LUẬN VĂN: Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước – GiảI pháp quan trọng, cơ bản trong việc đổi mới và tổ chức lại các Doanh nghiệp Nhà nước hiện nay - Pdf 11



LUẬN VĂN:

Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước –
GiảI pháp quan trọng, cơ bản trong việc
đổi mới và tổ chức lại các Doanh nghiệp
Nhà nước hiện nay

Lời mở đầu

Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nước ta chuyển sang phát triển nền
kinh tế hành hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý và
điều tiết của nhà nước. Trong bước nghoặc trọng đại này,khu vực doanh nghiệp nhà
nước – một bộ phận trọng yếu của nền kinh tế nhà nước - đã bộc lộ rõ nhiều yếu
kém,bất cập:phát triển tràn lan, cơ sở vật chất - kỹ thuật nghèo nàn lạc hậu,tình trạng
thiếu và thất thoát vốn một cách nghiêm trọng, cơ chế quản lý còn nhiều lúng
túng,không đáp ứng được yêu cầu phát triển nhanh tính xã hội hoá của lực lượng sản
xuất, ngăn cản không nhỏ vai chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế nhiều
thành phần.
Trước thực trạng trên, Đảng và nhà nước ta đã chủ trương đổi mới các doanh
nghiệp nhà nước(DNNN). Hàng loại các giảI pháp đã được tiến hành như: Phần I: Một số vấn đề lý luận và ý nghĩa thực tiễn của cổ phần hoá một số
Doanh nghiệp nhà nước Việt Nam hiện nay

1. Thực chất của cổ phần hoá một số Doanh nghiệp nhà nước
Điều 1 của thông tư 50/TT/TCDN ngày30/08/1996 của Bộ TàI chính đã ghi rõ:
“ Doanh nghiệp nhà nước chuyển thành công ty cổ phần( hay còn gọi Cổ phần hoá
các Doanh nghiệp nhà nước) là biện pháp chuyển doanh nghiệp từ sở hữu nhà nước
sang hình thức nhiều thành phần, trong đó tồn tại một phần sở hữu nhà nước ”.
Xét về mặt hình thức: Cổ phần hoá(CPH) tức là nhà nước bán một phần hoặc
toàn bộ giá trị cổ phần của mình trong doanh nghiệp(DN) cho các tổ chức hoặc tư
nhân trong và ngoàI nước, các cán bộ quản lý và công nhân viên trong doanh nghiệp
bằng đấu giá công khai hoặc thông qua thị trường chứng khoán để hình thành nên các
công ty cổ phần(CTCP).
Xét về bản chất: Cổ phần hoá tức là phương thức thực hiện xã hội hoá sở hữu,
chuyển hình thức kinh doanh một chủ với sở hữu nhà nước duy nhất trong doanh
nghiệp thành công ty cổ phần với nhiều chủ sở hữu, nhằm tạo ra một doanh nghiệp
hiện đại thích ứng với yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại. CPH là
công cụ, phương tiện huy động vốn đạt hiệu quả cao và ổn định lâu dàI tạo điều kiện
cho người lao động làm chủ doanh nghiệp. CPH nói chung không chỉ diễn ra tại các
doanh nghiệp nhà nước mà còn diễn ra tại các doanh nghiệp tư nhân, các công ty
trách nhiệm hữu hạn, các công ty liên doanh.Như vậy cổ phần hoá chính là quá trình
đa dạng hoá sở hữu tại các Doanh nghiệp.
Đối với VIệt Nam hiện nay, CPHDNNN cũng mang thực chất của cổ phần hoá
nói trên. Song để làm rõ hơn thực chất của quá trình này, chúng ta cần phảI theo dõi
nội dung hình thức mà các doanh nghiệp nhà nước chuyển thành công ty cổ phần như
thế nào? Trên thực tế thì các doanh nghiệp nhà nước chuyển thành các CTCP theo

qui định.Tính chủ động trong sản xuất –kinh doanh bị gò bó bởi nhiều qui chế xuất
phát từ quyền sở hữu của nhã nước. Với cách quản lý như trên đã đánh mất đI động
lực kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh nghiệp, làm cho hiệu quả hoạt động
sản xuất của các DNNN yếu kém, trì trệ, nền kinh tế rơI vào tình trạng khủng hoảng
nghiêm trọng. Chính điều này đẫ trở thành gắng nặng cho ngân sách nhà nước. Nhà
nước phảI thường xuyên sử dụng ngân sách trợ cấp trực tiếp và gián tiếp cho các
DNNN dẫn đến tình trạng thâm hụt ngân sách trầm trọng.

Nhiều giảI pháp đã được đưa ra nhằm sắp xếp tổ chức lại các DNNN như: cơ
cấu lại vốn và lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp ; sát nhập các doanh nghiệp
có vốn nhỏ ; giảI thể các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ hoặc liên doanh liên kết với
cac tổ chức nước ngoàI để tận dụng nguồn vốn,tiếp cận với các phương thức quản lý
tiên tiến. Song những giảI pháp này vần chưa tạo được sự thay đổi về chất, chưa có
sự thay đổi mang tính bước ngoặc,hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp có thấp
kém, nhiều DNNN làm ăn thua lỗ.
Để giảI quyết vấn đề trên, Nghị quyết trung ương 2 khoá VII đã đưa ra một giảI
pháp quan trọng nhằm tổ chức và sắp xếp lại các DNNN. Theo đó ‘Chuyển một số
doanh nghiẹp quốc doanh có điều kiện thành công ty cổ phần và thành lập một số
công ty cổ phần quốc doanh mới, phảI làm thí điểm,chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm
chu đáo trước khi mở rộng trong phạm vi thích hợp ”.
3. Cổ phẩn hoá các doanh nghiệp nhà nước – giảI pháp quan trọng, cơ bản
trong việc đổi mới và tổ chức lại các doanh nghiệp nhà nước.
Như đã nêu ở trên, trong một loạt các giảI pháp sắp xếp và tổ chức lại các
DNNN: cổ phần hoá, tư nhân hoá,cho thuê,sát nhập, giáI thể các DNNN thì giảI pháp
cổ phần hoá một số doanh nghiệp nhà nước được coi là hữu hiệu nhất để giảI quyết
các khó khăn trong khu vực kinh tế nhà nước
Tầm quan trọng và sức hấp dẫn của cổ phần hoá không chỉ thể hịên ở chỗ giảI
toả được bế tắc, khúng hoảng về vốn cho các DNNN hiện nay có nhiều cơ hội đứng
vững và phát triển trong thị trường cạnh tranh, nhưng lại đang thiếu vốn nghiêm
trọng nếu chỉ trông chờ vào nguồn vốn ngân sách nhà nước và vốn vay ngân hàng,

nghiệp có thể sử dụng bứa bãI vốn và tàI sản của nhà nước. Ơ nước ta, vấn đề này
cũng đã được tranh luận khá sôI nổi và đa dạng. Có nhiều ý kiến cho rằng không nên
có sự phân biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng, mà hai quyền này phảI được
hợp nhất về một các nhân – Giám đốc doanh nghiệp. Nhưng cũng có ý kiến khác thì
lại nhấn mạnh vào vai trò của người lao động, coi tập thể người lao động là đại diện
cho quyền sở hữu của Nhà nước …Mỗi ý kiến đều chứa đựng những luận cứ có tính
thuyết phục riêng,song bên cạnh đó vẫn chứa đựng những thiếu sót. Thật vậy, Giám
đốc của các DNNN cũng như các công ty cổ phần không thể có quyền hoặc đại diện
cho quyền sở hữu của Nhà nước hay của các cổ đông. Chỉ có ở doanh nghiệp tư
nhân khi mà nhà tư bản tự bỏ vốn ra kinh doanh thì hai quyền đó mới nhập làm

một.Còn người lao động trong các DNNN thì nghĩa vụ lớn nhất của họ là làm việc có
hiệu quả để có thu nhập cao cho gia đình và bản thân.Thêm vào đó, ở vị trí của
mình,người lao động không thể có đủ điều kiện, trình độ và khả năng để đảm nhận
chức năng là người chủ sở hữu.
Vấn đề quyền sở hữu của các DN để thực hiện sản xuất kinh doanh đều được
hầu hết các ý kiến cho rằng, người chịu trách nhiệm vốn và tàI của Nhà nước và
Giám đốc, người được Nhà nước bổ nhiệm hoặc đI thuê. Điều chưa rõ ràng trong
nhiều năm qua là quỳên sử dụng vốn của Giám đốc. Trong cơ chế bao cấp,Giám đốc
chỉ thực hiện chức năng quản lý và điều hành các hoạt dộng của doanh nghiệp.Song
anh ta không có quyền sử dụng vốn , trong thời gian này quyền sở hữu thuộc về Nhà
nước. Chỉ đến khi có Nghị định 217-HĐBT, thì quyền sở hữu vốn của Giám đốc mới
được xem xét lại, tuy nhiên vẫn chưa có sự tách bạch rõ ràng về quyền sở hữu và
quyền sử dụng nên nhiều Giám đốc chưa hiểu đúng về quyền sở hữu và sử dụng dẫn
đến những hậu quả nghiêm trọng.
Thực tế cho thấy, trong những năm qua hoạt động của các doang nghiệp thường
là không giống nhau có nơI Giám đốc bị tước hết mọi quyền sử dụng, mọi hoạt động
sản xuất kinh doanh đều phảI xin ý kíên cấp trên. Ngược lại có nơI Giám đốc lại lợi
dụng quyền sở hữu của Nhà nước để làm giàu cho bản thân( tham nhũng, nhậu nhẹt,
hối lộ ….) Để giảI quyết tình trạnh vô chủ và tìm kiếm câu trả lời các yêu cầu về hữu

án triển khai thí điểm chuyển một số DNNN thành CTCP. Đây là những văn bản
pháp lý đầu tiên của Chính phủ ban hành để hướng dẫn thi hành chủ trương CPH
của Đảng.
Sau bốn năm thực hiện CPHDNNN, chúng ta đã đúc rút được nhiều kinh
nghiẹm. Đến ngày 7/5/1996 Chính phủ đã ban hành NĐ 28/ CP “ về việc chuyển một
số DNNN thành CTCP” Tuy nhiên, do còn nhiều vướng mắc còn chưa được xác
định rõ ràng như:việc xác định giá trị của doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá….Vì vậy
NĐ28/ CP đã đI vào cuộc sống rất chậm, từ khi NĐ28 / CP ban hành cho đến 6/1998
chỉ có 25 DNNN tiến hành CPH.
Trước tình hình này,ngày 29/6/1998 Chính phủ đã ban hành NĐ44/1998/ NĐ-
CP “ về việc chuyển DNNN thành CTCP’’ thay thế NĐ 28 / CP nói trên. Hiện nay,
nghị định 44/1998/NĐ- CP được coi là nghị định thông thoáng,tạo được sức hấp dẫn
đối với các DNNN với thủ tục pháp lý rõ ràng,đầy đủ.

Với những kết quả đã được của gần bốn năm thực hiện NĐ48/1998/NĐ-CP,
ngày 19/06/2002 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 64/2002/ NĐ-CP “ về việc
chuyển DNNN thành CTCP” Nghị định này nhằm quán triệt những chủ trương mới
và triển khai thực hiện nhiệm vụ sắp xếp, đổi mới phát triển và nâng cao hiệu quả của
DNNN từ 2002-2005 được đề ra trong Nghị quyết hội nghị Trung ương 3 khoá I X.
2. Những kết quả tích cực đã đạt được
Hiện nay, NĐ 64/2002/ND-CP đã có nhiều ưu điểm hơn so với
NĐ44/1998/ND-CP.Cụ thể trong những nội dung sau:
2.1. Đối tượng cổ phần hoá
Cũng như NĐ44/1998/NĐ-CP,tại Điều 2 của nghị định số 64/2002/NĐ-CP đã
qui định rất rõ “ Danh mục phân loại doanh nghiệp nhà nước do Thủ tướng chính phủ
quyết định trong từn g thời kỳ ”.Nhưng thay vì một danh mục cứng nhắc như NĐ 44/
1998 thì NĐ 64/2002 chỉ qui định thẩm quyền phân loại doanh nghiệp nhà nước còn
cụ thể là doanh nghiệp nhà nước nào còn tuỳ thuộc vào điều kiẹn, tình hình phát trỉên
kinh tế của ta trong từng thời kỳ. Đồng thời tại khoản 2 Điều2 NĐ 64 /2002 cũng qui
định: Đơn vị phụ thuộc của các doanh nghiệp nhà nước chỉ cần tiến hành khi có đủ

Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh, Hội đồng quản trị tổng công
ty 91 có trách nhiêm xây dựng phương án tổng thể sắp xếp DNNN thuộc phạm vi
mình quản lý, trình Thủ tướng phê duyệt và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện.
Như vậy, nếu như thẩm quyền phê duyệt phương án cổ phần và chuyển DNNN
thành CTCP theo Điều 17 NĐ 44/1998 xuất phát từ tiêu chí vốn của nhà nước tại
doanh nghiệp thì theo khoản 2 Điều 30 Nghị định 64/2002 cũng được giao cho cơ
quan quản lý ngành kinh tế – kỹ thuật hoặc chủ tịch UBND cấp tỉnh qui định
Trên cơ sở phương án sắp xếp DN tổng thể được phê duyệt theo hưỡng dẫn của
các cơ quan liên quan.
2.4. Thẩm quyền xác định giá trị doanh nghiệp
Căn cứ theo Điều 16 Nghị định 44/ 1998 thì
- Bộ trưởng TàI chính quyết định giá trị doanh nghiệp có mức vốn nhà nước ghi
trên sổ sách kế toán đến thời điểm cỏ phần hóa trên 10tỷ đồng sau khi có thoả thuận
với Bộ quản lýngành,BND tỉnh,Hội đồng quản trị Tổng công ty 91 liên quan

- Căn cứ vào hướng dẫn của Bộ TàI Chính, Bộ trưởng các bộ, Chủ tịch UBND
cấp tỉnh, Hội đồng quản trị Tổng công ty 91 quyết định giá trị doanh nghiệp có mức
vốn nhà nước ghi trên sổ sách kế toán đến thời điểm cổ phần từ dưới 10 tỷ.
Còn theo khoản 3 Điều 30 Nghị định 64/2002, các Bộ trưởng cơ quan ngang
bộ, cơ quan thuộc chính phủ, chủ tịch UBND cấp tỉnh mới là người có thẩm quyền
quyết định giá trị DN và họ chỉ phảI xin ý kiến chấp thuận của Bộ trưởng Bộ TàI
chính trước khi quyết định nếu như giá trị thực tế phần vốn góp của nhà nước tại
doanh nghiệp nhỏ hơn giá trị ghi trong số sách kế toán từ 500 triệu trở lên. Đây là
điều cần thiết bởi muốn loại trừ khả năng có sự gian lận hoặc nhầm lẫn ở đây đòi hỏi
phảI có nghiệp vụ và chuyên môn để kiểm tra.
2.5. Nguyên tắc xác định giá trị doanh nghiệp
Căn cứ theo NĐ 44/ 1998/ NĐ-CP thì giá trị thực tế của doanh nghiệp là toàn
bộ tàI sản hiện có của DN tại thời điểm cổ phần hoá mà người mua và người bán có
thể chấp nhận được.
Các yếu tố xác định giá trị thực tế của DN

của CTCP theo con dấu mới, vố n điều lệ,ngành nghề kinh doanh.
Đăng ký kinh doanh vơI Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh, Thành phố trực thuộc
Trung ương nơI DN đặt trụ sở chính.

Phần III: Thực trạng và bàI học kinh nghiệm từ công ty cổ phần Tràng Tiền
sau khi chuyển từ doanh nghiệp nhà nước sang doanh nghiệp cổ phần

1 Thực trạng
Công ty cổ phần Tràng Tiền tiền thân là một doanh nghiệp quốc doanh được
thành lập từ năm 1992 với tên gọi ban đầu là Công ty ăn uống và khách sạn 35 Tràng
Tiền -Hà Nội. Sau một thời gian dàI hoạt động kinh doanh không có hiệu quả, người
lao động không có việc làm,do đó công ty đã quyết định chuyển sang mô hình cổ
phần hoá.
Sau gần nửa năm tiến hành và triển khai,ngày 5/1/2000 công ty đã chính thức đI
vào hoạt động theo mô hình mới, chuyển từ doanh nghiệp quốc doanh là công ty ăn
uống và khách sạn 35 Tràng Tiền thành công ty cổ phần Tràng Tiền theo quyết định
số 26/2000 QĐ - TTg của Thủ tướng chính phủ cấp ngày 5/1/2000.

Giấy phép đăng ký kinh doanh số 410300344 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP Hà
Nội cấp ngày 20/1/2000
Trụ sở chính: 35 Tràng Tiền – Hà Nội
Hoạt động kinh doanh: Nhà hàng, khách sạn
Công ty tiến hành cổ phần hoá theo hình thức giữ nguyên phần vốn hiện có của
nhà nước tại công ty và phát hành cổ phiếu cho các cán bộ, công nhân viên trong
công ty để huy động vốn mở rộng sản xuất.Tại thời điểm cổ phần hoá số vốn điều lệ
là 3,2 tỷ đồng( trong đó số vốn nhà nước là 1,9 tỷ). Ngay sau khi tiến hành cổ phần
hoá số vốn này đã được chia thành 32.000 cổ phần. Số cổ phần này đã được bán cho
100% cán bộ, công nhân viên trong công ty với giá ưu đãI.
Ngay sau khi tiến hành cổ phần hoá, công ty làm ăn có hiệu quả hơn. Nếu số
doanh thu năm 1999 là 4,2tỷ đồng,thì năm 2000 là 5,535 tỷ(tăng 31,8%) ;Lương bình

dư luận trong năm 2001.
2. Những bàI học kinh nghiệm quí báu
Vẫn biết rằng CPH là một giảI pháp đúng đắn song đằng sau nó vẫn còn tồn tại
những hạn chế nhất định, ảnh hưởng không nhỏ đến sự tồn tại và phát triển của các
DN cổ phần.Trường hợp của CTCP Tràng Tiền không phảI là trường hợp duy nhất
lâm vào khủng hoảng do hạn chế từ sau CPH đặc biệt là việc định giá tàI sản DN
thiếu chính xác.Việc chuyển nhượng cổ phiếu ở CTCP Tràng Tiền đã vi phạm Điều
86 của Bộ Luật Hình Sự , Điều 58 của Luật Doanh Nghiệp và sẽ bị xử phạt theo pháp
luạt. Điều đáng nói ở đây,từ “sự cố’’ này đã để lại cho công tác CPH một bàI học đắt
giá từ đó có thể rút ra được những kinh nghiệm qúi báu cho các nhà quản lý đang và
sẽ tiến hành cổ phần hoá
Việc chuyển đổi DNNN thành CTCP, về căn bản là táI cấu trúc lại vốn và cơ
cấu chủ sở hữu, là quá trình đI tìm động lực mới để cảI tiến và pháp triển công ty,
chứ không đơn thuần là chủ trương hữu sản hoá một thực thể có sẵn cho người lao
động tại chỗ.Thực tế cho thấy,ở CTCP Tràng Tiền, do không có các nhân tố mới
trong cơ cấu chủ sở hữu nên trong phương án kinh doanh không có những thay đổi
tích cực mang lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp. Vì thế ai đó muốn “ ngầm thôn
tính ”và một só cổ đông sẵn sàng bán cổ đông ra bên ngoàI là một điều tất yếu.
Đồng thời, CPH nếu làm đúng thì giá trị nhà nước bao gồm tàI sản hưũ hình và
tàI sản vô hình chỉ thay đổi về hình thức quản lý mà không làm mất đI giá trị thực tế.

Vì thế để tránh việc định giá trị tàI sản DN thiếu chinhs xác như CTCP Tràng Tiền ,
thì ngoàI một tỷ lệ nhất định ưu tiên cho cán bộ công nhân viên, phần còn lại nên đấu
thầu. Ai có phương án sử dụng hữu hiệu hơn, có kế hoạch phát triển kinh doanh hiệu
quả hơn thì người đó hoặc nhóm người đó sẽ trở thành người quản lý mới của
DN.Phần ưu tiên cho nội bộ cũng tính theo giá đấu thầu nhưng được giảm một tỷ lệ
nhất định.Đ ặc biệt, khi bán cổ phần, CBCNV được quyền ưu tiên mua, nếu mua
không hết thì số cổ phần đó sẽ bán ra ngoàI cho các nhà đầu tư có điều kiện muốn
tham gia. Làm như vậy Nhà nước sẽ thu nhận và chọn lựa được người quản lý có
năng lực nhất.

CTCP thì cổ phần chi phối của nhà nước là loại cổ phần phảI đáp ứng một trong hai
tiêu chuẩn sau: 1/ Cổ phần nhà nước chiếm 50% tổng số cổ phần của công ty 2/Cổ
phần nhà nước ít nhất gấp 2 lần cổ phần của cổ đông lớn nhất trong công ty
Với cách giảI thích này chưa rõ ràng: Ơ đây người ta có thể hiểu theo 2 cách
sau: 1/ Nhà nước qui định số cổ phần mà mình giữ lại(chẳng hạn 40%) trong khi đó
cổ đông được phần mua cổ phần nhiều nhất không quá 1/2 số cổ phần của nhà nước.
Vậy là số cổ phần mà cổ đông lớn nhất mua có thể lớn hơn so với mức qui định của
NĐ 44/ 1998(10%); 2/ Nhà nước cho phép các pháp nhân, cá nhân đăng ký mua cổ

phần trước rồi mới xác định mức cổ phần mà mình cần giữ lại để chi phối doanh
nghiệp. Với cách này sẽ gây tình trạng bị động, lúng túng.
Như vậy cần sửa đổi theo cách sau: Đối với những DN mà nhà nước không nắm
giữ cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt, hoặc không có cổ phần thì cần xoá bỏ sự
khống chế khi các nhà đầu tư bên ngoàI tham gia mua cổ phầnDNNN.Tuy nhiên vẫn
phảI ưu tiên để người lao động trong Doanh nghiệp có cổ phần. Sửa đổi như vậy sẽ
tạo được sự nhất quán trong các văn bản,qui chế cho CPHDNNN
2. Mở rộng hình thức CPH
NĐ 44/1998/NĐ-CP qui định 4 hình thức cổ phần hoá. Nhưng trên thực tế các
DNNN đã cổ phần hoá mới chủ yếu áp dụng hình thức bán phần vốn hiện có của nhà
nước trong các DN nên chưa có tác động trong đổi mới công nghệ, mở rộng qui mô
kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy cần mở rộng hình thức phát hành cổ phiếu gọi
thêm vốn cổ phần để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trừ
trường hợp DN mà nhà nước nắm cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt, còn các DN
khác thuộc diện CPH có thể áp dụng chế độ bán toàn bộ tàI sản của nhà nước cho nhà
đầu tư.
NgoàI ra còn áp dụng các hình thức khác như: thành lập CTCP mới trên cơ sở
một DNNN hiện có làm sáng lập viên, bán cổ phàn cho các cán bộ trong và ngoai
DN, kể cả cho các DN khác và hợp tác xã cổ phần
Cho phép các CTCP phát hành tráI phiếu để thu hút vốn phát triển doanh
nghiệp

định.

Kết luận

Trong cơ chế đổi mới toàn diện nền kinh tế, đổi mới khu vực kinh tế nhà nước
đóng vai trò quyết định. Đổi mới và sắp xếp các DNNN nhằm nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh, tăng sức cạnh tranh trên thị trường.

Trong thời qian qua, Đảng ta đã ban hành nhiều chủ trương,nghị định tập trung
vào việc đổi mới và sắp xếp lại các DNNN trong đó chủ trương CPHDNNN được coi
là giảI pháp có ưu thế trên nhiều mặt. Nó không chỉ là sự bắt kịp xu hướng chung của
thế giói, mà còn đáp ứng kịp thời đòi hỏi bức bách của cuộc sống hiện nay. Việc lựa
chọn giảI pháp này, không phảI là để tìm kiếm các hình thức sở hữu khác nhau,
không phảI là để tư nhân hóa nhằm giảm bớt vai trò của kinh tế nhà nước mà là một
quá trình đổi mới thực sự để các DNNN làm tốt vai trò chủ đạo tối cần thiết hướng
nền kinh teed nhiếu thành phần phát triển theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh,xã hội
công bằng, văn minh.
Mặc dù hiện nay tốc độ CPHDNNN còn đang rất chậm, nguyên nhân là do:cơ
chế pháp lý chưa rõ ràng và nhận thức của một số giám đốc chưa đúng hoặc sợ mất
quỳên lợi khi chuyển đổi sở hữu. Thiết nghĩ trong thời gian tới, Đảng và nhà nước ta
cần sớm đưa ra nhiều biện pháp tối ưu hơn nữa để đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá,
hoàn thành các mục tiêu đề ra. Mục lục
Trang
Lời mở đầu 1

Kết luận 19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status