Theo khái niệm trên, thì việc làm được thể hiện dưới ba hình thức sau:
Thứ nhất, làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương bằng tiền hoặc bằng
hiện vật cho các công việc đó.
Thứ hai, làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân, bao gồm: Sản xuất nông
nghiệp trên đất do chính thành viên được quyền sử dụng, hoặc hoạt động kinh tế phi
nông nghiệp do chính thành viên đó làm chủ toàn bộ hoặc một phần.
Thứ ba, làm công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới
hình thức tiền công, tiền lương cho việc đó. Bao gồm sản xuất nông nghiệp trên đất do
chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ có quyền sử dụng; hoặc hoạt động kinh tế phi nông
nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ đứng ra làm chủ hoặc quản lý.

2

Khoản 1 Điều 9 Bộ luật lao động năm 2012.

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

đông dân cư khó khăn về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng), vào những nhóm người nhất
định (lao động không có trình độ tay nghề, trình độ văn hoá thấp). Không có việc làm
trong dài hạn còn dẫn tới mất cơ hội trau dồi, nắm bắt và nâng cao trình độ kĩ năng nghề
nghiệp làm hao mòn và mất đi kiến thức, trình độ vốn có.
Khi mọi cá nhân trong xã hội có việc làm thì xã hội đó được duy trì và phát triển
do không có mâu thuẫn nội sinh trong xã hội, không tạo ra các tiêu cực, tệ nạn trong xã
hội, con người được dần hoàn thiện về nhân cách và trí tuệ. Ngược lại khi nền kinh tế
không đảm bảo đáp ứng về việc làm cho người lao động có thể dẫn đến nhiều tiêu cực
trong đời sống xã hội và ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhân cách con người. Con
người có nhu cầu lao động ngoài việc đảm bảo nhu cầu đời sống còn đảm bảo các nhu
cầu về phát triển và tự hoàn thiện, vì vậy trong nhiều trường hợp khi không có việc làm
sẽ ảnh hưởng đến lòng tự tin của con người, sự xa lánh cộng đồng và là nguyên nhân của
GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 11

SVTH: Trịnh Thị Muội


Pháp luật về hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo
hợp đồng – Bất cập và giải pháp hoàn thiện
các tệ nạn xã hội. Ngoài ra khi không có việc làm trong xã hội sẽ tạo ra các hố ngăn cách
giàu nghèo là nguyên nhân nảy sinh ra các mâu thuẫn và nó ảnh hưởng đến tình hình
chính trị.
Biết được tầm quan trọng trên, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề giải
quyết việc làm cho người lao động. Nhà nước định chỉ tiêu tạo việc làm mới trong kế
hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm và hàng năm, tạo điều kiện cần thiết, hỗ trợ tài
chính, cho vay vốn hoặc giảm, miễn thuế và áp dụng các biện pháp khuyến khích khác để
người có khả năng lao động tự giải quyết việc làm, để các tổ chức, đơn vị và cá nhân
thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển nhiều nghề mới nhằm tạo việc làm cho nhiều

Trang 12

SVTH: Trịnh Thị Muội


Pháp luật về hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo
hợp đồng – Bất cập và giải pháp hoàn thiện
Theo Leo Maglen (ADB): “Thị trường lao động là một hệ thống trao đổi giữa
những người có việc làm hoặc người đang tìm việc làm (cung lao động) với những người
đang sử dụng lao động hoặc đang tìm kiếm lao động để sử dụng (cầu lao động)”.
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): Thị trường lao động là thị trường trong đó có
các dịch vụ lao động được mua và bán thông qua quá trình để xác định mức độ làm việc
cũng như mức độ tiền công.
Theo Từ điển kinh tế học: Thị trường lao động là thị trường nhân tố trong đó người
ta trao đổi dịch vụ lao động lấy tiền lương. Mặt cung của thị trường là người lao động với
điều kiện lao động có thể bị ảnh hưởng bởi công đoàn. Mặt cầu của thị trường là các
công ty cần thuê lao động với tư cách đầu vào nhân tố sản xuất.4
Từ các định nghĩa trên kết hợp với thực tiễn Việt Nam có thể nêu lên một định
nghĩa khái quát về thị trường lao động như sau: “Thị trường lao động là nơi mà người có
nhu cầu tìm việc làm và người sử dụng lao động trao đổi với nhau, mua bán dịch vụ lao
động thông qua các hình thức xác định giá cả (tiền công, tiền lương) và các điều kiện
thỏa thuận khác (thời gian làm việc, điều kiện lao động, bảo hiểm xã hội…) trên cơ sở
một hợp đồng lao động bằng văn bản hoặc bằng miệng, hoặc thông qua các dạng hợp
đồng hay thỏa thuận khác”.
1.1.3. Khái niệm đƣa ngƣời lao động Việt Nam đi làm việc ở nƣớc ngoài theo
hợp đồng
Việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài đã trải qua nhiều giai đoạn hình
thành và phát triển, nên ở mỗi giai đoạn việc sử dụng thuật ngữ “đưa người lao động Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài” lại là có một định nghĩa khác nhau. Trên cơ sở đó, để làm
rõ nội hàm của khái niệm “đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài”

cầu tuyển dụng lao động, sử dụng lao động. Tuy nhiên, thuật ngữ “xuất khẩu” thông
thường là dùng để chỉ hoạt động kinh tế của chủ thể kinh doanh nhằm đưa hàng hóa nào
đó ra nước ngoài.
Việc sử dụng thuật ngữ kép “xuất khẩu lao động” rất dễ làm nãy sinh quan niệm
xem người lao động như một loại hàng hóa có thể xuất khẩu được. Điều này trái với bản
chất của quá trình đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, bởi chủ thể đưa người
lao động đi làm việc ở nước ngoài chỉ được hưởng lệ phí từ hoạt động dịch vụ đưa người
lao động đi làm việc ở nước ngoài chứ không không phải là tiền bán người lao động.
Theo quan điểm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thể hiện theo Hiến chương của tổ
chức này thì: Lao động không phải là loại hàng hóa thông thường mà các chủ thể có trao
đổi, mua bán trên thị trường như những hàng hóa khác. Điều đó chứng tỏ rằng chúng ta
không thể phủ nhận được tính hàng hóa của sức lao động, về mặt bản chất thì sức lao
động chỉ có thể được xem như một loại hàng hóa đặc biệt, nó là tài sản vô hình tồn tại
bên trong người lao động như những tài sản đặc tính gắn với nhân thân từng người. Sức
lao động của ai thì sẽ do người đó tự định đoạt và họ là chủ sở hữu hoàn toàn tự do trước
chủ thể khác có nhu cầu trong xã hội. Ngay cả Nhà nước cũng chỉ có thể ra mệnh lệnh
buộc công dân của mình phải thực hiện nghĩa vụ lao động chứ không thể chưng thu hoặc
quốc hữu hóa sức lao động của công dân được. Do đó, nhiều nhà khoa học pháp lý đã đề
xuất là không nên sử dụng thuật ngữ “xuất khẩu lao động” mà thay vào đó nên sử dụng
cụm từ “đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài”. Điều này vừa bảo đảm
được tính khóa học của thuật ngữ tiếng việt vừa phù hợp với bản chất và vai trò của hoạt
động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.5
Hiện nay, thuật ngữ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài (người
lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng) theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật
người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006: “Là công
5

Bùi Ngọc Thanh, Xuất khẩu lao động – đôi điều cần bàn, Tạp chí lao động và xã hội, 2013,
[Truy cập ngày 22 – 9 –
2013]

lao động đi làm việc ở nước ngoài. Đối với cá nhân, thì hợp đồng là căn cứ để cơ quan
nhà nước có thẩm quyền tiến hành các thủ tục cấp giấy phép cho người lao động đi làm
việc ở nước ngoài. Theo quy định “hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước
ngoài là sự thỏa thuận bằng văn bản giưa doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp với người lao
động về quyền, nghĩa vụ của các bên trong việc đưa người lao động đi làm việc tại nước
ngoài”.7
1.2. Nguyên nhân, đặc điểm và vai trò của hoạt động đƣa ngƣời lao động Việt
Nam đi làm việc ở nƣớc ngoài theo hợp đồng
1.2.1. Nguyên nhân dẫn đến hoạt động đƣa ngƣời lao động Việt Nam đi làm
việc ở nƣớc ngoài
-

Những nguyên nhân do tác động của thế giới:

6

Diệp Thành Nguyên, Tài liệu hướng dẫn học tập Luật lao động Việt Nam, Khoa luật, trường Đại học Cần Thơ,
tháng 5/2012
7
Khoản 3 Điều 3 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006.

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 15

SVTH: Trịnh Thị Muội


Pháp luật về hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo
hợp đồng – Bất cập và giải pháp hoàn thiện

hiện nay tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm ở nông thôn ngày một cao, do quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trình độ khoa học kỷ thuật tiên tiến đã thay thế lao động
chân, tay và các thủ công đơn giản, nhiều người lao động ở nông thôn đã ồ ạt chuyển lên
thành thị tìm việc làm, nhưng xí nghiệp thì ít, dân số thì ngày một tăng nhanh. Do đó,
đẩy mạnh đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là mục tiêu chiến lược của Đảng
và Nhà nước ta. Bên cạnh đó, do quá trình lạm phát ở nước ta đã làm cho vật giá leo
thang ngày càng làm cho cuộc sống của người dân thêm khó khăn hơn. Để cải thiện cuộc
GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 16

SVTH: Trịnh Thị Muội


Pháp luật về hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo
hợp đồng – Bất cập và giải pháp hoàn thiện
sống, đây cũng là nguyên nhân nhiều người lao động muốn đi làm việc ở nước ngoài để
thay đổi cuộc sống.
Đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài đã giải quyết việc làm, nâng cao đời
sống cho người dân, tiếp thu khoa học – kỷ thuật, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước
và nhiều lợi ích kinh tế khác.
1.2.2. Đặc điểm của hoạt động đƣa ngƣời lao động Việt Nam đi làm việc ở
nƣớc ngoài theo hợp đồng
Các đặc điểm của hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng như sau:
Thứ nhất, hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là một
hoạt động kinh tế. Vì nó vừa thực hiện chức năng kinh doanh, vừa thực hiện mục tiêu lợi
nhuận của doanh nghiệp, đồng thời thỏa mãn lợi ích của người lao động, nhằm góp phần
tăng thêm ngân sách cho Nhà nước, tạo sự ổn định và phát triển dài lâu. Ở nhiều nước
trên thế giới, hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là một trong những

hợp đồng lao động, cần phải có những chế độ tiếp nhận và sử dụng người lao động sau
khi họ hoàn thành hợp đồng ở nước ngoài trở về nước. Đưa người lao động đi làm việc ở
nước ngoài được coi là một biện pháp rất quan trọng nhằm góp phần trực tiếp giải quyết
việc làm đồng thời tạo khả năng, điều kiện giải quyết nhiều vấn đề xã hội khác. Đưa
người lao động đi làm việc ở nước ngoài có tác dụng tích cực trong việc bồi dưỡng
nguồn nhân lực. Trong thời gian làm việc ở nước ngoài người lao động có điều kiện nâng
cao tay nghề chuyên môn kỹ thuật rèn luyện kỹ năng và tác phong quản lý, làm việc công
nghiệp và có điều kiện mở rộng vốn hiểu biết về mọi mặt. Thông qua hoạt động này quan
hệ kinh tế-xã hội, văn hóa của Việt Nam và các nước được duy trì và phát triển đặc biệt
trong xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay. Hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi
làm việc ở nước ngoài có tác dụng tích cực hổ trợ, mở rộng hoạt động ngoại giao và góp
phần thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước mở rộng tăng cường quan hệ
hợp tác giữa Việt Nam với các nước trên thế giới.
Thứ ba, hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là sự kết
hợp hài hòa giữa sự quản lý vĩ mô của Nhà nước và sự chủ động chịu trách nhiệm của tổ
chức đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Như vậy, các hiệp định,
các thỏa thuận song phương mà chính phủ kí kết chỉ mang tính nguyên tắc, thể hiện vai
trò và trách nhiệm của Nhà nước ở tầm vĩ mô. Trước đây khi Việt Nam gia nhập thị
trường lao động (1980-1990) về cơ bản Nhà nước vừa quản lý Nhà nước vừa quản lý về
hợp tác lao động với người nước ngoài. Nhưng hiện nay, các tổ chức đưa người lao động
Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh tế
trong hoạt động của mình vì hầu như toàn bộ hoạt động đều do các tổ chức thực hiện trên
cơ sở hợp đồng. Trong quá trình làm việc nhiều rủi ro không mong muốn xảy ra và kéo
theo đó là những vấn đề như: Đình công, đòi tăng lương, kiện tụng đòi bồi thường thiệt
hại do tai nạn lao động, ốm đau, tất cả những vấn đề đó do các tổ chức đưa người lao
động đi làm việc ở nước ngoài đứng ra giải quyết.
Thứ tư, hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài diễn ra
trong một môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt. Ngày nay, trong cơ chế thị trường
hội nhập kinh tế quốc tế, việc đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là
một xu thế tất yếu nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cho đất nước cả về mặt kinh tế lẫn xã

chạy theo thu nhập cao mà người lao động rất dễ vi phạm những hợp đồng đã ký kết, như
hiện tượng bỏ hợp đồng, phá hợp đồng. Vì vậy, các chế độ, chính sách của Nhà nước
phải đảm bảo được sự hài hòa của lợi ích các bên, trong đó cần quan tâm nhất là lợi ích
của người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Thứ sáu,, hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là hoạt
động đầy biến đổi. Vì hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài
phụ thuộc rất nhiều vào các nước có nhu cầu sử dụng người lao động. Muốn đưa người
lao động đi làm việc ở những nước có thị trường việc làm dồi dào, có uy tính, có thu
nhập cao, đòi hỏi các nước đưa người lao động đi làm việc phải có đội ngũ công nhân
chất lượng cao với tay nghề thành thạo, giỏi ngoại ngữ, tính tổ chức kỉ luật cao, sẽ có
điều kiện thuận lợi hơn trong việc chiếm lĩnh thị phần lao động ở nước ngoài. Vì vậy,
Việt Nam cần phải có sự phân tích toàn diện các dự án ở nước ngoài đang và sẽ thực hiện
để xây dựng chính sách đào tạo và chương trình đào tạo giáo dục, định hướng phù hợp và
linh hoạt. Chỉ có sự chuẩn bị tốt, biết nhìn xa, trông rộng, đưa ra những chính sách đón
đầu trong hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, phân tích
8

Điều 21 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006.

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 19

SVTH: Trịnh Thị Muội


Pháp luật về hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo
hợp đồng – Bất cập và giải pháp hoàn thiện
đánh giá và dự đoán đúng tình hình, Việt Nam mới không bị động trước những rào cản,
trước tình hình đầy biến động như hiện nay.

hướng giải quyết việc làm và thu ngoại tệ về cho đất nước. Nhà nước tiết kiệm một lượng
lớn vốn đầu tư, tạo chổ làm mới cho người lao động. Ngân sách nhà nước thu hàng trăm
GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 20

SVTH: Trịnh Thị Muội


Pháp luật về hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo
hợp đồng – Bất cập và giải pháp hoàn thiện
triệu USD qua phí bảo hiểm xã hội, thu thuế thu nhập cao, thuế doanh thu của doanh
nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài tính trên số tiền phí dịch vụ thu từ
người lao động, lệ phí cấp giấy phép thực hiện hợp đồng, lệ phí cấp hộ chiếu.


Lợi ích về xã hội

Hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài được coi là một
trong những biện pháp rất quan trọng nhằm góp phần trực tiếp giải quyết vấn đề việc làm
và đồng thời tạo khả năng, điều kiện giải quyết nhiều vấn đề xã hội khác.
Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài còn giúp họ nâng cao tay nghề,
họ sẽ trang bị được những kỉ năng lao động công nghiệp, có nhiều kinh nghiệm trong lao
động và sản xuất.
Đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài sẽ góp phần hạn chế các vấn
đề xã hội có thể xảy ra. Đồng thời cũng là cầu nối thắt chặt mối quan hệ hữu nghị giữa
Việt Nam và các nước trên thế giới thông qua thị trường lao động. Đây cũng là sợi dây
để con người với con người có thể xích lại gần nhau hơn, để có thể giao lưu văn hóa, trao
đổi những kinh nghiệm sống, làm nên nét đẹp văn hóa xã hội.
1.3. Nội dung của hoạt động đƣa ngƣời lao động Việt Nam đi làm việc ở nƣớc

1. Sơ tuyển: Sau khi có đơn hàng tuyển dụng lao động, công ty tiến hành gửi thông
báo tuyển quảng cáo trên phương tiện truyền thông báo chí toàn quốc và các địa phương
nhằm lựa chọn ra những ứng cử viên phù hợp và đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng.
2. Kiểm tra sức khỏe: Sau khi kiểm tra tay nghề công ty sẽ tiến hành đưa người lao
động trúng tuyển đi kiểm tra sức khỏe tại các cơ sở y tế có thẩm quyền theo tiêu chuẩn
của Đại sứ quán nước tuyển dụng.
3. Đào tạo: Người lao động sẽ được đào tạo và học các khóa định hướng trong vòng
3 tháng nhằm phù hợp với yêu cầu về trình độ tay nghề về ngành nghề của nhà tuyển
dụng trước khi thi tuyển.
4. Thi tuyển - phỏng vấn: Các ứng cử viên sẽ được đại diện chủ sử dụng lao động
kiểm tra trình độ tay nghề.
Thứ ba, dạy nghề, ngoại ngữ cho người lao động; tổ chức bồi dưỡng kiến thức cần
thiết cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài.10 Những lao động trúng
tuyển sẽ được đào tạo nâng cao cả về kiến thức lẫn tay nghề để đảm bảo tiêu chuẩn chất
lượng. Người lao động phải tham gia các khóa học giáo dục định hướng trước khi xuất
cảnh. Người lao động sẽ được cung cấp các thông tin về nghĩa vụ và trách nhiệm khi làm
việc tại nước ngoài, những thông tin về điều kiện sống và làm việc tại nước sở tại cũng
như những đặc điểm nổi bật trong luật lao động của nước sử dụng lao động. Không dừng
lại ở đó, người lao động còn được các tổ chức tín dụng hỗ trợ thông qua hình thức vay
vốn để đi làm việc ở nước ngoài, việc vay vốn này sẽ được thực hiện theo quy định của
pháp luật.
Thứ tư, khi hợp đồng lao động được thực hiện nếu đáp ứng được các yêu cầu mà
bên sử dụng lao động đề ra thì bên cạnh các quyền lợi về lương, chế độ phụ cấp, tiền
thưởng, thì người lao động sẽ được gia hạn hợp đồng hoặc được ký kết hợp đồng mới
phù hợp với quy định của pháp luật nước tiếp nhận người lao động. Có thể thấy đây là
một nội dung quan trọng trong hoạt động đưa người lao động làm việc ở nước ngoài.
Song song đó, nếu hợp đồng lao động bị chấm dứt thì người lao động và doanh nghiệp
dịch vụ sẽ phải thực hiện việc thanh lý hợp đồng.11 Nội dung thanh lý hợp đồng gồm: Trả
sổ lao động và sổ bảo hiểm xã hội đã được xác nhận đầy đủ; thanh toán các khoản tiền có
liên quan giữa người lao động và doanh nghiệp; làm thủ tục chuyển trả người lao động về

của mình và chịu các biện pháp xử phạt theo quy định của pháp luật.
1.4. Tổng quan về tình hình hoạt động đƣa ngƣời lao động Việt Nam đi làm
việc ở nƣớc ngoài theo hợp đồng
Tình hình đƣa ngƣời lao động Việt Nam đi làm việc ở nƣớc theo hợp
đồng qua các giai đoạn
1.4.1

- Giai đoạn 1980-1990: Thời kì hợp tác lao động theo cơ chế quản lí, tập trung
bao cấp
Cuối những năm thập niên 70 và đầu 80, kinh tế Việt Nam trong tình trạng gặp
nhiều khó khăn, sản xuất công nghiệp trì trệ, mô hình hợp tác xã không tạo ra cạnh tranh
nên không kích thích được sản xuất. Thêm vào đó là các khoản nợ sau chiến tranh cần
phải trả và hai cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và phía Bắc ảnh hưởng nặng nề lên
nền kinh tế. Do đó, chính quyền chủ trương đưa lao động ra làm việc tại các nước Xã hội
chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu.12
Từ đầu năm 1980, Chính phủ đã ra quyết định QĐ 46/CP ngày 11/02/1980 “về việc
đưa công nhân và cán bộ đi bồi dưỡng nâng cao trình độ và làm việc có thời hạn ở các
nước xã hội chủ nghĩa”. Chính từ đây Việt Nam đã bắt đầu đưa người lao động đi làm
12

Nguyễn Ngọc Tiến, Hiệu quả từ xuất khẩu lao động, Báo điện tử Hà Nội mới online, 2011,

[Ngày truy cập 24 – 8 – 2013].

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 23

SVTH: Trịnh Thị Muội


13

Cục quản lý lao động ngoài nước, Tình hình xuất khẩu lao động của Việt Nam,
[ngày
truy cập 22-8-2013]
14

Nguyễn Ngọc Tiến, Hiệu quả từ xuất khẩu lao động , Báo điện tử Hà Nội mới online, Báo điện tử Hà Nội mới,

2011,
[Ngày truy cập 24 – 8 – 2013].

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 24

SVTH: Trịnh Thị Muội


Pháp luật về hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo
hợp đồng – Bất cập và giải pháp hoàn thiện
Trong giai đoạn này, do có những biến động lớn về chí nh trị , kinh tế – xã hội ở
các nước xã hội chủ nghĩ a và một số nước đang phát triển trên thế giới , đặc biệt là sự
chuyển dị ch cơ cấu và đổi mới cơ chế kinh tế từ quản lý tập trung , bao cấp sang nền kinh
tế thị trường ở các nước xã hội chủ nghĩ a và mộ t số nước nhận lao động Việt Nam đã ảnh
hưởng mạnh đến hợp tác lao động của ta với các nước này . Hình thức hợp tác lao động
và chuyên gia như trước đây không còn phù hợp , đòi hỏi phải được đổi mới một cách
toàn diện cho phù hợp với tình hình đất nước và quốc tế trong giai đoạn này.
Thể chế hoá chủ trương , đường lối của Đảng và Nhà nước về đổi mới cơ chế , chính
sách quản lý kinh tế nó i chung và đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài nói riêng,

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 25

SVTH: Trịnh Thị Muội


Trích đoạn Các hình thức đi làm việ cở nƣớc ngoài Các hành vi bị nghiêm cấm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status