Tài Chính Quốc Tế ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH Nhóm 4 - TCDN Ngày 1 - K20
Tìm hiểu bài viết khoa học :
TÍNH MINH BẠCH CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ
CƠ CHẾ TRUYỀN DẪN QUA KÊNH LÃI SUẤT
Tác giả:
Ming-Hua Liu, Dimitri Margaritis và Alireza Tourani-Rad
GVHD:
Ts. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Nhóm báo cáo:
Nhóm 4 – Lớp Tài Chính Doanh Nghiệp Ngày 1 – K20
1. Hoàng Trần Trâm Anh
2. Trương Thị Quỳnh Anh
3. Nguyễn Phạm Thùy Dương
4. Nguyễn Thị Thu Hằng
5. Phạm Minh Hiền (Nhóm trưởng)
4.1.2 Mô hình ước lượng Phillips – Lorenta: 4
4. 2 Mô hình định lượng trong ngắn hạn: 5
4.2.1 Mô hình hiệu chỉnh sai số cấu trúc (SEC – Structural Error Correction) 5
PHẦN 5: DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU & KẾT QUẢ 7
5.1 Dữ liệu nghiên cứu & kết quả thống kê mô tả 7
5.1.1 Dữ liệu nghiên cứu: 7
5.1.2 Thống kê mô tả: 7
PHẦN 6: KẾT LUẬN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19 Phần 1: Dẫn nhập & giới thiệu Nhóm 4 – TCDN Ngày 1 – K20
Monetary Policy Transparency and Pass-Through of Retail Interest Rates 1/28
PHẦN 1: DẪN NHẬP & GIỚI THIỆU
1.1 Dẫn nhập
Bài viết nghiên cứu mức độ truyền dẫn và tốc độ điều chỉnh của lãi suất ngân hàng
thương mại tức từ những thay đổi của lãi suất cơ bản ở New Zealand trong suốt thời kỳ
1994-2004. Đồng thời ,bài viết cũng xem xét ảnh hưởng của tính minh bạch chính sách
và cấu trúc tài chính trong cơ chế lan truyền. New Zealand là quốc gia đầu tiên trong
khối tổ chức OECD – (Organization for Economic Co-operation and Development - Tổ
chức hợp tác và phát triển kinh tế ) áp dụng chế độ lạm phát mục tiêu rõ ràng với những
điều khoản có trách nhiệm pháp lý và có tính minh bạch cao. Tính minh bạch chính sách
tiền tệ đã được nâng cao bởi sự chuyển đổi từ chiến lược tăng trưởng kinh tế (đề cao cơ
chế thanh toán bù trừ) sang mục tiêu bình ổn giá cả (áp dụng mức lãi suất đáp ứng mục
tiêu lãi suất - OCR) vào năm 1999.
Kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự truyền dẫn dài hạn hoàn toàn cho tất cả
các loại lãi suất ngân hàng . Và bài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mức lãi suất đáp ứng
lạm phát mục tiêu - OCR đã làm gia tăng mức độ truyền dẫn lên lãi suất tiền gửi, lãi suất
Một số cuộc nghiên cứu gần đây cho rằng truyền dẫn này có thể không hoàn toàn và
tốc độ điều chỉnh có thể diễn ra chậm chạp. Sự truyền dẫn và mức độ điều chỉnh sẽ khác
nhau tùy thuộc vào các định chế tài chính và các sản phẩm tài chính khác nhau.
1.2.2 Nội dung nghiên cứu:
Trong bài viết này, nội dung chính là nghiên cứu mức độ truyền dẫn và tốc độ điều
chỉnh lãi suất ngân hàng thương mại khi có sự thay đổi lãi suất cơ bản (lãi suất được
NHTW qui định), ở quốc gia New Zealand.
Đặc biệt, tài liệu phân tích ba vấn đề sau:
Thứ nhất, áp dụng mô hình hồi qui Phillips-Loretan (1991) để xem xét tác động
dài hạn của lãi suất cơ bản và lãi suất liên ngân hàng lên lãi suất ngân hàng thương mại.
Thứ hai, sử dụng mô hình sai số cấu trúc, và phương pháp kiểm định tốc độ điều
chỉnh bất đối xứng để kiểm tra mức truyền dẫn trong ngắn hạn và tốc độ điều chỉnh của
lãi suất ngân hàng.
Cuối cùng, kiểm tra xem việc áp dụng công cụ OCR (mức lãi suất theo lạm phát
mục tiêu ) vào tháng 3/1999 và tăng tính minh bạch trong chính sách tiền tệ đã có ảnh
hưởng như thế nào đến mức độ truyền dẫn và tốc độ điều chỉnh của lãi suất ngân hàng tại
New Zealand.
Phần 1: Dẫn nhập & giới thiệu Nhóm 4 – TCDN Ngày 1 – K20
Monetary Policy Transparency and Pass-Through of Retail Interest Rates 3/28
1.2.3 Ý nghĩa của nghiên cứu:
Có ít nhất 3 lý do lý giải thích tầm quan trọng của việc nghiên cứu cơ chế truyền
dẫn tại New Zealand.
Trước tiên, New Zealand là quốc gia đầu tiên áp dụng chế độ lạm phát mục tiêu rõ
ràng với những điều khoản có trách nhiệm pháp lý và có tính minh bạch cao. Chế độ này
đã trở thành mô hình mẫu cho các khuôn khổ chính sách được áp dụng tại các nước khác
trong khối OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - Organization for Economic
Cooperation and Development), và gần đây ở nhiều các quốc gia phát triền.
Thứ hai, không như các quốc gia khác, New Zealand đã có một chuyển dịch trong
Mức độ truyền dẫn trong ngắn hạn & tốc độ điều chỉnh khác nhau giữa các sản
phẩm tài chính khác nhau.
Nghiên cứu không đưa ra được chứng cứ nào cho thấy các ngân hàng tại New
Zealand đã điều chỉnh lãi suất (vay và tiết kiệm) tăng chậm hơn là điều chỉnh lãi suất hạ
xuống.
Việc áp dụng mức lãi suất OCR đã làm tăng mức độ truyền dẫn trong dài hạn của
lãi suất vay thế chấp có điều chỉnh & lãi suất huy động cố định.
1.2.5 Bố cục bài nghiên cứu:
Bố cục bài nghiên cứu gồm phần sau đây:
Phần 2: tổng quan về chính sách tiền tệ của New Zealand
Phần 3: giới thiệu cơ sở lý thuyết cùng các nghiên cứu liên quan
Phần 4: trình bày phương pháp nghiên cứu
Phần 5: mô tả dữ liệu nghiên cứu và kết quả thực nghiệm
Phần 6: kết luận
Phần 2: Chính sách tiền tệ của New Zealand Nhóm 4 – TCDN Ngày 1 – K20
- Điều hành chính sách tiền tệ bằng OCR. Ngân hàng dự trữ New Zealand điều
hành chính sách tiền tệ trên cơ sở điều tiết lãi suất thay cho điều tiết khối lượng
tiền mặt. Trong 1 năm, OCR được Ngân hàng New Zealand xem xét và điều
chỉnh 8 lần. Với hệ thống OCR ngân hàng dữ trữ New Zealand là nhà tạo lập thị
trường sẽ cho các định chế tài chính, ngân hàng thương mại vay qua đêm với mức
lãi suất cao hơn 0,25% OCR, và vay lại của các định chế tài chính với mức thấp
hơn 0,25% OCR. Quan trọng hơn tổng số tiền vay hay cho vay từ ngân hàng dự
Phần 2: Chính sách tiền tệ của New Zealand Nhóm 4 – TCDN Ngày 1 – K20
Monetary Policy Transparency and Pass-Through of Retail Interest Rates 2/28
trữ là không giới hạn. Bằng cách cho vay hoặc vay tiền qua đêm với số lượng
không giới hạn, Ngân hàng dự trữ có thể để duy trì ngắn hạn tỷ lệ lãi suất liên
ngân hàng theo mức OCR. Bằng cách thiết lập các lãi suất đáp ứng lạm phát mục
tiêu (OCR), Ngân hàng dự trữ có thể ảnh hưởng đáng kể đến các loại lãi suất ngắn
hạn, ví dụ như lãi suất hối phiếu 90 ngày, Lãi suất đáp ứng lạm phát mục tiêu
(OCR) còn có thể ảnh hưởng đến lãi suất bán lẻ khác của các ngân hàng thương
mại và các tổ chức tài chính. Kết quả là, những thay đổi trong lãi suất đáp ứng lạm
phát mục tiêu (OCR) sẽ ảnh hưởng đến tổng thể của hoạt động kinh tế trong quốc
gia và lạm phát . Tuy nhiên, quá trình này cần có thời gian và tốc độ điều chỉnh
thay đổi giữa các sản phẩm và qua thời gian
chỉnh tăng lãi suất huy động và giảm lãi suất cho vay chậm hơn. Điều này sẽ dẫn
đến sự bất cân xứng trong tốc độ điều chỉnh lãi suất.
- Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo - Hannan and Berger 1991, Neuman and
Sharp 1992. Theo giả thuyết thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, bởi vì có sự
thống nhất giữa các ngân hàng nên việc điều chỉnh lãi suất ở các thị trường không
cạnh tranh có thể bất cân xứng, nghĩa là có sự cứng nhắc trong tăng lãi suất huy
động và giảm lãi suất cho vay
- Thông tin bất cân xứng - Stiglitz and Weis 1981. Cuối cùng, theo giả thuyết thông
tin bất cân xứng, các ngân hàng phải đối mặt với hai lựa chọn trái ngược nhau và
các vấn đề rủi ro đạo đức khi họ được yêu cầu nâng cao lãi suất cho vay để tăng lãi
suất thị trường. Sự hiện diện của chi phí cơ hội làm cho nhiều ngân hàng muốn
tăng lãi suất cho vay đáng kể trong một thời gian ngắn. Lãi suất cho vay cao hơn
Phần 3: Tính cứng nhắc trong cơ chế điều chỉnh lãi suất Nhóm 4 – TCDN Ngày 1 – K20
Monetary Policy Transparency and Pass-Through of Retail Interest Rates 2/28
làm cho việc thanh toán các khoản nợ trở nên khó khăn hơn cho các khách hàng
vay dẫn đến các khoản vay quá hạn và trở thành nợ xấu. Trừ khi lãi suất của họ
đang dưới mức qui định và lãi suất thị trường dự kiến sẽ được duy trì ở mức cao,
các ngân hàng sẽ tăng lãi suất cho vay. Thay vào đó các ngân hàng sẽ hạn chế số
lượng tín dụng mở rộng cho khách hàng vay khi có sự gia tăng áp lực lên lãi suất
cho vay. Kết quả là lãi suất cho vay dự kiến sẽ trở nên cứng nhắc theo mô hình
thông tin bất cân xứng.
Một sự kết hợp của các yếu tố trên có thể đóng vai trò khác nhau trong cơ cấu điều
chỉnh lãi suất ngắn hạn và dài hạn. Chi phí chuyển đổi và chi phí thực đơn là yếu tố chính
ảnh hưởng đến tốc độ điều chỉnh trong ngắn hạn trong khi thị trường cạnh tranh không
hoàn hảo và thông tin bất cân xứng là yếu tố chính ảnh hưởng đến các tác động trong dài
hạn. (xem Bondt 2002).
Chính vì vậy, lãi suất huy động và lãi suất cho vay cứng nhắc hay linh hoạt trở
thành một câu hỏi theo lối kinh nghiệm. Hơn nữa, nó cũng giải thích cho sự khác nhau về
suất huy động nhưng lại không thấy được sự tác động lên lãi suất thế chấp.
Mojon (2000) đã nghiên cứu các tác động của chính sách tiền tệ trong ngắn hạn
lên lãi suất cho vay và lãi suất huy động trong khu vực các nước Châu Âu (Bỉ, Đức,
Pháp, Hà Lan và Tây Ban Nha), và giả sử có sự tác động đầy đủ trong dài hạn. Ông tìm
ra rằng lãi suất ngân hàng thay đổi chập chạp trước sự thay đổi của lãi suất của thị
trường, lãi suất dài hạn chậm thay đổi hơn lãi suất ngắn hạn và có một sự bất cân xứng
trong mức độ tác động của chính sách. Tác động của chính sách đến lãi suất cho vay làm
cho lãi suất cho vay cao hơn khi lãi suất thị trường đang tăng và ngược lại đối với lãi suất
huy động. Bondt (2002) đã xem xét mối quan hệ giữa lãi suất trái phiếu Chính phủ, lãi
suất tiền gửi, lãi suất cho vay trên cơ sở kết hợp ngày đáo hạn cho khu vực Châu Âu như
một tổng thể. Ông thấy rằng chính sách tiền tệ tác động hoàn toàn lên hầu hết các lãi suất
cho vay nhưng nó tác động không hoàn toàn cho cả lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay.
Kleimeier và Sander (2005) đã nghiên cứu thị trường ngân hàng bán lẻ của khu vực đồng
tiền chung Châu Âu và thấy rằng lãi suất cho vay đáp ứng nhanh hơn với những thay đổi
trong chính sách tiền tệ.
Chong et al (2005) nghiên cứu lãi suất huy động giữa các kỳ hạn khác nhau và lãi
suất cho vay của cả ngân hàng thương mại và các công ty tài chính tại Singapore và thấy
rằng các định chế tài chính điều chỉnh tăng lãi suất thì chậm hơn so với điều chỉnh giảm.
Họ cũng tìm ra sự khác nhau về tốc độ điều chỉnh giữa các sản phẩm tài chính, giữa các
ngân hàng và các tổ chức tài chính. Nhưng họ lại không tìm thấy sự tác động của lãi suất.
Phần 4: Phương pháp nghiên cứu Nhóm 4 – TCDN Ngày 1 – K20
Monetary Policy Transparency and Pass-Through of Retail Interest Rates 4/28
PHẦN 4: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ài nghiên cứu xem xét cơ chế truyền dẫn ( sự tác động) của lãi suất theo chính
sách tiền tệ qui định đến lãi suất ngân hàng thương mại cũng như tốc độ điều chỉnh của
những biến động ngắn hạn đến mối quan hệ cân bằng dài hạn.
4. 1 Mô hình định lượng trong dài hạn:
định và phân tích mô hình như sau:
Kiểm tra thuộc tính dừng của dữ liệu qua phương pháp kiểm định nghiệm đơn vị;
Kiểm tra thuộc tính dừng của phần dư (residual) từ kết quả hồi quy trên. Nếu phần
dư là một biến chuỗi tĩnh thì hai biến số trong mô hình là đồng liên kết. Từ đó
phân tích kết quả mô hình.
4.1.2 Mô hình ước lượng Phillips – Lorenta:
Bài nghiên cứu sử dụng mô hình ước lượng của Phillips – Lorenta theo phương
pháp bình phương tối thiểu (OLS) ; kết hợp với mô hình hồi qui biến giả ; để phân tích cơ
chế truyền dẫn của lãi suất trong dài hạn .
Phần 4: Phương pháp nghiên cứu Nhóm 4 – TCDN Ngày 1 – K20
Monetary Policy Transparency and Pass-Through of Retail Interest Rates 5/28
Phương trình (1) là mô hình trong dài hạn. Khi chính sách tiền tệ thay đổi, ngân
hàng sẽ không điều chỉnh lãi suất bán lẻ của họ ngay lập tức. Lãi suất ngắn hạn được
mong đợi điều chỉnh nhanh hơn lãi suất trung và dài hạn bởi vì lãi suất trung và dài hạn
phụ thuộc vào lãi suất ngắn hạn tương lai cũng như lãi suất ngắn hạn hiện tại.
4. 2 Mô hình định lượng trong ngắn hạn:
4.2.1 Mô hình hiệu chỉnh sai số cấu trúc (SEC – Structural Error Correction)
Để xem xét sự biến động ngắn hạn của lãi suất ngân hàng thương mại đối với sự
thay đổi lãi suất thị trường tiền tệ và lãi suất theo chính sách; bài nghiên cứu áp dụng mô
hình hiệu chỉnh sai số cấu trúc (SEC – Structural Error correction).
Phương trình chỉnh sửa sai số (ECM) theo mô hình ADL (p,q) tổng quát có dạng
như sau:
Trong đó:
chỉ ra sự khác biệt
thể hiện sự bất cân bằng tại thời điểm (t-1) và nó thể
hiện phần dư của mối quan hệ dài hạn được cho bởi phương trình (1);
v
Trong đó:
λ là biến giả được thêm. λ bằng 1 nếu phần dư, là dương và 0 cho trường hợp
khác
mô tả tốc độ điều chỉnh sai số khi lãi suất trên giá trị cân bằng
mô tả tốc độ điều chỉnh sai số khi lãi suất thấp hơn giá trị cân bằng. Và sử dụng
kiểm định Wald chuẩn để xác định xem về mặt thống kê khác hay không.
Bài nghiên cứu xác định độ trễ điều chỉnh bình quân bất cân xứng (MAL) theo
công thức của Hendry (1995). Đối với trường hợp đặc biệt của mô hình ADL(1,1), công
thức như sau:
Trong đó :
MAL
+
là độ trễ điều chỉnh trung bình khi lãi suất ngân hàng trên giá trị cân bằng
MAL
-
là độ trễ giá trị trung bình khi lãi suất ngân hàng thấp hơn giá trị cân bằng Phần 5: Dữ liệu nghiên cứu & Kết quả Nhóm 4 – TCDN Ngày 1 – K20
Monetary Policy Transparency and Pass-Through of Retail Interest Rates 7/28
PHẦN 5: DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU & KẾT QUẢ
5.1 Dữ liệu nghiên cứu & kết quả thống kê mô tả
5.1.1 Dữ liệu nghiên cứu:
Dữ liệu về lãi suất ngân hàng tại New Zeleand được thu thập từ tháng 8/1994 đến
tháng 12/2004 ( 10 năm). Với cỡ mẫu là một chuỗi gồm 125 mức lãi suất.
Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ hai nguồn:
Từ một ngân hàng thương mại lớn ở New Zealand: sử dụng dữ liệu của các mức
-
Bảng 1 .B – Kết quả thống kê trong giai đoạn từ tháng 03/1999 đến 12/2004 ( sau khi
New Zealand áp dụng mức lãi suất đáp ứng lạm phát mục tiêu – OCR)
Như vậy từ Bảng 1.A & Bảng 1.B cho thấy:
Trước khi áp dụng mức lãi suất OCR ( theo kết quả 1.A) , thì độ biến động ( độ
lệch chuẩn) của hầu hết các loại lãi suất đều khá cao trên 1%, và mức lãi suất qua đêm
liên ngân hàng có độ lệch chuẩn cao nhất là 1.72.
Sau khi áp dụng OCR ( so sánh 1.A & 1.B) , độ lệch chuẩn của các loại lãi suất
giảm đáng kể, chỉ còn nằm trong khoảng 0.6 đến 0.75.
Kết quả thống kế mô tả cũng cho thấy lãi suất vay thế chấp cố định trung bình có
quan hệ cùng chiều với kỳ hạn thanh toán, và đã tạo thành một đường cong dốc lên
Phần 5: Dữ liệu nghiên cứu & Kết quả Nhóm 4 – TCDN Ngày 1 – K20
Monetary Policy Transparency and Pass-Through of Retail Interest Rates 9/28
5.2 Xác định hệ số tương quan
Để biết được biến động của OCR sẽ tác động như thế nào đến các loại lãi suất, tác
giả đã xác định mối quan hệ tuyến tính ( hệ số tương quan) giữa các loại lãi suất, đặc biệt
là giữa mức lãi suất OCR với các loại lãi suất ngân hàng khác.
Diễn giải các ký hiệu:
OCR: mức lạm phát đáp ứng chính sách lạm phát mục tiêu
Interbank: lãi suất qua đêm liên ngân hàng
Floating_rate: lãi suất vay thế chấp có điều chỉnh
Fixed_1YR: lãi suất vay thế chấp cố định kỳ hạn 1 năm
Fixed_2YR: lãi suất vay thế chấp cố định kỳ hạn 2 năm
Base_Lending: lãi suất vay cơ bản
Time_deposit(6MTH): lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng
First Difference: sai phân cấp 1
Prob.: mức ý nghĩa kiểm định
Lag: độ trễ
Obs: số biến
Giả thiết kiểm định:
Giả thiết Ho (giả thiết null) : có 1 nghiệm đơn vị hay Yt là một chuỗi không dừng
Giả thiết H1 : Yt là chuỗi dừng
Bảng 3.A– Kiểm định nghiệm đơn vị theo mô hình Phillips - Perron
Phần 5: Dữ liệu nghiên cứu & Kết quả Nhóm 4 – TCDN Ngày 1 – K20
Monetary Policy Transparency and Pass-Through of Retail Interest Rates 11/28
Bảng 3.B – Kiểm định nghiệm đơn vị theo mô hình ADF ( Dickey – Fuller)
Bảng 3 cho ta thấy : Chấp nhận giả thiết Ho, có nghĩa là đây là một chuỗi không
dừng ở mức ý nghĩa 1% .
5.3.2 Kiểm định đồng liên kết theo mô hình kiểm định của Johansen
Kiểm định đồng liên kết được thực hiện để kiểm định xem phần dư của chuỗi
không dừng ( chuỗi lãi suất) là một chuỗi dừng hay không. Vì khi đó kết quả hồi qui mới
là thực và có mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa các biến trong mô hình.
Diễn giải các ký hiệu:
Floating_rate: lãi suất vay thế chấp có điều chỉnh
Fixed_1YR: lãi suất vay thế chấp cố định kỳ hạn 1 năm
Fixed_2YR: lãi suất vay thế chấp cố định kỳ hạn 2 năm
Fixed_3YR: lãi suất vay thế chấp cố định kỳ hạn 3 năm
Base_Lending: lãi suất vay cơ bản
Time_deposit(6MTH): lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng
Fixed_3YR: lãi suất vay thế chấp cố định kỳ hạn 3 năm
Base_Lending: lãi suất vay cơ bản
Time_deposit(6MTH): lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng
Dependent Variable (y) : Biến phụ thuộc Y
Constant & Constant (OLS) : Hằng số & Hằng số tính theo phương pháp OLS
Slope & Slope (OLS) : Độ dốc & độ dốc tính theo phương pháp OLS
Phần 5: Dữ liệu nghiên cứu & Kết quả Nhóm 4 – TCDN Ngày 1 – K20
Monetary Policy Transparency and Pass-Through of Retail Interest Rates 13/28
: giá trị đo lường mức độ truyền dẫn
Biến RHS : là lãi suất qua đêm liên ngân hàng
* : giá trị tại mức ý nghĩa 5% Giả thiết kiểm định:
Giả thiết Ho (giả thiết null) : = 0 – không có sự truyền dẫn
Giả thiết H1 : = 1 – truyền dẫn hoàn toàn
Kết quả Bảng 5 cho thấy:
Sự truyền dẫn trong dài hạn không hoàn toàn trừ lãi suất vay thế chấp có điều
chỉnh & lãi suất vay thế chấp cố định có kỳ hạn 1 năm ở mức ý nghĩa 5 %.
Truyền dẫn trong dài hạn cao hơn truyền dẫn trong ngắn hạn đối với các lãi suất
có kỳ hạn dài ( điều này cũng phù hợp với thuyết kỳ vọng về cấu trúc kỳ hạn của lãi
suất).
Mức lãi suất đáp ứng lạm phát mục tiêu (OCR) có mối tươmg quan với lãi suất
ngắn hạn hơn lãi suất dài hạn, vì OCR là lãi suất qua đêm.
Lãi suất trong dài hạn bị ảnh hưởng bởi lãi suất ngắn hạn hiện tại và cả lãi suất
ngắn hạn tương lai.
Kết quả Bảng 6 cho thấy, sau khi áp dụng mức lãi suất đáp ứng lạm phát mục
tiêu(OCR) thì:
Mức độ truyền dẫn lên lãi suất vay thế chấp có điều chỉnh, lãi suất cho vay cơ bản,
lãi suất huy động tăng.Lãi suất vay thế chấp có điều chỉnh, lãi suất cho vay cơ bản có
mức truyền dẫn hoàn toàn tại mức ý nghĩa 5%.Lãi suất huy động có mức truyền dẫn hoàn
toàn tại mức ý nghĩa 10%.
Đồng thời khi tính minh bạch của chính sách tiền tệ tăng lên thì mức độ truyền
dẫn của lãi suất huy động cố định; và lãi suất vay thế chấp có điều chỉnh cũng tăng. Tuy
nhiên chính sách minh bạnh tiền không ảnh hưởng đến lãi suất vay thế chấp cố định.
Bảng 6 cũng cho thấy rằng trong dài hạn, rủi ro ngoại hối không được bảo hộ hiệu
quả.
5.4 Phân tích cơ chế truyền dẫn trong ngắn hạn
5.4.1 Mô hình hiệu chỉnh sai số cấu trúc
Hệ số
1
là các kết quả ban đầu của hệ số đo lường mức truyền dẫn dài hạn của lãi
suất(từ mô hình đồng liên kết). Bước tiếp theo là ước lượng phương trình động, trong đó
có các hiệu số khác biệt thứ nhất (first difference) của biến độc lập và sai số trễ (lag
residuals) từ phương trình đầu tiên được gọi là “biến điều chỉnh sai số” (error-correction
term). Cụ thể mô hình SEC (Structural Error – correction) có dạng sau:
Với MAL mức độ trễ trung bình của quá trình điều chỉnh đến trạng thái cân bằng
dài hạn .Điều này có nghĩa là giá trị tuyệt đối của càng lớn thì quá trình điều chỉnh diễn
ra càng nhanh.
Diễn giải các ký hiệu:
Floating_rate: lãi suất vay thế chấp có điều chỉnh
Fixed_1YR: lãi suất vay thế chấp cố định kỳ hạn 1 năm
Fixed_2YR: lãi suất vay thế chấp cố định kỳ hạn 2 năm
Fixed_3YR: lãi suất vay thế chấp cố định kỳ hạn 3 năm
:độ trễ điều chỉnh bình quân khi lãi suất ngân hàng trên mức
cân bằng
MAL
-
đại diện cho độ trễ điều chỉnh bình quân khi lãi suất ngân
hàng dưới mức cân bằng
β
o
đo lường mức độ truyền dẫn trong ngắn hạn
Phần 5: Dữ liệu nghiên cứu & Kết quả Nhóm 4 – TCDN Ngày 1 – K20
Monetary Policy Transparency and Pass-Through of Retail Interest Rates 17/28 Từ kết quả bảng 8, cho thấy:
Không có bằng chứng thể hiện sự điều chỉnh bất đối xứng của lãi suất. Việc áp
dụng mức lãi suất OCR cũng không gây ra sự điều chỉnh lãi suất bất đối xứng của lãi
suất ngân hàng.
Chỉ có một số bằng chứng cho thấy lãi suất cho vay cơ bản có tốc độ điều chỉnh
khác nhau, nhưng kết quả này không mang tính thuyết phục.
Có một số bằng chứng yếu ớt cho thấy các ngân hàng điều chỉnh tăng các mức lãi
suất khác lên nhanh hơn so với mức lãi suất cho vay căn bản theo OCR; và cũng điều
chỉnh giảm các mức lãi suất khác nhanh hơn đối với lãi suất vay thế chấp cố định 1 năm.
Tuy nhiên, kết quả này cũng có thể chỉ là do sự cạnh tranh mạnh mẽ giữac các ngân
hàng.