LUẬN VĂN: Lợi nhuận - Vai trò lợi nhuận trong nền
kinh tế thị trường ở VIệT NAM
a - lời NóI đầu
Năm 1986 nước ta tiến hành cải cách nền kinh tế, chuyển từ nền kinh tế
kế hạch hoá tập chung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lí của nhà nước. Có
Lợi nhuận đóng vai trò rất lớn trong nền kinh tế. Nó ảnh hưởng tới cả chính
trị xã hội, văn hoá, nó len lỏi vào mọi mặt của đời sống xã hội trong mọi nền kinh tế
thị trường. Mà ta vẫn biết rằng mọi sự vật hiện tượng đều có tính hai mặt của nó là
tích cực và tiêu cực như thế nào đó để phát huy mọi tính ưu việt và vai trò của lợi
nhuận.
Với mục đích lợi nhuận các nhà tư bản tìm đủ mọi cách để có được nhiều lợi
nhuận. Trước đây họ có thể tạo ra lợi nhuận bằng cách kéo dài ngày lao động của
công nhân nhưng phương pháp đó đã gặp phải sự chống đối mãnh liệt của công
nhân chính vì lẽ đó mà họ chuyển sang bóc lột một cách tinh vi hơn. Nhà tư bản áp
dụng kỹ thuật mới vào quá trình sản xuất và bắt buộc người công nhân phải làm
việc có năng suất cao hơn. Nhưng chính mục đích áp dụng kỹ thuật mới đã làm cho
các nhà tư bản đầu tư ngày càng nhiều vào khoa học kỹ thuật đặc biệt là vấn đề
nghiên cứu, cho nên nó đã khuyến khích các tài năng cá nhân phát triển do vậy mà
những phát minh lần lượt được ra đời đặc biệt trong thế kỷ XIX đến XX. Nó đã đưa
lực lượng sản xuất phát triển một cách nhanh chóng yếu tố này đã giúp cho nhà tư
bản không chỉ thu được lợi nhuận đơn thuần mà còn thu được lợi nhuận siêu ngạch.
Người công nhân chính là người trực tiếp sử dụng, vận hành công nghệ mới vì vậy
để quá trình sử dụng được tiếp diễn với hiệu quả kinh tế cao thì người công nhân
bắt buộc phải nâng cao trình độ, nâng cao tay nghề nếu không họ sẽ bị đào thải bởi
quy luật phát triển. Còn về mặt nhà tư bản thì họ cũng hiểu rằng để đạt được hiệu
quả cao, tận dụng được hết các chức năng của công nghệ tiên tiến thì họ phải có một
đội ngũ công nhân lành nghề với trình độ kỹ thuật cao. Vì vậy quá trình đầu tư cho
chiến lược nâng cao trình độ lao động của nhà tư bản và yêu cầu cấp thiết phải nâng
cao trình độ của mình của người công nhân đã diễn ra. Qua đó trình độ của người
công nhân từng bước được nâng cao trình độ trở thành yêu cầu tất yếu của các nước
phát triển và các nước đang phát triển. Do nhận biết được vai trò quan trọng của
những lao động có tay nghề cao nên hiện nay đang diễn ra tình trạng mua chuộc, lôi kéo những nhà khoa học, những công nhân giỏi về phía mình bằng các biện pháp
và xã hội Trong thời kỳ quá độ hiện nay ở nước ta còn xuất hiện hình thái phân
phối theo vốn và tài sản dươí hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu
hạn.
3. Vai trò của lợi nhuận đối với quá trình tái sản xuất
Để biết được vai trò của lợi nhuận đối với quá trình tái sản xuất xã hội như
thế nào, thì trước tiên ta hãy xét xem quá trình tái sản xuất diễn ra như thế nào.
Như ta đã biết muốn tái sản xuất mở rộng ngày càng hiện đại hóa thì phải có
nhiều vốn. Muốn có nhiều vốn phải tích luỹ vốn. Do vậy tích luỹ vốn gắn liền với
tái sản xuất mở rộng và trở thành quy luật kinh tế chung của các hình thái kinh tế xã
hội có tái sản xuất mở rộng.
Tích luỹ vốn nói chung, xét về mặt thực chất là sự chuyển hoá một phần giá
trị của sản phẩm thặng dư, do lao động thặng dư tạo ra thành vốn phụ thêm, để mở
rộng sản xuất. Do vậy, nguồn tích luỹ vốn là giá trị của sản phẩm thặng dư do lao
động thặng dư tạo ra trong quá trình sản xuất (nhờ năng suất lao động cao bảo đảm
ngày lao động vượt quá phần giá trị của sản phẩm tất yếu) và được thực hiện trong
quá trình lưu thông. Sự tích luỹ này do các chủ thể sở hữu về tư liệu sản xuất hoặc
tư nhân Nhà nước tiến hành. Như vậy, dù ở trạng dạng nào thì vốn cũng là một phần
lợi nhuận (thực hiện giá trị thăng dư) tạo thành. Và lợi nhuận đóng vai trò quyết
định cho qúa trình tái sản xuất xã hội.
4. Vai trò của lợi nhuận đối với các mặt của đời sống xã hội
Phân tích theo lao động và phân phối theo tài sản vốn đều là tất yếu khách
quan trong quá độ hiện nay vì các hình thức đó đều nhằm mục đích thúc đẩy nền
sản xuất phát triển cao và tạo lập sự công bằng xã hội giữa mọi thành viên trong xã
hội. Nhưng ngoài những người có sức đang làm việc và được trả công theo lao động
những người có vốn và tài sản đóng góp vào quá trình sản xuất để được nhận lợi
tức, lợi nhuận, thì trong xã hội còn có những người vì lẽ này hay lẽ khác không thể
tham gia lao động được trả công của xã hội. Đời sống số đông người này là do gia
đình họ hoặc xã hội đảm bảo. Mặt khác ngay mức sống của cán bộ, công nhân viên
chức Nhà nước và những người làm việc trong tất cả các thành phần kinh tế cũng
phẩm, mở rộng phân công lao động quốc tế, tăng cường liên doanh, liên kết hợp tác là cơ sở tăng cường tính độc lập và phụ thuộc lẫn nhau trên nguyên tắc bình đẳng và
cùng có lợi.
Để phát huy được sự tăng cường quan hệ kinh tế quốc tế thì đòi hỏi trong các
mối quan hệ kinh tế đó phải có lợi nhuận, bởi vì trong cơ chế thị trường thì một vấn
đề có liên quan tới hai chữ "kinh tế" thì không có lợi nhuận không làm. Do vậy
trong mối quan hệ này đòi hỏi phải có lợi nhuận và nó đã thúc đẩy các mối quan
hệ ngày càng tốt hơn.
II .Tác dụng của lợi nhuận đến nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
1. Nền kinh tế Việt Nam trước 1986
Trước năm 1986 nền kinh tế Nhà nước là nền kinh tế chỉ huy, ở đó Nhà nước
kiểm soát hầu hết các phương tiện sản xuất, để đảm bảo cho điều đó thực hiện được
Nhà nước cần phải kiểm soát giá cả, tiền lương và sự phân phối hàng hoá và dịch vụ
sao cho doanh nghiệp Nhà nước có thể chiếm đoạt được lợi nhuận độc quyền mà
phần lớn nguồn lợi nhuận đó là được chuyển vào Ngân sách qua doanh thu như một
thách thức thuế ẩn ngầm. Về phía mình, các doanh nghiệp và người lao động phải
cống hiến sức lao động của họ vào việc tạo ra lợi nhuận mà họ chỉ được hưởng một
phần, thông qua hàng hoá và dịch vụ do Nhà nước cấp. Trong hệ thống "phân
phối"- "phân phối lại" này sự phân phối thu nhập không dựa trên các nhân tố kích
thích được xác định thông qua thị trường, mà dựa trên định mức,đánh giá sự công
hiến của mỗi tập thể và cá nhân tương ứng với vị trí, quyền lực của nó trong hệ
thống "phân phối - phân phối lại". Điều đáng nói là hệ thống "phân phối - phân
phối lại" là đặc trưng cho mọi nền kinh tế chỉ huy nhưng mức độ "tập trung hoá"
càng cao thì hệ thống đó càng phình ra, càng có nhiều doanh nghiệp khổng lồ, mà
sản phẩm của nó không đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Vì vậy nền kinh
tế đó sẽ gặp khó khăn lớn. Ngược lại trong nền kinh tế đang phát triển, nơi mà sự
tồn tại của khu vực vô hình ngăn cản mọi nỗ lực gia tăng mức độ tập trung hoá quản
phát huy nội lực, kiềm chế đẩy lùi lạm phát. Từng bước thực hiện quá trình mang
tính quy luật của bước chuyển đổi nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ
chế thị trường có điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Với sự tự do hoá thương mại và tự
do hoá giá cả là nhân tố trung tâm đột phá từng bước tiến tới cơ chế thị trường đích thực. Cơ chế này phát huy vai trò điều tiết của thị trường hình thành bước đầu một
thị trường cạnh tranh, làm cho hàng hoá được lưu thông thông suốt, cung cầu được
cân đối, thoát khỏi tình trạng khủng hoảng thiếu, giá cả ổn định dần. Lạm phát được
ngăn chặn. Cơ chế thị trường đã góp phần giải phóng lực lượng sản xuất, phát huy
tính tự chủ của hộ kinh tế và chủ doanh nghiệp. Ngay phần lớn các doanh nghiệp
Nhà nước cũng đã đạt được giải phóng khỏi các tiêu pháp lệnh để thích ứng theo
nhu cầu thị trường. Cơ chế này cũng đã thúc đẩy việc phải sử lý những vấn đề mấu
chốt làm đảo lộn cả hệ thống tư duy và quan điểm kinh tế cũ như vấn đề sở hữu.
Với sự thừa nhận và đánh giá cao những thành tựu của kinh tế nhiều thành phần: Cơ
chế thị trường nước ta còn thiếu đồng bộ, mang nhiều yếu tố tự phát, rối loạn, sản
phẩm của một nền kinh tế chưa thoát khỏi khủng khoảng và cơ bản là sản xuất nhỏ,
sự yếu kém của bộ máy quản lý Nhà nước, tình trạng quan liêu, thiếu hiểu biết thậm
trí trì trệ bảo thủ trước bước ngoặt chuyển đổi kinh tế.
Trước hết cơ chế thị trường nước ta còn thiếu kinh nghiệm, còn chưa tạo môi
trường ổn định và an toàn cho sản xuất kinh doanh đặc biệt những yếu kém trong
thể chế tài chính tiền tệ, tín dụng đang là lực cản của quá trình chuyển đổi, cơ chế
thị trường thiếu đồng bộ. Sự chuyển biến đã khá mạnh mẽ trên thị trường chấp nhận
tự do kinh doanh theo pháp luật, nhưng lại chưa giải quyết đủ những tiền đề cơ bản
cho sự tự do này đó là sự tự do về sở hữu. Sự hình thành và vận động của nền kinh
tế thị trường còn mang nhiều yếu tố tự phát. Cơ chế vận hành thô sơ, thô thiển, tạo
điều kiện cho kiểu làm ăn bất chính.
Cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế định hướng
xã hội chủ nghĩa là vấn đề hoàn toàn mới mẻ, chưa có tiền lệ trong lịch sử và không
có mô hình vạch sẵn. Do vậy không thể ngay từ đầu hình dung toàn bộ các chi tiết
Xét cho đến cùng thì kinh tế thị trường cũng như các hình thức tổ chức kinh
tế khác đều nhằm mục đích sản xuất đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu của con người,
tức sản xuất đạt hiệu quả cao nhất. Điều đó thể hiện bởi lợi nhuận thu về cao kinh tế
thị trường tạo ra các thị trường là nơi gặp gỡ giữa người mua và người bán để xác
định 3 yếu tố cơ bản của sản xuất đó là:
- Sản xuất cái gì ?
- Sản xuất như thế nào ? - Bán cho ai ?
Qua đó nâng cao tính năng động của nền kinh tế.
Việt Nam đang từng bước đi lên trong kinh tế, để có thể giàu có hơn nước ta phải
tạo nhiều mối làm ăn, hợp tác với nước ngoài bởi vì chỉ có nội lực không vẫn chưa
đủ, nó chỉ là một điều kiện làm tiền đề vững chắc cho quan hệ ngoại giao làm ăn với
nước ngoài. Vậy chúng ta quan hệ làm ăn với họ để làm gì ? Để kiếm được lợi
nhuận cao hơn so với trong nước, chính vì lẽ đó hiện nay chúng ta quan hệ làm ăn
với rất nhiều nước ví dụ như Trung Quốc, các nước khối Nics, Mỹ, Thái Lan, Nhật
Bản, Anh, oxtraylia, ASEAN. C - KếT LUậN
Qua quá trình nghiên cứu ta thấy lợi nhuận là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp là
cơ sở cho mọi hình thức kinh tế và cùng với những hiểu biết về vai trò cũng như
hạn chế của lợi nhuận áp dụng vào đặc điểm của cơ chế kinh tế cũng như đặc điểm
về chính trị xã hội nói lên sự thành công của nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa không thể dừng lại ở các tốc độ tăng trưởng mà đi kèm với nó phải
không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống với tiền lương và thu nhập kinh tế tăng
trưởng mạnh, y tế giáo dục phát triển, hạn chế sự phân hoá giàu nghèo, không làm
phương hại tới phúc lợi xã hội hay làm đảo lộn vị trí xã hội tương đối của đa số dân
đó đến nay là quãng thời gian chưa phảilà dài, nhưng đất nước ta đã đạt được một
số thành tựu bước đầu,điều đó đã khẳng định sự đúng đắn trong đường lối, chính
sách của đảng và nhà nước ta.Mở cửa nền kinh tế thực chất là cởi trói nền kinh tế,
hạn chế sự can thiệp của nhà nước vào các quá trình kinh tế, làm cho các hoạt động
kinh tế đi theo đúng quy luật của nó. Nước ta tiến hành đổi mới muộn hơn so với
các nước, tuy có đạt được một số thành tựu nhất định nhưng so với yêu cầu công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, so với các nền kinh tế phát triển, đặc biệt là trước
quá trình toàn cầu hoá hiện nay thì chúng ta còn phải cố gắng rất nhiều. Đóng góp
vào công cuộc chung của đất nước em xin có một số ý kiến như sau:
- Để phát triển thì yếu tố cơ bản đầu tiên đó là vấn đề con người, tức là
nguồn nhân lực, lực lượng lao động của chúng ta là rất dồi dào, tuy nhiên chất
lượng của đội ngũ lao động không cao, phần lớn mới chỉ là lao động thủ công, trình
độ thấp, năng xuất lao động thấp. Vì vậy nhà nước phải chú trọng đầu tư cho việc
nâng cao trình độ, kĩ năng cho người lao động đồng thời với việc phân bổ đào tạo
tương ứng với kết cấu của các ngành kinh tế
- Vốn là yếu tố quan trọng trong công cuộc công nghiệp hoá hiện đại, hiện
nay vốn trong nước không đủ để đầu tư cho các ngành kinh tế, vì vậy chúng ta phải
tích cực kêu gọi đầu tư nước ngoài,đồng thời với việc cải cách thủ tục hành chính,
xây dựng cơ sở hạ tầng,thu hút đầu tư nước ngoài. - Tăng cường học hỏi kinh nghiệm của các nước đã thành công trong nền
kinh tế thị trường, đặc biệt là các nước có hoàn cảnh kinh tế chính trị giống như
nước ta
- Nâng cao năng xuất lao động, hạ giá thành sản phẩm, tăng cường khả năng
cạnh tranh cho hàng hoá của ta
- Để thu được nhiều lợi nhuận, để tăng trưởng thì ta phải nâng cao trình độ
của cán bộ quản lý kinh tế của nước ta bằng cách bồi dưỡng và khích lệ nhân tài
phát triển. Bên cạnh đó phải đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học thông minh, năng
động để nắm bắt được khoa học, công nghệ một cách nhanh nhất, muốn vậy Nhà
2 - Giáo trình kinh tế chính trị Mac - Lênin, Trường ĐHKTQD
(1998), tập I chương IV, VI.
3 - Giáo trình lịch sử các học thuyết kinh tế, trường ĐHKTQD.
4 - Kinh tế và dự báo số 2.
5 - Kinh tế thế giới số 4.
6 - CacMác: Tư bản quyển I
7 - Mác Các: Tư bản quyển III.
8 - Nghiên cứu kinh tế số 224 - 1/2000
9 - Nghiên cứu kinh tế số 254 - 7/2000
10 - Phát triển kinh tế số 76/2001
11 - Samuellson A.Paul Kinh tế học tập I, II.
12 - Thương mại số 9/2001
13 - Thương mại số 14/2001