LUẬN VĂN:
quá trình hình thành, cơ cấu và
chức năng của xã hội học
Phần một
khái niệm xã hội học và các vấn đề liên quan
và quy luật xã hội chỉ có thể xuất hiện, phát triển trực tiếp của hoạt động có ý chí
theo đuổi những mục đích nhất định .chính vì vậy nghiên cứu xã hội không thể
tách rời nghiên cứu hoật động của cộng đồng người và mối quan hệ muôn vẻ giữa
cá nhân trong cộng đồng ấy trong những điều kiện lịch sử cụ thể nhất định.
Với tư cách là một chỉnh thể toàn vẹn, xã hội là một hêh thống. Hệ thống xã hội
bao gồm những yếu tố mối liên hệ giũa các yếu tố và sự biến đổi của các yếu tố
theo sự tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan .Nghiên cứu xã hội với tư
cách là một chỉnh thể với tư cách là một hệ thống cũng có nghĩa là phải nghiên cứu
những yếu tố, mối liên hệ giữa các yếu tố để xác định những quy luật vận động
phát triển của chúng. Song mỗi yếu tố lại là một tiểu hệ thống có các yếu tố nhỏ và
sự tác động của các yếu tố cũng như quy luật hình thành phát triển của các yếu tố
nhỏv.v Chẳng hạn xã hội loài người gồm nhiều quốc gia, mỗi quốc gia gồm nhiều
địa phương nền sản xuất xã hội có nhiều ngành, các ngành lại chuyên môn hoá
hẹp hơnv.v Rõ ràng nghiên cứu hệ thống xã hội không chỉ cần xem xét những quy
luật chung nhất mà còn cần đi tới nhũng quy luật đặc thù, kém chung hơn.Và việc
nghiên cứu càng cụ thể bao nhiêu, các khoa học nghiên cứu về xã hội lại càng đáp
ứng nhiều cho thực tế bấy nhiêu. Đó chính là lý do xã hội học tách khỏi triết học để
trở thành một môn khoa học độc lập. Đồng thời xã hội học cũng có những vị trí
riêng, không đồng nhất với các khoa học xã hội học khác;vị trí này được quy định
bởi tính đặc thù của đối tượng và phương pháp nghiên cứu xã hội học. Chương II- quá trình hình thành ,cơ câu và chức năng của xã hội học
Mâu thuẫn sâu sắc về lợi ích giũa các tầng lớp xã hội và nhất là giữa các giai cấp
công nhân vô sản và giai cấp tư sản đã lên đến đỉnh điển làm bùng nổ cuộc cách
mạng vô sản đầu tiên trên thế giới vào cuối thế kỷ XIX- Công xã Pais năm
1917.Cuộc cách mạng này đã thổi bùng lên ngọn lửa nhiệt tình cách mạng và lý
tưởng xã hội chủ nghĩa trong các tầng lớp tiến bỗ xã hội. Những biến đổi chính trị
xã hội và đặc biệt là cuộc cách mạng Pháp đã để lại dấu ấn không phai mờ trong
lịch sử phát triển xã hội học.Trước hết đó là sự kiện xã hội học ra đời lần đầu tiên ở
Pháp mà không phải ở Anh, Đức hay Mỹ .Thứ hai ,các công trình của các nhà xã
hội học ở Pháp như Auguste Comte, Emile Durkeim, nhà xã hội học ngưòi Anh
Herbert Spencer, nhà xã hội học người Đức George Simmel ,và đặc biệt nhà lý
luận cách mạng và tư tưởng xã hội Karl Marx đều chịu ảnh hưởng của học thuyết
xã hội chủ nghĩa ở Pháp. Những biến động chính trị, xã hội ở Pháp đã đặt ra câu
hỏi lý luận cơ bãn xã hội ở Pháp. Đó là làm thế nào phát hiện và sử dụng các quy
luật tổ chức xã hội để góp phần tạo ra trật tự và tiến bộ xã hội.
c-Biến đổi về mặt lý luận và phương pháp nghiên cứu:
Tiền đề về lý luận và phương pháp luận làm nảy sinh xã hội học bắt nguồn từ
những tư tưởng kho học và văn hoá thời đại phục Hưng thế kỷ thứ XVIII.
Các nhà tư tưởng ở Anh thường cổ vũ và bênh vực cho quyền con người nhằm
biện minh cho chủ nghĩa tư bản công nghiệp lần đầu tiên xuất hiện ở nước này .Ví
dụ: Adam Smith cho rằng: các cá nhân phải được tự do thoát khỏi những rằng buộc
và hạn chế bên ngoài dể tự do cạnh tranh. Có như vậy các cá nhân mới tạo ra được
xã hội tốt đẹp hơn. Các nhà triết học Pháp cho rằng con người và xã hội chủ yếu bị
chi phối bởi điều kiện và hoàn cảnh của họ, rằng con người có những “quyền tự
nhiên “ nhất định mà các thiết chế xã hội đang vi phạm.Vì vậy, cần xoá bỏ, thay
thế trật tự xã hội cũ bằng một trật tự xã hội mới tốt đẹp hơn với bản chất và nhu cầu của con người. Sự biến đổi như vậy cần phải diễn ra một cách hợp pháp, tiến
bộ và bằng con đường khai sáng.Các tư tưởng nhân đạo, tiến bộ đó đã được phản
ánh khá rõ trong cuộc cách mạng Pháp năm 1789.
đời sống xã hội.
Ngày nay, xã hội học chuyên biệt được phân thành nhiều bộ môn như:xã hội học
lao động ,lối sồng, dư luận phân tầng xã hội, xung đột xã hôị, xã hội học về nhận
thức, tôn giáo luật pháp, hình xã hội học nông thôn, dô thịv.v ở một số nước, các
ngành xã hội học chuyên biệt được phân chia thành 200 loại khác nhau.
b-Xã hội học trừu tượng -ý thuyết và xã hội học cụ thể thực nghiệm
Việc phân chia xã hội học trừu tượng-lý thuyết và Xã hội học cụ thể thực
nghiệm là căn cứ vào mức dộ trừu tượng của vấn đề nghiên cứu.Việc phân chia
này có liên quan mật thiét với việc phân chia thành xã hôị học chuyên biệt và Xã
hội học đại cương. Xã hội học đại cương nghiên cứu những quy luật chung nhất,
do đó liên quan chặt chẽ tới xã hội học trừu tượng - lý thuyết; còn xã hội học
chuyên biệt nghiên cứu những vấn đề cụ thể hơn nên gán liền với xã hội học cụ thể
- thực nghiêm. Tuy nhiên không thể đồng nhất Xã hội học đại cương với Xã hội
học trừu tưọng lý thuyết bởi vì xã hội học đại cương cũng có cơ sở thực nghiệm;
Cũng không thể đồng nhất Xã hội học chuyên biệt với xã hội học cụ thể bởi vì xã
hội học chuyên biệt cũng có phần lý thuyết, là xã hội học lý thuyết.
Cấp độ xã hội học lý thuyết là sự tái hiện lại trong quá trình tư duy khách thể xã
hội, mô tả trạng thái của nó, thâm nhập vào các quy luật vận động phát triển của
nó, hiẻu được và dự báo được xu hướng tất yếu phát triển của nó.
Cấp độ xã hội học thực nghiệm bao gồm việc thu thập thông tin xã hội thông
qua quan sát, thử nghiệm và việc sử lý các thông tin xã hội đó. Mô tả các sự kiện
thực nghiệm là công việc của xã hội học thực nghiệm
Mối quan hệ giữa cấp độ lý thuyết và cấp độ thực nghiệm thể hiện ở chỗ: nhận
thức lý thuyết được xây dựng trên cơ sở nhận thức thực nghiệm, là cái có trước, là
cơ sở để khái quát hoá: Song nhận thức lý thuyết không phải là sự tiếp diễn đơn
giản nhận thức thực nghiệm mà là bước phát triển cao hơn trong việc tìm ra các
quy luật vận động và biến đổi của khách thể nghiên cứu. Danh giới giữa các cấp độ lý thuyết và cấp độ thực nghiệm chỉ có tính chất
những vấn đề có liên quan có liên quan đến chủ thể xã hội do xã hội học đặt vấn đề
hoặc trực tiếp nghiên cứu và giải quyết.
+ Ba là, góp phần điều chỉnh hành vi và nhân cách cá nhân thông qua các công
trình nghiên cứu về đạo dức, lối sống định hướng giá trị, văn hoá nghệ thuật,
khuyết tật xã hội do xã hội học quan tâm và nghiên cứu.
c-Chức năng dự báo và quản lý.
Đây là chức năng hết sức quan trọng của xã hội học. Dựa trên cơ sở phân tích và
tổng hợp các kết quả nghiên cứu hiện trạng của những quá trình riêng lẻ những
hiện tưọng của các mặt xã hội, xã hội học làm sáng triển vọng vận động của xã hội
học trong tương lai sắp tới cũng như tương lai xa hơn.
Nhờ những dự báo của xã hội học mà các chủ thể quản lý có thể đưa ra và thực
hiện kế hoạch hoá, kế hoạch hoá chẳng những là tương lai của tính chất lượng của
hoạt động có ý thức của con người mà còn là công cụ quan trọng của tất cả các chủ
thể xã hội trong lĩnh vực tổ chức quản lý xã hội.
Như vậy xã hội học có mối quan hệ trực tiếp đến hoạt động quản lý. Nhờ những
kết quả khoa học của việc nghiên cứu đã được chứng thực và đồng thời nhờ cả sự
khác nhau về quan diểm và phương pháp đánh gía về những đặc tính khác nhau
của đối tượng, xã hội học tạo ra các căn cứ xuất phát cho việc đề ra và quyết định
tối uư các phương án quản lý.
d-Chức năng phương pháp luận
Nội dung và phương pháp nghiên cứu của xã hội học cung cấp phương pháp
luận để tiếp cận và phân tích tính hiện thực xã hôị.Chính hệ thống phương pháp
đặc thù của xã hội học được coi là công cụ chung cho nhiều ngành khoa học trong
lĩnh vực hoạt động riêng của mình.Chức năng phương pháp luận của xã hội học
được biểu hiện cụ thể ở chỗ:
+ Một là,Từ những tri thức về quy luật chung và đặc thù về xã hội của xã hội
học mà các chủ thể xã hội rút ra phương pháp nhận thức và cải tạo các đối tượng
xã hội. chạm đến lợi ích của cộng đồng, có tầm quan trọng và tính cấp bách đòi hỏi sự
phán xét, đánh giá phương hướng giải quyết đó có thể là một vấn đề chính trị xã
hội văn hoá hay đạo đức.
Tính đặc thù của dư luận xã hội gắn liền với chủ thể của nó; liệu có thể coi số
người của một nhóm mọi tập hợp ngưòi là dư luận xã hôị được không?Tất nhiên
một nhóm nhỏ có thể tham gia hình thành dư luận về một vấn đề xã hội chung, có
giá trị nào đó trong trường hợp này, có thể coi nó là một trong những nhóm tạo ra
chủ thể của dư luận, vì nó thâm nhập vào một cộng đồng người nào đó.Trong xã
hội nó tồn tại dư luận xã hội ở nhiều dạng cộng đồng lớn nhỏ.
dư luận xã hội không phải là một trạng thái tinh thần thuần túy mà là một trạng
thái tinh thần thực tế. Nhà nghiên cứu người Bungari B.Vinhép viết:”Dư luận xã
hội xuất hiện hình thành và hoạt động như một tranh luận đánh giá thể hiện quan
hệ của các nhóm xã hội với hành vi và hoạt động của từng người riêng biệt.Yếu tố
nhất định của bất cứ một cuộc tranh luận tập thể nào về các hiện tượng có thể coi là
dư luận xã hội đều phải có sự đánh giá âm tính hay dương tính về hiện trạng”.
Tính đặc thù của dư luận xã hội chỉ ra mức xem xét, sự thể hiện của dư luận xã
hội.Dư luận xã hội phải được thể hiện đầy đủ ở mức độ lời nói và ở mức độ hành
vi. Khi dư luận xã hội hình thành, cộng đồng xã hội đi từ đánh giá cung với lập
trường hành động, kiến nghị chung nên cấp trên và tuỳ theo điều kiện mà chuyển
hoá từ lời nói đến hành động.Thái độ, tinh thần như vậy thể hiện như là thái độ tinh
thần thực tiến, thúc đẩy hành dộng thực tiễn.Quá trình này thể hiện rõ ràng trong
các cuộc trưng cầu ý kiến nhân dân về các chủ trương, chính sách và các dự luật
trong quá trình phát triển cách mạng của nhân dân.Chính vì vậy dư luận xã hội
được xem như là một hoạt động tâm lý xã hội, là cầu nối giữa ý thức xã hội và
hành động xã hội. Sự phản ánh thực tế trong dư luận xã hội trước hết có tính chất
đánh giá các hiện tượng xã hội để xác định hành vi ứng xử của con người.Nghiên
cứu vấn đề dư luận xã hội phải xem xét ở nhiều khía cạnh đó là khía cạnh về chủ
thể và khách thể của dư luận xã hội.
+ Trong dư luận xã hội, mọi vấn đề phải được kiểm chứng qua các phương tiện
thộng tin đai chúngvà những nguồn tin có trách nhiệm.Tin đồn có đặc điểm sau: Cường độ tin đồn phụ thuộc vào tính hấp dẫn và mức độ không xác định của
vấn đề, hình thức lây lan:rút gọn chi tiết; cường điệu hoá, các thông tin được sắp
xếp theo động cơ của người truyền tin.
Dư luận xã hội và chuẩn mực xã hội
Dư luận xã hội có tác dụng điều chỉnh hành vi con người, vì nó đưa ra những
nhận xét đánh giá trên cơ sở chuẩn mực xã hội.Dư luận xã hội góp phần tạo ra
những chuẩn mực xã hội mới, loại bỏ những giá trị chuẩn mực cũ, hoặc nó có thể
tập hợp các chuẩn mực xã hội với nhau và tao ra sức mạnh mới.
Dư luận xã hội và dư luận của xã hội
Thông thường, sau mỗi vấn đề xã hội được đưa ra, có những quan điểm ,cách
nhìn nhận khác nhau ở trong mỗi nhóm. Những quan điểm ý kiến của nhóm đó
được gọi là dư luận xã hội, một khi trong quá trình tương tác giữa các nhóm xã hội
đã dẫn tới việc hình thành các ý kiến chung. Chương II - Quá trình hình thành và yếu tố hình thành dư luận xã hội
1- Quá trình phát sinh:
Dư luận xã hội không phải là ý kiến của một người mà là của số đông người
trong cộng dồng, là phát ngôn chung của họ. đó không phải là tổng cộng của các ý
kiến phán xét, đánh giá của các cá nhân mà qua chao đổi, bàn bạc có sự tác động
qua lại giữa các ý kiến, hình thành nên sự phán xét, đánh giá trung của số đông
trong cộng đồng người.
Trong điều kiện bình thường, việc hình thành dư luận xã hội có thể chia thành
các bước sau:
-Bước thứ nhất: Chứng kiến hình dung sự việc sự kiện, chao đổi thông tin về nó,
dư luận xã hội. Hệ tư tưởng trình độ văn hoá cũng ảnh hưởng quan trọng đến tình
hình nói chung, các quan điểm phán xét phản ánh với xã hội xung quanh.
c- Những nhân tố về tâm lý xã hội: Nhiều nhân tố như thói quen, nếp nghĩ ý chí
tâm trạng tình cảm của một cộng đồng ngưòi đã được hình thành do ảnh hưởng
trực tiếp của diều kiện sống hàng ngày và do công tác tuyên truyền giáo dục.ảnh
hưởng của nhân tố này có nhiều mặt đôi khi khó nhận biét tuỳ từng thời điểm nhất định nếu người ta có tâm trạng phấn chấn, hồ hởi thì nội dung phán xét đánh giá
một hiện tượng có những khía cạnh khác với khi ở khía cạnh tâm trạng chán nản,
bi quan.Thường khi thấy phấn chấn lạc quan thì thấy nhiều thuận lợi hơn ít thấy
khó khăn và ngược lại. Những nếp nghĩ bảo thủ cứng nhắt mang di sản của quá
khứ thì có thể ảnh hưởng đén việc hình thành dư luận xã hội không đúng đắn.
d- Hoàn cảnh sinh hoạt chính trị:Trong điều kiện có dân chủ rộng rái xã hội có
thông tin phong phú mọi người sãn sàng cởi mở bộc lộ các ý kiến của mình tham
gia bàn bạc các vấn đề chung thì dư luận xã hội có điều kiện thuận lợi, Ngược lại,
trong điều kiện thiếu dân chủ, thông tin nghèo nàn thậm chí bị cắt xén xuyên tạc
thì dư luận xã hội hình thành khó khăn, chậm chạp dưói các chế độ độc Tài phát xít
thì quyền dân chủ bị thủ tiêu thì dư luân xã hội phát triển theo hướng mập mờ
mang tính châm biếm ,tiếu lâm
Chương III Tính chất của dư luận xã hội
1-Tính công chúng, công khai
Hệ thống truyền thông đại chúng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình
thành và thể hiện dư luận xã hội. Hệ thống thông tin đại chúng là phương tiện của
các thiết chế xã hội nhằm bảo đảm phổ biến các thông tin trên quy mô đại chúng
được thực hiện bằng các hoạt động phát nhanh, truyền hình, các hệ thống in ấn và
phát hành sách báo. Chính C.Mac đã chỉ ra rằng: sản phẩm của truyền thông là dư
luận xã hội. Đặc điểm của hệ thống truyền thông đại chúng là các tin tức từ hệ
biến đổi cùng với sự phát triển của xã hội. Tính chất biện chứng của nó là ở chỗ,
cùng với sự thay đổi của các điều kiện và các yếu tố có ảnh hưởng tới sự hình
thành của các dư luận, chẳng hạn như dư luận của thiểu số ngày hôm qua đến hôm
nay nó trở thành dư luận của đa số, thành dư luận xã hội và ngược lại. Đây là một
hình thức biểu hiện của trạng thái ý thức xã hội, nhưng xét về khía cạnh nhận thức,
thì trong dư luận xã hội luôn luôn có cái đúng, cái sai, có lẽ phải và sự lầm lẫn. Vì
quá trình nhận thức được phản ánh trong dư luận xã hội không hoàn toàn tuân theo
các quy tắc nghiêm ngặt của nhận thức chân lý. Hêghen có lý khi ông ta cho rằng:
trong dư luận xã hội có cả cái thật và cái giả. Tính chất này cùng với sự thay đổi
của các điều kiện và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển dư luận xã hội tạo nên đặc điểm dễ thay đổi của dư luận xã hội và thể hiện tính luận chứng
của dư luận xã hội. Điều đó buộc chúng ta phải phân tích toàn bộ chúng, có nghĩa
là phải phân tích dư luận xã hội.
Chương IV Chức năng của dư luận xã hội
Dư luận xã hội là một trong những biểu hiện sớm nhất của hình thái ý thức xã
hội. Trọng lịch sử loài người, dư luận xã hội đóng vai trò điều hoà các mối quan hệ
xã hội ngay cả khi trong xã hội chưa có sự phân hoá giai cấp.
Ph. Ăng-ghen nhận xét : trong xã hội công xã nguyên thuỷ, ngoài dư luận xã hội
ra, xã hội nay không có một phương tiện cưỡng chế nào khác. J. Rutxô , nhà khai
sáng pháp thế kỉ XVIII, rất coi trọng vai trò của dư luận xã hội và ý thức dân
chúng, trong tác phẩm khế ước xã hội, ông nhận định: các điều luật của nhà nước
cần phải phù hợp với nguyện vọng và ý chí của nhân dân lao động, Hê-ghen đã đưa
ra một quan niệm tương đối rộng về dư luận xã hội. Trong công trình Triết học
pháp quyền, ông xem xét dư luận xã hội trong mối quan hệ với việc phân tích thể
chế nhà nước. Là người bảo thủ, bám chặt vào nền quân chủ hùng mạnh, ông đã
thể hiện sự đối lập giữa “ tâm tư chính trị quốc gia “ với “ dư luận xã hội của nhân
lại các quan hệ xã hội cho đúng mục đích và chuẩn mực, trên cơ sở phán xét, đánh
giá các sự kiện, hiện tượng, dư luận xã hội nêu ra các chuẩn mực, chỉ ra những việc
nên làm, những việc nên né tránh, hoặc điều chỉnh hành vi, cách cư sử của mọi
người. Nó phát huy làm cho các phong tục cũng như các truyền thống tốt đẹp trong
quá khứ, tác dụng trong xã hội hiện tại. Đặc biệt, khi xảy ra những biến cố xã hội
lớn , đụng chạm trực tiếp đến lợi ích cộng đồng( như các phong trào cách mạng,
chiến tranh), dư luận xã hội thường hình thành nhanh chóng, rộng rãi và có sức
mạnh lớn, chí hướng hoạt động cho quần chúng , cổ vũ những hành động phù hợp
với lợi ích chung, lên án những hành động không phù hợp. Trong cuộc sống,
những dư luận xã hội của giai cấp tiên tiến thường có vai trò đặc biệt quan trọng
góp phần thúc đẩy phát triển xã hội
2.Chức năng đánh giá. Dư luận xã hội đánh giá hành vi xã hội, các chuẩn mực xã hội, các quá trình xã
hội, cụ thể là dư luận xã hội đánh giá các hành vi đó đúng hay sai, tốt hay xấu.
Những chuẩn mực xã hội mà dư luận xã hội dựa vào để đánh giá có thể là những
điều luật, hoặc là chuẩn mực chung của đông đảo công chúng trong xã hội. Sự
đánh giá này thường khác nhau trong các nhóm xã hội khác nhau , cũng như trong
các khoảng thời gian khác nhau.
3-chức năng giáo dục
Bên cạnh chức năng điều hoà là chức năng giáo dục.Dư luận xã hội khi đã hình
thành nó thường tác động vào ý thức con người nghĩa là chi phối ý thức cá nhân,
nên cần phải điều chỉnh cho phù hợp với ý thúc chung của cộng đồng.Vì đa số
người trong cộng đồng đều quan tâm đến ý thức dư luận xã hội, có sự đánh giá
hành vi của mình, có khuynh hướng giữ gìn, bảo vệ cái đúng, sửa chữa những sai
sót, đáp ứng được yêu cầu của dư luận xã hội đối với nhân dân và cộng đồng
người.
của phưông tiện thông tin đai chúng và ngược lại, các phương tiện thông tin đại
chúng cũng phản ánh dư luận xã hội rộng rãi đối với các vấn đề của đất nước.
Nghiên cứu xã hội học về dư luận xã hội phải làm rõ khuynh hướng nhu cầu
thông tin của quần chúng nhân dân.ở nước ta báo đài vừa là cơ quan ngôn luận của
tổ chức chính trị xã hội vừa là diễn đàn của quần chúng nhân dân.Thông qua các
báo các tầng lớp nhân dân bày tỏ quan diểm ,ý kiến, thái độ nguyện vọng của mình
đối với chủ trương chính sách của đảng và nhà nước, đối với sự kiện kinh tế quan
trọng của đất nức và trên thế giới.Vì vậy các phương tiện thông tin đại chúng là nơi
thể hiện dư luận của các tầng lớp nhân dân đối vói vấn đề bức xúc của xã hội.Có
những vấn đề thu hút sự tham gia đông dảo của quần chúng nhân dân trong thời
gian dài.Có những vấn đề chỉ sự thu hút của nhóm xã hội này nhưng lại không thu
hút sự chú ý của nhóm xã hội khác. Có những tờ báo, tạp chí được đông đảo quần
chúng nhân dân tham gia đón đọc nhưng ngược lại cũng có những tờ báo lại không
được sự chú ý của đông đảo quần chúng.
2-Nghiên cứu dư luận xã hội thông qua công tác thực hiện của các cơ quan
đảng nhà nước và tổ chức xã hội
a- thông tin trong nội bộ đảng:Đây là nguồn thông tin quan trọng được thu thập
thông qua các cơ quan cáp uỷ là đáng tin cậy,đồng thời lơi đây cũng trực tiếp phát
những thông tin có tác động trực tiếp tới đời sống của nhân dân về mọi mặt trong
xã hôi. Như :Hội nghị của đảng ,các báo cáo của đảng tới các tổ chức đảng ở địa
phương, huyện ,uỷ ,các sở, kiểm tra cập nhật thông tin, nói chuyện gặp gỡ giữa
lãnh đạo đối với quần chúng nhân dân
b-Thông tin của các ngành các đoàn thể của cơ quan kinh tế, xã hội: các đoàn
thể thường xuyên tiếp xúc với quần chúng, thường xuyên lắm bắt được thông tin
về dư luận thuộc đối tượng phụ trách của mình.
nhân dân tham gia công tác quản lý xã hội, quản lý nhà nước tuỳ theo chủ đề
nghiên cứu tình hình cụ thể trong thời gian đó.Cần cân nhắc điều tra công bố tính
phổ dụng của kết quả diều tra.
Chương II ý nghĩa của việc nghiên cứu dư luận xã hội
việc ngiên cứu dư luận xã hội có ý nghĩa sau:
1-Phát huy quyền làm chủ của dân chủ nhân dân mở rộng dân chủ xã hội
chủ nghĩa
Cách mạng là sự ngiệp của quần chúng.Công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa
nói chung và đổi mới nói riêng là kết quả trí tệu và công sức của nhân dân dưới sự
lãnh đạo của đảng, của chế độ xã hội chủ nghĩa là sự gắn bó máu thịt với nhân dân,
khơi dậy tiềm năng sáng tạo của nhân dân.vì thế các tổ chức của Đảng và cơ quan
nhà nước cần tạo điều kiện dễ dàng để mọi công dân có được các thông tin cần
thiết kịp thời và chính xác được tự do bày tỏ và phát biểu ý kiến, quan điểm của
mình đối với các vấn đề có quan hệ tới lợi ích của họ, đựơc tham gia vào các quyết
định quan trọng của đất nước.
tổ chức ngiên cứu dư luận một cách nghiêm túc chính là phương tiên mạnh mẽ
để nhân dân thực hiện quyền làm chủ và tham gia tích cực đối với hoạt động của
đất nước. 2-tăng cường mối liên hệ giữa Đảng và quần chúng.
Với tinh thần “Lấy dân làm gốc”,các tổ chức đảng và cơ quan nhà nước phải
lắng nghe ý kiến của quần chúng, thường xuyên phân tích cấc dư luận đối với tầng
lớp nhân dân để lắm bắt kịp thời tâm trạng , nguyện vọng của họ.Trong sự nghệp
đổi mới và xây dựng chủ ngiã xã hội chúng ta phải giải quyết hàng loạt các vấn đề
dư luận xã hội thực tiễn kể cả xây dựng một quan diểm chủ nghĩa xã hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh của nước ta .Những việc trên đòi
hỏi phải có sự gắn bó mật thiết giữa đảng và quần chúng .Đồng thời thông qua dư
luận nhân dân cững bày tỏ ý chí yêu cầu của mình đối với các tổ chức đảng và cơ
đổi lớn lao trong xã hội. Vì vậy có một nhu cầu bức xúc cần phải tìm hiểu và tiếp
thu những công cụ nghiên cứu mới để nhận diện và lý giải các hiện tượng xã hội
mới nảy sinh cũng như phân tích dư luận xã hội để làm sáng tỏ một hiện tượng
thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần của xã hội, thể hiện tâm trạng của xã hội, một
hình thức biểu hiện của trạng thái ý thức xã hội. Đây là một trạng thái toàn vẹn,
bao quát về nội dung, cả về mặt trí tuệ, cảm xúc và cả mặt ý trí của ý thức xã hội.
Nó không chỉ thể hiện một mặt riêng rẽ nào đó của ý thức xã hội như triết học, đạo
đức học, ý thức chính trị mà còn là sự thể hiện một cách tổng hợp của ý thức xã hội
góp phần hình thành và nâng cao năng lực quản lý xã hội. Xã hội học là môn khoa
học xã hội đáp ứng tốt các nhu cầu đó.
Đánh giá về tầm quan trọng của xã hội học, Berger đã từng nói:
“ Sức quyến rũ của xã hội học là ở chỗ cách giải thích vấn đề của nó khiến chúng
ta có thể nhìn thế giới mà chúng ta đã và đang sống suốt cả cuộc đời mình dưới
một ánh sáng mới Có thể nói rằng sự thông thái trước tiên của xã hội học là mọi
thứ không phải như chúng có vẻ là ”.
Tài liệu tham khảo
** *-* ** 1. Xã hội học đại cương
Bộ giáo dục và đào tạo – Viện Đại học Mở Hà Nội