Lời nói đầu
Theo kết kết quả điều tra Lao động- Việc làm, tại thời điểm 1/7/2006 lực
lượng lao động cả nước (gồm những người đủ 15 tuổi trở lên tham gia hoạt động
kinh tế và những người thất nghiệp) có hơn 45.128 ngàn người, trong đó khu vực
thành thị chiếm 26,18%, khu vực nông thôn chiếm 73,82% với đặc điểm nguồn
nhân lực trẻ, có quy mô lớn nên đã, đang và sẽ tạo ra nguồn cung dồi dào về nhân
lực. Hằng năm số lượng người cần có việc làm tăng thêm hơn 1,5 triệu người. Trong
khi đó, với trình độ phát triển kinh tế và cơ cấu kinh tế như hiện nay, cầu về nhân
lực còn hạn chế và phản ánh một cơ cấu lạc hậu, đại bộ phận nguồn nhân lực còn
nằm trong khu vực nông nghiệp. Chính sự bất cân đối này đã đặt ra vấn đề là phải
giải quyết việc làm cho người lao động.
Vấn đề giải quyết việc làm không chỉ được thực hiện bằng thị trường trong
nước mà còn phải chú trọng phát triển cả thị trường ngoài biên giới, chính vì vậy
vấn đề người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng hiện nay đang được
Đảng, Nhà nước và xã hội quan tâm, chú trọng.
Hoạt động đưa người đi làm việc ở nước ngoài đã được thực hiện từ những
năm đầu của thập niên tám mươi và rất được chú trọng trong những năm gần đây,
bên cạnh những thành quả to lớn đã đạt được thì vẫn còn những hạn chế nhất định
và cũng bộc lộ một số khiếm khuyết cần khắc phục. Thị xã Sơn Tây- thành phố Hà
Nội không nằm ngoài thực trạng chung này của cả nước. Với mục đích tìm hiểu
thực trạng để đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy hiệu quả hoạt động người lao
động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, em xin chọn nội dung tiểu luận về
hoạt động người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng tại thị xã Sơn Tây
nghiên cứu để có thể nhìn nhận một cách cụ thể nhất trong việc thực hiện hoạt động
này.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình chu đáo của Giảng viên
Nguyễn Thị Minh Hòa đã giúp em hoàn thiện tiểu luận này. Mặc dù em đã cố gắng
trong việc nghiên cứu, song không tránh khỏi nhiều thiếu sót. Em rất mong tiếp tục
được thầy, cô xem xét và chỉ bảo để tiểu luận của em được hoàn chỉnh hơn. Em xin
chân thành cảm ơn thầy cô.
1
2. Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với doanh nghiệp
trúng thầu, nhận thầu hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài có đưa người lao
động đi làm việc ở nước ngoài;
3. Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực
tập nâng cao tay nghề với doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc dưới hình
thức thực tập nâng cao tay nghề;
4. Hợp đồng cá nhân.
2
Luật cũng quy định đối với những doanh nghiệp được phép đưa người lao
động đi làm việc ở nước ngoài phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy
phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Tính đến ngày 31/12/2007 trong cả nước có 151 doanh nghiệp có giấy phép
hoạt động đưa người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, trong đó có 11 doanh
nghiệp tư nhân.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐI LÀM VIỆC Ở
NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG TẠI THỊ XÃ SƠN TÂY (THÀNH PHỐ HÀ NỘI)
I. Đặc điểm tình hình
1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của thị xã Sơn Tây
Thị xã Sơn Tây là một đô thị nhỏ nằm cách Thủ đô Hà Nội khoảng 45km về
phía tây- bắc bao gồm 15 đơn vị hành chính xã, phường có diện tích 11346ha, dân
số (2008) là 124202 người, mật độ dân số thị xã là 10,95 người/ha. Về địa hình là
đồng bằng xen lẫn đồi gò thấp nên không thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp
nên giá trị sản xuất nông nghiệp (năm 2008) chỉ chiếm 8,45% tổng giá trị sản phẩm
của thị xã. Với điều kiện thị xã Sơn Tây từng là trung tâm tỉnh lị (tỉnh Sơn Tây cũ),
với hai dòng sông Hồng, sông Tích Giang (nối với sông Đáy) và các đường quốc lộ
32, 21 chạy qua với các di tích di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh đã được nhà
nước xếp hạng, có nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp vừa và nhỏ trong đó có những
cơ sở được nhà nước đầu tư từ những năm trước đổi mới là những điều kiện thuận
lợi để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của thị xã.
2. Điều kiện lao động của thị xã Sơn Tây
đồng (xuất khẩu lao động) cũng là một hướng đi quan trọng đã và đang được chính
quyền thị xã quan tâm phát triển.
II. Thực trạng hoạt động người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp
đồng tại thị xã Sơn Tây
1. Kết quả đạt được
1.1. Chính sách hỗ trợ
Nhận thấy việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (xuất khẩu lao
động) là một hướng đi quan trọng đối với thị xã Sơn Tây, chính quyền thị xã đã có
những chính sách quan trọng để hỗ trợ công tác xuất khẩu lao động phát triển. Năm
2005 tại kỳ họp thứ 3 Hội đồng nhân dân khóa 17 thị xã Sơn Tây đã có nghị quyết
chuyên đề về đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động. Ngày 09/11/2005 Ủy ban nhân
dân thị xã Sơn Tây đã ra Quyết định thành lập Ban chỉ đạo Xuất khẩu lao động do
một đồng chí Phó Chủ tịch thị xã làm Trưởng ban, đồng chí Trưởng phòng Lao
động Thương binh và Xã hội làm Phó ban thường trực cùng với các ủy viên là cán
bộ các phòng, ban thuộc ngành LĐTBXH, Đài truyền thanh, Hội Phụ nữ, Hội Nông
dân, Đoàn thanh niên thị xã. Ngoài việc tăng cường công tác chỉ đạo, đôn đốc Ủy
ban nhân dân các xã, phường, Ban chỉ đạo đã có những chính sách, biện pháp
khuyến khích các doanh nghiệp đến làm dịch vụ xuất khẩu lao động và giúp đỡ
người lao động đi xuất khẩu lao động.
Ban chỉ đạo đã phối hợp với Sở Lao động Thương binh và Xã hội Hà Tây
(nay là Hà Nội) kêu gọi và khuyến khích các công ty làm dịch vụ xuất khẩu lao
động đến địa phương hợp tác, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thuê, mượn địa
điểm để tiến hành tuyên truyền, vận động, tuyển chọn người lao động. Xây dựng cơ
chế phối hợp giữa doanh nghiệp, ngân hàng với hội đoàn thể đại diện cho người lao
đông (Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn thanh niên). Đó là thực hiện tuyên truyền
về yêu cầu tiêu chuẩn, nghĩa vụ, chế độ đãi ngộ, thị trường làm việc, thời hạn hợp
đồng cho người lao động thông qua hệ thống đài truyền thanh thị xã và các tổ chức
hội đoàn thể cho hội viên.
4
Về chính sách hỗ trợ về tài chính thì người lao động đi làm việc ở nước ngoài
Qua biểu trên ta thấy số lượng người đi làm việc ở nước ngoài của thị xã đều
tăng qua các năm với mức tăng từ 8- 9%/năm, nhưng mức tăng có sự khác biệt lớn
giữa các thị trường. Năm 2006 thị trường xuất khẩu lao động của thị xã chủ yếu là
Đài Loan với 200 lao động chiếm tới 36% tổng số lao động đi làm việc ở nước
ngoài, tiếp theo là thị trường Malaixia, Hàn Quốc, Quatar, thị trường Nhật Bản chỉ
chiếm tỉ trọng rất thấp với 12 lao động. Tuy nhiên thị trường Đài Loan đã giảm dần
qua các năm cả về số lượng cũng như tỉ trọng và đến năm 2008 chỉ còn chiếm hơn
5
12% tổng số lao động đi làm việc ở nước ngoài của thị xã trong khi thị trường
Quatar đã tăng nhanh chóng và đến năm 2008 đã chiếm tới hơn 52%, còn các thị
trường khác cũng có biến động nhưng không đáng kể.
Kết quả này cho thấy lao động đi làm việc ở nước ngoài chủ yếu là lao động
phổ thông, còn các thị trường đòi hỏi lao động kỹ thuật cao vẫn còn hạn chế. Cụ thể
lao động đi làm việc ở Đài Loan chủ yếu là phụ nữ giúp việc gia đình, thợ xây, thợ
cơ khí, lái xe chủ yếu thông qua Công ty Thương mại và Xây dựng thuộc Bộ Giao
thông vận tải (VIETTRANCIMEX), thị trường Quatar và các nước Trung Đông,
Malaixia chủ yếu được thực hiện qua Công ty Cung ứng dịch vụ hàng không
(AIRSERCO) với lao động tại Quatar và các nước Trung Đông là thợ xây, mộc cốt
pha, cơ khi xây dựng, lái xe, thị trường Malaixia là thợ may và giúp việc gia đình.
Thị trường Nhật Bản được công ty AIRSERCO thực hiện thông qua hình thức tu
nghiệp sinh với công việc là chế biến hải sản, cơ khí ô tô.
Riêng thị trường Hàn Quốc được thực hiện qua hình thức thi tuyển trực tiếp
bởi Ủy ban Kiểm tra tiếng Hàn thuộc Hiệp hội Ngôn ngữ Hàn Quốc là cơ quan được
chỉ định phối hợp với Cục Quản lý lao động ngoài nước- Bộ Lao động Thương binh
và Xã Hội Việt Nam (QLLĐNN) dựa trên sự phân bổ chỉ tiêu của Cục QLLĐNN
cho các Sở Lao động Thương binh và Xã hội trong đó ưu tiên bộ đội xuất ngũ, đối
tượng hộ nghèo, người có công và các học viên tốt nghiệp các trường nghề của Bộ
Lao động Thương binh và Xã hội.
Với kết quả đạt được bước đầu này đã góp phần to lớn trong việc giải quyết
việc làm cho người lao động, giúp nhiều hộ gia đình vươn lên thoát nghèo, ổn định
rộng rãi các chỉ tiêu, điều kiện, tiêu chuẩn để người lao động hiểu biết, nắm chắc từ
đó tuyển chọn được những người lao động có nguyện vọng, đủ tiêu chuẩn, điều
kiện, có ý thức tổ chức kỷ luật.
Tăng cường đào tạo cho người lao động cả về chuyên môn nghề nghiệp cũng
như ngoại ngữ, pháp luật, văn hóa của nước đến để người lao động nhanh chóng bắt
kịp với với môi trường lao động của nước đến.
Có sự phối hợp chặt chẽ giữa các doanh nghiệp xuất khẩu lao động với các
trường đào tạo trên địa bàn để tuyển chọn được những người lao động có chất lượng
cao đáp ứng được những thị trường khó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ,
Australia.
2. Cần tiếp tục hỗ trợ người lao động về tài chính để họ có điều kiện đi làm
việc ở nước ngoài một cách thuận lợi. Như tăng thêm nguồn vốn cho Ngân Hàng
chính sách xã hội để ngoài đối tượng hộ nghèo, người có công thì đối tượng hộ cận
nghèo có thể tiếp cận nguồn vay ưu đãi này và có thể tăng mức vay lên cao hơn để
những đối tượng này có thể tiếp cận được với những thị trường có mức đóng phí, lệ
phí cao nhưng thu nhập cao. Đối với những đối tượng vay từ Ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển nông thôn thì cần tăng thêm mức vay đối với những thị trường
phải đặt cọc để người lao động có thể tiếp cận được với cao cấp này. Tuy nhiên cần
phải tăng tính rằng buộc về trách nhiệm giữa người lao động, gia đình họ với ngân
hàng và doanh nghiệp xuất khẩu lao động để đảm bảo an toàn về vốn và kỷ luật lao
động.
LỜI KẾT
7
Việc làm và giải quyết việc làm là một trong những mối quan tâm nước ta cũng
như thị xã Sơn Tây hiện nay. Việc giải quyết việc làm như thế nào cho có khoa học
và đạt được hiệu quả cả về mặt kinh tế lẫn xã hội là một câu hỏi không chỉ đặt ra đối
với cơ quan chức năng mà đối với tất cả mọi người. Để giải quyết việc làm ngày nay
trong xu thế hội nhập, vấn đề người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp
đồng đang được các quốc gia hết sức quan tâm, tạo nên những thị trường sôi động
cho các quốc gia . Hoạt động này cũng được nhà nước ta khuyến khích phát triển