ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN ĐẶNG PHƢỚC TÂM BẢO VỆ NGƢỜI LAO ĐỘNG VIỆT NAM
ĐI LÀM VIỆC Ở NƢỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG –
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh
toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc
gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƢỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ NGƢỜI LAO
ĐỘNG ĐI LÀM VIỆC Ở NƢỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG 7
1.1. Khái niệm ngƣời lao động đi làm việc ở nƣớc ngoài theo hợp đồng
và bảo vệ ngƣời lao động đi làm việc ở nƣớc ngoài theo hợp đồng 7
1.1.1. Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 7
1.1.2. Bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng . 14
1.2. Sự cần thiết phải bảo vệ ngƣời lao động đi làm việc nƣớc ngoài
theo hợp đồng 17
1.2.1. Bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
nhằm phát huy nhân tố con người, thể hiện tinh thần nhân đạo và đảm
bảo công bằng xã hội 17
1.2.2. Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là lực
lượng có những đóng góp to lớn vào sự phát triển của kinh tế - xã hội
chung của toàn cầu. 18
ngoài 87
Chƣơng 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƢỜI LAO ĐỘNG
VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƢỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG 89
3.1. Những yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ
ngƣời lao động Việt Nam đi làm việc ở nƣớc ngoài theo hợp đồng 89
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo vệ ngƣời
lao động Việt Nam đi làm việc ở nƣớc ngoài theo hợp đồng 92
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam
đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 92
3.2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ người lao động Việt Nam đi
làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 102
KẾT LUẬN 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong thời đại toàn cầu hóa, việc sử dụng và phân bố lao động theo nhu
cầu thị trường đã trở thành hiện tượng tự nhiên, mang tính toàn cầu và tuân
thủ quy luật kinh tế - dòng lao động sống sẽ chuyển dịch tới bất kỳ nơi nào mà
ở đó có mức thù lao cao hơn. Đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài là một
chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước ta nhằm góp phần phát triển
nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay
nghề cho người lao động Việt Nam. Hiện tại, Việt Nam có khoảng 500.000
lao động đang làm việc tại 40 quốc gia và vùng lãnh thổ. Mỗi năm người lao
động gửi về nước hơn 1,6 - 2 tỷ USD [40] và họ đang ngày càng thể hiện
được vai trò quan trọng của mình trong xã hội. Vấn đề bảo vệ người lao động
việc ở nước ngoài theo hợp đồng chúng ta không thể không tìm hiểu tác phẩm
Lao động di trú trong pháp luật quốc tế và Việt Nam của Khoa Luật,
ĐHQGHN Trung Tâm Nghiên Cứu Quyền Con Người & Quyền Công Dân,
NXB Lao Động - Xã Hội, Hà Nội 2011. Tác phẩm tập hợp các bài viết, công
trình nghiên cứu của các giảng viên Khoa Luật và một số chuyên gia bên
ngoài của về vấn đề bảo vệ lao động di trú nói chung và người lao động Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài nói riêng: TS. Lê Thị Hoài Thu , “Pháp luật
hiện hành về bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo
hợp đồng”; Đặng Nguyên Anh, “Xuất khẩu lao động, một số vấn đề chính
sách và thực tiễn”; Đặng Nguyên Anh, Nguyễn Ngọc Quỳnh, Trần Thị Bích,
Đào Thế Sơn , “Nghiên cứu đánh giá tác động kinh tế - xã hội của di cư quốc
tế tại Việt Nam”; GS.TS Nguyễn Đăng Dung - Vũ Công Giao, “Khuân khổ
pháp lý quốc tế về bảo vệ người lao động di trú”, Vũ Công Giao - Lã Khánh
3
Tùng “Bảo vệ người lao động di trú ở Khu vực Đông Nam Á”, Phạm Hồng
Thái - Vũ Công Giao “Khuôn Khổ pháp lý quốc tế về bảo vệ người lao động
di trú”.
Với tính chất là cơ quan chủ quản và quản lý chuyên ngành về vấn đề
bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội đã có khá nhiều công trình nghiên cứu
khoa học cũng như tổ chức nhiều hội thảo về vấn đề này: Báo cáo tình hình
cho vay đi XKLĐ tại các quốc gia ở khu vực Bắc Phi và Trung Đông, 2011;
Báo cáo tình hình lao động Việt Nam làm việc tại Malaysia, 2009; Hội Thảo
Đối thoại chính sách về bảo vệ quyền lợi của người lao động nữ đi làm việc ở
nước ngoài, Hà Nội
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ người lao động Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng nhiều tác giả đã quan tâm, tìm
hiểu và nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau như: Luận án tiến sĩ kinh tế:
“Phát triển Xuất khẩu lao động Việt Nam trong hội nhập kinh tế Quốc tế”,
đang làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng: Khái niệm người lao động đi làm
việc ở nước ngoài theo hợp đồng và bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng, Sự cần thiết phải bảo vệ người lao động đi làm việc
nước ngoài theo hợp đồng, pháp luật về bảo vệ người lao động đi làm việc ở
nước ngoài theo hợp đồng, lược sử pháp luật Việt Nam về bảo vệ người lao
động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
+ Phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật quy định và thực tiễn áp
dụng pháp luật bảo vệ người lao động Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài
theo hợp đồng trong từng giai đoạn của tiến trình di cư, đã có những bước tiến
bộ gì và đang còn những tồn tại nào.
+ Đưa ra các biện pháp hoàn thiện các quy định pháp luật và các kiến
5
nghị về việc thực hiện pháp luật bảo vệ người lao động Việt Nam đang làm
việc ở nước ngoài theo hợp đồng
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở vận dụng kết hợp những quan
điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta cũng như các quy định pháp luật về bảo
vệ người lao động nói chung và bảo vệ người lao động Việt Nam đi làm việc
ở nước ngoài theo hợp đồng nói riêng và quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê
nin. Phương pháp phân tích, hệ thống được tác giả sử dụng xuyên suốt trong
quá trình thực hiện đề tài để đánh giá, nhận xét các quy định pháp luật cũng
như thực tiễn pháp luật về bảo vệ người lao động Việt Nam đang làm việc ở
nước ngoài theo hợp đồng. Ngoài ra, Luận văn còn sử dụng phương pháp so
sánh, thống kê, phương pháp lịch sử để đánh giá sự phát triển, tiến bộ cũng
như hạn chế còn tồn tại của các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng
nguyên tắc.
5. Phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu về các vấn đề lý luận về bảo vệ
người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, thực trạng
LÀM VIỆC Ở NƢỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG
1.1. Khái niệm ngƣời lao động đi làm việc ở nƣớc ngoài theo hợp đồng và
bảo vệ ngƣời lao động đi làm việc ở nƣớc ngoài theo hợp đồng
Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, di cư lao động quốc
tế đã trở thành một trong những vấn đề lớn của thời đại. Theo ước tính của các
cơ quan Liên Hợp quốc, hiện trên thế giới có gần 200 triệu người lao động di
trú, chiếm khoảng 3% dân số toàn cầu, và con số này vẫn đang ngày càng tăng
lên cùng với sự phát triển của dân số và khả năng giải quyết việc làm của mỗi
quốc gia.
Tình trạng di trú vì việc làm góp phần làm năng động hóa các hoạt động
kinh tế của thế giới nói chung, nền kinh tế quốc gia nói riêng cũng như cho
nhiều người lao động, gia đình. Tuy nhiên nó cũng tiềm ẩn nhiều khó khăn,
thách thức mà các Chính phủ và người lao động di trú khắp nơi phải đối mặt.
Đây là một bất công có tầm vóc toàn cầu, bởi lao động di trú là lực lượng đã
và đang có những đóng góp to lớn và không thể phủ nhận với nền kinh tế và
sự thịnh vượng xã hội của cả nước tiếp nhận và nước gốc [22, tr3]. Để có cái
nhìn khái quát nhất về bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo
hợp đồng trước hết chúng ta sẽ đi tìm hiểu thế nào là người lao động đi làm
việc ở nước ngoài theo hợp đồng, cách phân loại và đặc điểm của người lao
động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng ra sao.
1.1.1. Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Có nhiều thuật ngữ để chỉ những người lao động ra nước ngoài làm việc
như “người lao động di trú”, “lao động di cư”, “người di trú vì việc làm”,
“người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng” và theo thời gian,
8
các quan điểm của các tổ chức quốc tế, của các quốc gia về người lao động đi
làm việc ở nước ngoài cũng có nhiều thay đổi, bổ sung. Mỗi một quốc gia
khác nhau thì việc công nhận một người là người lao động đi làm việc ở nước
từ chuẩn bị lên đường, trên đường sang nước ngoài, trong thời gian làm việc ở
nước ngoài và cả sau thời làm việc ở nước ngoài. Người lao động đi làm việc
ở nước ngoài không chỉ có những người đang làm việc ở nước ngoài mà còn
bao gồm cả những người chuẩn bị, trên đường sang nước ngoài, và những
người đã hồi hương, đây cũng chính là những đối tượng cần được bảo vệ.
Quan niệm này đã giúp các tổ chức quốc tế, các quốc gia liên quan dễ dàng đề
ra các biện pháp bảo vệ người lao động thích hợp cho giai đoạn.
Khái niệm của Liên Hợp quốc đã đề cập đến vấn đề quốc tịch của người
lao động. Người không quốc tịch, không chịu sự ràng buộc nghĩa vụ pháp lý
và được hưởng sự bảo vệ của một quốc gia thì không được coi là người lao
động đi làm việc nước ngoài, đi làm việc nước ngoài ở đây được hiểu là đi
làm việc tại nước mà người lao động không phải là công dân.
Liên Hợp quốc còn quan niệm mục đích di cư sang nước khác của
người lao động phải là vì tìm kiếm việc làm, hưởng lương ở một quốc gia
khác trong một khoảng thời gian nhất định. Quan điểm mục đích tìm kiếm
việc làm và hưởng lương tại quốc gia khác là để loại trừ những đối tượng di
cư ra nước ngoài vì những mục đích khác như học tập, nghiên cứu, du lịch,
tránh nạn, làm từ thiện, từ đó đưa ra biện pháp bảo vệ phù hợp nhất với
nhóm đối tượng này. Việc xác định thời hạn làm việc của người lao động ở
nước ngoài cũng là nhằm để loại trừ những đối tượng đi làm việc và định cư
luôn ở nước ngoài.
Dựa trên tình trạng pháp lý của việc cư trú và lao động, Liên Hợp quốc
đã chia người lao động đi làm việc ở nước ngoài thành hai loại là: người lao
10
động di trú có giấy tờ hợp pháp (hay lao động di trú hợp pháp) và người lao
động di trú không có giấy tờ (hay lao động di trú bất hợp pháp), trong đó
người lao động di trú hợp pháp là những người được một nước cho phép vào,
ở lại và được làm một công việc được trả lương tại quốc gia đó, còn người lao
động di trú bất hợp pháp thì không được trao các quyền tương tự. Để làm rõ
quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận lao động, đi
làm việc ở nước ngoài theo quy định của Luật người lao động Việt Nam đi
làm việc ở nước ngoài (Khoản 1 Điều 3 Luật Người lao động Việt Nam đi làm
việc ở nước ngoài theo hợp đồng).
Quy định trên khẳng định người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải
là người có quốc tịch Việt Nam và cư trú tại Việt Nam, nghĩa là nếu một công
dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài và sau đó sang quốc gia thứ ba khác
để làm việc thì sẽ không được coi là người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Điều kiện “cư trú tại Việt Nam” cho thấy việc di cư ra nước ngoài của người
lao động phải xuất phát từ quốc gia mà người lao động mang quốc tịch. Đây là
cách định nghĩa theo quan điểm của một quốc gia gửi lao động, vì thế so với
khái niệm mà Liên Hợp quốc đưa ra thì những đối tượng được coi là người lao
động đi làm việc ở nước ngoài của Việt Nam có phạm vi hẹp hơn, vì Liên
Hợp quốc chỉ quy định “tại quốc gia mà người đó không phải là công dân” mà
không quan niệm người đó trước khi làm việc ở nước ngoài họ cư trú ở đâu
một cách bao quát dưới góc độ nhìn nhận của cả quốc gia gửi lao động và
quốc gia tiếp nhận lao động.
Việc di cư ra ngước ngoài của người lao động Việt Nam phải hợp pháp,
phải được sự công nhận của Việt Nam và quốc gia tiếp nhận. So với quan
điểm của Liên Hợp quốc thì nhóm đối tượng này thuộc dạng “lao động di trú
có giấy tờ” (lao động di trú hợp pháp). Quan niệm vậy nhằm quản lý tốt hơn
12
luồng di cư lao động của quốc gia mình nhưng lại bỏ sót và chưa đề cao trách
nhiệm quốc gia trong việc bảo vệ công dân thuộc nhóm lao động di trú bất
hợp pháp. Như vậy, xét về nội hàm, khái niệm người lao động đi làm việc ở
nước ngoài theo hợp đồng của Việt Nam hẹp hơn khái niệm “người lao động
di trú” mà Liên Hợp quốc đã nêu.
Khác với cách phân loại người lao động đi làm việc ở nước ngoài của
Liên Hợp quốc, các nhà luật gia Việt Nam đã phân loại người lao động đi làm
pháp luật lao động, đó là có năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi
lao động. Năng lực pháp luật của người lao động được đồng thời cả quốc gia
gửi lao động và quốc gia tiếp nhận lao động ghi nhận có quyền xuất cảnh,
nhập cảnh, quyền được làm việc ở nước ngoài, quyền được hưởng các lợi ích
và thực hiện các nghĩa vụ trong quan hệ lao động, Năng lực hành vi lao
động là khả năng bằng chính hành vi của bản thân, người lao động tham gia
trực tiếp vào quan hệ pháp luật lao động ở nước ngoài, tự hoàn thành mọi
nhiệm vụ để được hưởng quyền lợi. Năng lực hành vi lao động được thể hiện
trên hai yếu tố có tính chất điều kiện là thể lực và trí lực.
Thể lực chính là sức khỏe của người lao động để có thể thực hiện được
một công việc nhất định ở nước ngoài theo yêu cầu của chủ sử dụng. Thông
thường các quốc gia sẽ không tiếp nhận những lao động mắc các bệnh truyền
nhiễm như HIV, Viêm gan A, B, C, bệnh răng miệng, và các chủ sử dụng
nước ngoài ưa chọn những lao động có ngoại hình cao ráo, gương mặt sáng
sủa, tác phong nhanh nhẹn, chịu khó, có sức khỏe tốt, bền bỉ, trong khoảng
độ tuổi từ 18 đến 45. Trí lực là khả năng nhận thức của người lao động đối với
hành vi lao động mà họ thực hiện và với mục đích công việc mà họ làm, đó là
khả năng lựa chọn công việc phù hợp, khả năng lựa chọn thị trường lao động
muốn tham gia, khả năng tự chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình ở quốc
14
gia tiếp nhận, Muốn có năng lực hành vi lao động, người lao động đi làm
việc ở nước ngoài phải trải qua quá trình phát triển cơ thể và có quá trình tích
lũy kiến thức ngoại ngữ, trình độ tay nghề, trình độ hiểu biết về đất nước, con
người và môi trường lao động của quốc gia mà mình muốn đến làm việc.
Ngoài những điều kiện chung nêu trên, người lao động đi làm việc ở
nước ngoài theo hợp đồng còn có những điểm đặc thù khác, đó là:
- Tính chất quốc tế của việc làm và lao động
Khi đi làm việc nước ngoài, người lao động “bán” sức lao động của
mình cho chủ sử dụng nước ngoài theo hợp đồng lao động đã ký kết. Nên
việc hoặc để về nước, quốc gia khác cũng đang có lao động làm việc tại quốc
gia tiếp nhận lao động, cá nhân, cộng đồng quốc tế, cũng là những chủ thể
có vai trò quan trọng trong việc gây sức ép đối với các quốc gia liên quan phải
thực hiện các biện pháp bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài không phải chỉ khi nào
người lao động bị xâm phạm, bị đối xử thậm tệ thì các quốc gia, cơ quan chức
năng mới lên tiếng mà ngay trong cả điều kiện làm việc bình thường, ổn định
họ cũng cần được bảo vệ, bảo vệ để duy trì trạng thái bình thường, ổn định đó,
để vừa phòng ngừa những nguy cơ có thể xảy ra, vừa phát huy hơn nữa những
nhân tố tích cực, thuận lợi hơn cho người lao động nhằm mục đích đẩy mạnh
hoạt động hợp tác lao động quốc tế lành mạnh nói riêng và quá trình toàn cầu
hóa nói chung. Bởi vậy, có thể khái niệm bảo vệ người lao động đi làm việc ở
nước ngoài theo hợp đồng như sau:
Bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là việc
các quốc gia, tổ chức, cá nhân (trước hết là các quốc gia, tổ chức, cá nhân
liên quan) thực hiện các biện pháp cụ thể vừa để duy trì thực hiện, phát huy
những quyền và lợi ích chính đáng vừa hạn chế những bất lợi, rủi ro và nguy
16
cơ khác cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Tương tự như việc bảo vệ người lao động nói chung, bảo vệ người lao
động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng phải thực hiện một cách toàn
diện, trên mọi phương diện: việc làm, thu nhập, tính mạng, sức khỏe, nhân
phẩm danh dự, cuộc sống, Tuy nhiên, do xuất phát từ những nét đặc thù của
nhóm đối tượng này nên việc bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài
theo hợp đồng còn phải đáp ứng những yêu cầu riêng, như:
- Việc bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
phải được thực hiện trong suốt quá trình di cư lao động.
Bất kể giai đoạn nào của tiến trình di cư, quyền lợi của người lao động
đều có thể bị xâm phạm. Trước khi đi làm việc ở nước ngoài, họ có thể bị kẻ
nước ngoài bị bỏ ngỏ, hoặc sự nỗ lực bảo vệ người lao động gặp thất bại do
vấn đề chủ quyền quốc gia. Thế nên có thể nói việc bảo vệ người lao động đi
làm việc ở nước ngoài khó khăn, phức tạp hơn nhiều so với việc bảo vệ các
nhóm đối tượng người lao động khác và cần sự hỗ trợ, hợp tác tích cực của cả
tổ chức, cộng đồng quốc tế.
1.2. Sự cần thiết phải bảo vệ ngƣời lao động đi làm việc nƣớc ngoài theo
hợp đồng
1.2.1. Bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng nhằm
phát huy nhân tố con người, thể hiện tinh thần nhân đạo và đảm bảo công
bằng xã hội
Bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng không
nằm ngoài mục tiêu bảo vệ con người, phát huy nhân quyền và đảm bảo công
bằng xã hội. Trong quan hệ lao động, người lao động nói chung luôn đứng ở
vị trí yếu thế hơn, vì đồng lương vì cuộc sống người lao động khó có điều kiện
thỏa thuận bình đẳng thực sự với chủ sử dụng lao động mà buộc phải chấp
18
nhận những điều kiện lao động, môi trường làm việc không thuận lợi. Chính
sự lệ thuộc đó mà người lao động bị lạm dụng, bị xâm phạm nghiêm trọng.
Bảo vệ quyền được sống, được lao động và được hưởng thụ lành mạnh vừa là
nhiệm vụ và cũng chính là mục tiêu tối thượng của mọi xã hội để thu hẹp bớt
sự cách biệt này đến một mức có thể chấp nhận được. Thấm nhuần tư tưởng
này các quốc gia trên thế giới, các tổ chức quốc tế đã pháp điển hóa việc bảo
vệ người lao động thành nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật quốc gia và
các điều ước quốc tế.
1.2.2. Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là lực lượng
có những đóng góp to lớn vào sự phát triển của kinh tế - xã hội chung của
toàn cầu.
Lao động di cư đã có những đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế
- xã hội chung của toàn thế giới, thể hiện trực tiếp và rõ nhất đối với nền kinh
nước mình đến độ tuổi lao động) cho người lao động.
- Góp phần phát triển kinh tế và tích lũy xã hội thông qua các khoản
đóng góp của lao động nước ngoài như: thuế thu nhập, phí bảo hiểm xã hội,
bảo hiểm y tế và các loại phí khác
Vậy bảo vệ người lao động là rất cần thiết để đảm bảo công bằng đối
với những đóng góp to lớn của người lao động đi làm việc ở nước ngoài nhằm
hướng đến một xã hội công bằng và dân chủ thực sự.
1.2.3. Người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã, đang và
sẽ phải đối mặt với nhiều nguy cơ, rủi ro
Đi làm việc ở nước ngoài có nghĩa là người lao động phải sống xa gia
đình, xa quê hương, tổ quốc, xa những người hướng dẫn, hỗ trợ và bảo vệ
mình, chính vì vậy họ rất dễ bị bóc lột, bị phân biệt đối xử và xâm phạm các
quyền [29, tr13]. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những nguy cơ phổ biến mà