TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH
TẾ
ĐỐI
NGOẠI
POREIGN
TIWK>E
UNIVERỈITỴ
KHÓA
LUẬN TỐT NGHIỆP
<Dề tài:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NGĂN NGỪA
VÀ
HẠN CHẾ
RỦI
RO
TÍN
DỤNG
TẠI
CHI
NHANH
NHNo&PTNT
TỈNH PHÚ THỌ
Sinh viên thục hiện :
NGUYỄN
THỊ KIM
ì
Những
vấn
đề cơ
bản về
rủi
ro
trong
hoạt
động
tín dụng của
NHTM
3
I. Rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng 3
Ì.
Định nghĩa
rủi
ro
và
rủi
ro
trong kinh
doanh
Ngân hàng 3
2.
Phân
loại
rủi
ro
trong kinh
HI.
Các biện pháp ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng 16
Ì.
Các dấu
hiệu
để
nhận
biết
một
khoản tín dụng
có
rủi
ro
16
2.
Các
biện
pháp hạn
chế
và phòng
ngừa
rủi
ro tín dụng
20
2.
Ì.
Xây
dựng
chính sách
tín dụng
hệ
thng
xếp hạng
rủi
ro
danh
mục tín
dụng
nội
bộ 28
2.6.
Chú
trọng
đến
nghệ
thuật
cho vay 29
Chương
li
Thực
trạng
hoạt
động
kinh
doanh
tín
dụng
và
rủi
ro tín
chức
kinh
tế
xã
hội,
dân
cư
và các
tổ
chức
tín
dụng
34
1.2.
Nguồn
vốn
khác
36
2.
Tình hình sử
dụng
vốn
39
3. Các
hoạt
động khác
40
4.
Đánh giá
viợc
Nguyên nhân dẫn đến các
rủi
ro tín
dụng
tại
NHNo&PTNT
tỉnh
Phú Thọ
50
2.1.
Nguyên nhân khách
quan
50
2.2.
Nguyên nhân chủ
quan
50
3. Các
biợn
pháp đang
thực
hiợn
nhằm hạn
chế
rủi
ro tín
dụng
tại
NHNo&PTNT
tỉnh
tỉnh
Phú Thọ
55
I. Định hướng phát triển của NHNo&PTNT Việt Nam thời
kỳ
mới
56
Ì.
Định
hướng
chung
của
NHNo&PTNT
Việt
Nam 56
2.
Định
hướng
phát
triển
của
NHNo&PTNT
tỉnh
Phú Thọ
58
li.
Các giải pháp ngăn ngừa
và
hạn chế rủi ro tín dụng đối với NHNo&PTNT
tỉnh Phú Thọ
64
2.
Các
giải
pháp cụ
thể đối với
NHNo&PTNT
tỉnh
Phú Thọ
71
2.1.
Cho
vay tập
trung,
có
trọng
điểm
71
2.2.
Nâng
cao chất
lưửng
thẩm
định cho vay
71
2.3.
Thực
hiện
công tác
thu
đội
ngũ cán bộ
74
2.7.
Thực
hiện
nghiêm túc
thể
lệ,
chế
độ tín
dụng
hiện
hành
và
giải
quyết
cho vay đúng quy trình công
việc
75
2.8.
Đa
dạng
hoa các
hoạt
động cho
vay,
đa
dạng
hoa khách hàng
phương
84
Kết
luận
Tài
liệu
tham
khảo
Khoa
luận
tốt
nghiệp
LỞI
MÓI DÂU
Rủi ro là vấn đề thường gặp trong các lĩnh vực kinh doanh. Những lĩnh
vực kinh
doanh
nào mà
lợi
nhuận
càng cao thì
mức độ
xảy
ra
rủi
ro
càng
lớn.
Trong
hoạt
ro
trong
hoạt
động Ngân hàng nói
chung
và
rủi
ro tín dịng
nói
riêng
là
vấn
đề có
thể
xảy
ra bất
cứ
lúc
nào và
làm
sai lệch
hay
đảo
lộn kết
quả
kinh
doanh
ngân
hàng.
Vì
ta,
sự
sịp
đổ
của
hàng
loạt
hợp
tác
xã
tín
dịng
và
của
các
doanh
nghiệp
vay vốn
ngân hàng
làm
ăn
thua
lỗ,
phá
sản là lòi cảnh
báo
cho
một hệ
thống
quản
nền
kinh
tế
thị
trường
có
sự
quản
lý
của
Nhà
nước.
Do
đó,
thời
gian
qua
đã
đặt ra
nhiều
vấn
đề
cần
phải
xem
xét một
cách nghiêm
túc
để tìm
ra những
ro
tín
dịng.
Đây
là vấn
đề
nổi
cộm
lên
như
một
thách
thức
lớn
cho sự
thành
bại
của
ngân hàng
trong kinh
doanh.
Ớ
Việt
Nam
hiện
nay,
NHNo&PTNT
Việt
Nam
là
tài
trợ
cho nông
nghiệp
nông thôn.
Để
thực
hiện tốt
nhiệm
vị
của
mình,
NHNo&PTNT
Việt
Nam
xác
định
thị
trường chính của
Ì
Khoa
luận
tốt
nghiệp
mình là nông
nghiệp,
nông thôn
và
nông
dân.
phát
triển
và
đã
đạt
được
những
thành
tựu to
lớn.
Song gần đây,
nợ
quá hạn
có xu
hướng
gia
tăng,
nhiều
khoứn
vay
khó
được hoàn
trứ.
Tinh
hình cho
thấy chất
lượng
hoạt
động
tín
hợp
với thực
tiễn tại
NHNo&PTNT
tỉnh.
Chính vì vậy
mà em đã
chọn
đề
tài
"
Thực
trạng
và
giứi
pháp ngăn
ngừa
và hạn chế
rủi
ro tín
dụng
tại
NHNo&PTNT
tỉnh
Phú
Thọ"
làm đề
tài khóa
luận
của
: Thực
trạng
hoạt
động
kinh
doanh
tín
dụng
và
rủi
ro
tín
dụng
tại
NHNo&PTNT
tỉnh
Phú Thọ.
Chương
IU
:
Một
số giáp pháp nhằm ngăn
ngừa
và
hạn chế
rủi
ro tín
dụng
tại
NHNo&PTNT
vào quá trình
hoạt
động sản
xuất
kinh
doanh,
dù
ít
hay
nhiều
cũng
phải
đối
mặt
với
rủi ro.
Đó là điều mà
không một
doanh
nghiệp
nào
muốn
gặp
phải;
nhưng nếu lường trước được
những
rủi
ro
có
thể
điểm
yếu,
kém
hiệu
quả và mất cân
đối.
Rủi ro
vừa là
nguyên nhân, vừa là hổu quả của
những
hoạt
động
kinh
tế
không có
hiệu
quả.
Đứng
trước
rủi
ro,
các
doanh
nghiệp hoạt
động yếu kém, không có
hiệu
quả sẽ
bị
đào
thải;
tiền
tệ
vì vổy Ngân hàng
cũng
phải
chấp
nhổn
điều
đó.
Lợi
nhuổn
và
rủi
ro
là
hai
phạm
trù
song
hành
trong
bất
cứ
hoạt
động
nào,
đặc
biệt
là
trong
kinh
tế thị
trường
hiện
nay,
cạnh
tranh
là
điều không
thể
tránh
khỏi;
vì
vổy,
nhổn
biết
3
Khoa
luận
tốt
nghiệp
được
rủi
ro
để có các
biện
pháp ngăn
ngừa
và hạn
chế là
rằng
không có
nghiệp
vụ
nào,
không có
loại
dịch
vụ nào là
không
chứa
đựng
những
rủi ro.
Khác
vối
các
doanh
nghiệp
khác,
các
NHTM
cạnh
tranh vối
nhau
không
chỉ
về
hoạt
động
nhân đôi.
2.
/)ỈUÌỈI
/tui/
vui ra
Ịnitií/
hình
íliuiíili ')(tỊíttt
hùng.:
CÓ
nhiều
cách phân
loại
rủi ro,
tuy
nhiên
trong
phạm
vi
hoạt
động của
các
NHTM
Việt
Nam, có
thể tổng
hợp thành một số
loại rủi
ro
cơ
một Ngân
hàng,
bao
gồm
cả
việc
không
thực hiện
thanh
toán
nợ
cho
dù đấy là nợ gốc hay nợ
lãi
khi
khoản
nợ đến
hạn. Rủi ro
này bao
gồm
cả
rủi
ro
thanh
toán
khi
một bên
thứ
ba
(ví
động.
Rủi ro
này
xuất hiện trong
tất
cả các
chủng
loại
tài sản,
từ
bất
động
sản
đến cổ
phiếu
và
trái
phiếu
c.
Rủi ro
lãi
suất:
thể hiện
rủi
ro
lỗ tiềm
tàng
của
một Ngân hàng do các
biến
ả.
Rủi
ro
tỷ
giá
hôi
đoái:
phát
sinh khi
có
sự chênh
lệch
về
kỳ
hạn,
về
loại tiền
tệ
của các
khoản
ngoại hối
nắm
giữ,
vì
thế
làm cho Ngân hàng có
thể
phải
gánh
chịu
cẩu
của
người
gửi
tiền,
dặc
biệt
như chúng
ta
đã
thấy trong bất
cụ
cuộc
khủng
hoảng
nào thì
người
gửi
tiền
sẽ rút
tiền
của
mình
ra
nhanh
hơn
việc
người
đi vay sẩn
sàng
kinh
doanh
nguồn
vốn,
quản
trị
tồi
các quy
trình
quản
lý tín
dụng,
cán bộ
tham
ô,
thiếu
các kế
hoạch
khôi
phục
kinh
doanh
trong
trường hợp
xảy ra
thảm
họa
g.
Rủi
ro
ví dụ như
việc
Ngân hàng
từ chối
cấp
lại
hạn mục cho vay mà
theo
khách hàng là vô
lý.
Tuy
nhiên,
các trường họp có
thể
phát
sinh từ
các lý
do
tách
biệt
khỏi
hoạt
động
kinh
doanh
Ngân hàng như
việc
tài
trợ
cho
cấu kinh
tế,
lĩnh
vực ưu tiên
điểu
này có
thể
dẫn
tới rủi
ro thua lỗ
cho Ngân hàng.
h. Rủi ro chiến
lược:
phát
sinh từ
các
thay đổi trong
môi trường
hoạt
động
của Ngân hàng
trẽn
phạm
vi
rộng
hơn về mặt
kinh
doanh
và tài chính.
Rủi
nguồn
lực
cần
thiết
để
khai
thác
thị
trường này có
thể
làm
Ngân hàng gặp
phải
rủi
ro
thua
lỗ.
ì.
Rủi ro uy
tín:
là
rủi
ro
dư
luận
đánh giá xấu về Ngân hàng, gây khó
khăn nghiêm
trọng
cho Ngân hàng
trong việc
tổ
chức
tín
dổng
được
hiểu:
là
khả năng xảy ra
tổn
thất trong hoạt
động Ngân hàng của tổ
chức
tín
dụng do khách hàng không
thực hiện
hoặc không có khả năng thực
hiện nghĩa
vụ của mình
theo
cam
kết.
2. Dọa
trưng.:
Một khoản
vay được
gọi
là
có
rủi
ro khi trong
thu hổi
được cả
vốn
lẫn
lãi.
Ba
là:
tài sản bảo đảm được đánh
giá,
giá
trị
phát mại không đủ
trang
trải
cả gốc và
lãi.
Bốn
là:
thông
thường,
về
thời
gian,
các
khoản
nợ quá hạn
ít
nhất
là
90
Khoa
luận
tốt
nghiệp
hoạt
động Ngân hàng nói riêng phát
triển.
Tuy nhiên
mức độ
rủi
ro
tiềm
ẩn
trong
nền
kinh tế hiện đại
cũng
nhiều
hơn. Rủi
ro đối với
hoạt
động Ngân hàng
rất
đa
dạng,
xuất
hiện
gắn
liền
với
cao,
tỷ
lệ
nợ quá
hạn
còn khá
cao,
bình quân
những
năm
gần
đây là
khoảng
5%
và chưa có
khuynh hướng
giảm
vững
chắc,
khả năng xảy
ra rủi
ro
tín
dụng
luôn
tiếm
ẩn.
Trong
đó,
rủi
mô
của
Chính phủ (chính sách
tài
khoa,
chính sách
tiền tệ, tiền
lương,
kinh tế đối
ngoại )
cùng các công cụ
của
hệ
thống
chính sách này tác động vào
tổng
sản
phẩm
quốc dân,
việc
làm, lạm
phát,
tỷ
giá
hối
đoái
nhằm
giảm
bớt
các dao
hối
đoái, điều
kiện
mở
rộng
hay
thu
hẹp tín
dụng
Đây
là
những
nhân
tố
gây
ra
tính bấp bênh
trong kinh
doanh
tiền tệ,
ảnh
hưởng
trỷc
tiếp
đến
hoạt
động của
NHTM.
Việc
sử dụng
hiệu
nhưng
cũng
có
lúc
lại
làm
gia
tăng tính bấp
bênh và
rủi
ro
vốn
có
của hình
thức
hoạt
động
kinh
doanh
tiền
tệ.
Thỷc
tế
đã
chứng
minh
rằng
sỷ thành
bại
nền
kinh
tế
7
Khoa
luận
tốt
nghiệp
nói
chung
và hệ
thống
tài
chính ngân hàng nói
riêng.
Vấn đề là
giải
quyết
trên
nguyên
tắc
đảm
bảo
lợi
ích cho toàn bộ nền
kinh
tế,
song
có
lúc không tránh
những
biến
động
lớn
về
kinh tế
chính
trị
trên
thế
giới
có
ảnh hưởng
tới
các
quan
hệ
kinh tế đối ngoại của
một nước
mà
biểu hiện
là cán cân
thanh
toán,
tỷ
giá
hối
đoái
sẽ
đưa đến sự
chủ yếu là
biến
động của giá cả
và
đặc
biệt
là giá cả hàng hoa chủ
lực,
nguyên
liệu
đầu
vào như
sắt
thép,
nhựa,
xăng dầu
trong
thời
gian
qua
đã
ảnh hưởng
trực
tiếp
đến việc
triển
khai thực hiện
dự
án.
Mặt
đựng
những
rủi
ro tín
dụng
Ngân hàng.
Đây
là
những
nhân
tố
ảnh hưởng
trực
tiếp
đến
hoạt
động của các
NHTM,
gây nên
rủi
ro
và
đe
dọa đến sự an toàn
trong
hoạt
động
của
các
NHTM.
cho pháp
luật
được
thực
thi
và
sự
chấp
hành nghiêm
chỉnh
pháp
luật
của các chủ
thể
tham
gia
hoạt
động
kinh
doanh
và các ngành có liên
quan.
Hoạt
động
kinh
doanh
luôn
chịu
sự tác động của
ba
tách
rời
nhau,
sẽ
không
tồn
tại
một môi trường pháp lý đổng bộ và
khi
đó sự
tác
động riêng
lẻ
8
Khoa
luận
tối
nghiệp
của
một hay
hai
yếu
tố
sẽ
tạo
nên một
nội
dung
khác, một ảnh hưởng khác,
thậm
pháp
lý
vắng
vẻ,
thuần
tuy
và không có tác
dụng.
Sự đổng bộ ở đây bao gồm: sự đổng bộ
giữa
hầ
thống
pháp
luật
và các
văn bản
dưới
luật
cũng
như các văn bản hướng dẫn
thực
hiần
các
luật:
sự đồng
bộ
giữa
các ngành, các cấp liên
quan
trong
thống
pháp
luật
tương
ứng,
nền
kinh tế thị
trường đòi
hỏi
các yếu
tố
pháp lý
phải
rất
rõ ràng và
chặt
chẽ,
đảm bảo cho
hoạt
động
kinh
doanh,
dặc
biầt
là
hoạt
động
kinh
doanh
tiền
vối
môi trường
kinh tế.
• Môi trường kinh
tê:
môi trường
kinh tế
có ảnh hưởng đến sức
mạnh
tài chính của
người
đi vay và
thiầt
hại
hay thành công
đối với
người
di
vay.
Sự hưng
thịnh
hay suy thoái của chu kỳ
kinh
doanh
cũng
ảnh hưởng
tới
lợi
nhuận
của
giảm
sút.
Tùy
thuộc
vào mức
độ nghiêm
trọng
của
khủng
hoảng
và trường độ
của
nó mà
viầc
ảnh hưởng đến
các cá nhân và các
doanh
nghiầp
sản
xuất
lưu thông
cũng
như ảnh hưởng đến
khả
năng
thanh
toán các
khoản
nợ của họ ở mức khác
nhau:
tồn
kho của các
doanh
nghiệp
sản
xuất
cũng
vì
thế
mà tăng
một
cách
miễn cưỡng,
gây ảnh
hưởng
tới lợi
nhuận của họ.
Lạm phát
cũng
có ảnh
hưởng bất
lợi
đến công
việc
kinh
doanh:
giá cả
nguyên
vật
liệu,
tiền.
Do
đó,
nợ
trở
thành gánh
nặng
đối với
người đi vay
và
kết
quả
là
họ không
trả
được nợ.
Thiểu
phát
cũng
có ảnh
hưởng bất
lợi
đến công
việc
kinh
doanh: chỉ
số
tăng giá
thấp
hơn so
công
nghiệp,
mức lưu
chuyển
hàng
hoa, thu
ngân
sách,
đứu tư xây
dựng
cơ bản
giảm
gây nên tình
trạng
kinh
tế trì
trệ.
Các
doanh
nghiệp
không có cơ
hội
dể
hoạt
động sản
xuất
kinh
doanh
thu
lợi
dược nợ
vay.
• Sự
điểu
khiển của cơ chế
thị
trường:
cơ chế
thị truồng với
các
quy
luật
cạnh
tranh,
quy
luật
cung cứu,
quy
luật
giá
cả
là bàn
tay
vô hình
điều
khiển
mọi
hoạt
động
của
cả các
doanh
nghiệp
sản
xuất
kinh
doanh
khấc,
muốn
tồn
tại
và phát
triển
thì
Ngân hàng
phải
giải
quyết
được
các mâu
thuẫn
nảy
sinh
trong
quá trình
kinh
doanh:
mâu
thuẫn
về giá cả,
ro
thất
bại.
10
Khoa
luận
tốt
nghiệp
Ngoài
ra,
cần
xét đến mối
quan
hệ
với
khách
hàng,
khi
Ngân hàng đóng
vai
trò
là chủ nợ - dùng
nguồn
vốn huy động được đem cho các
doanh
nghiệp
và cá
nhân cấn vốn
vay.
Thực
hoặc
của một nước phát
triển
hay không phát
triển.
Cần
phải
xét thêm
yếu
tố năng
lực
tài chính, năng
lực
điều
hành, năng
lực
xử lý thông
tin
và
nghiệp
vụ
trong
quá trình sản
xuất
và
kinh
doanh
của các chủ
thể
tham
với
khách hàng, Ngân hàng
đóng
vai
trò là
người
đi vay thông qua
việc
nhận
tiền
gửi,
Ngân hàng
cũng
cần
phải
tôn
trọng
quy
luật
cạnh
tranh.
Hiện
nay,
người
gửi
tiền
không đơn
thuần
gửi
tiền
hưởng
của nhóm hàng này
đối với
Ngân hàng là
rất lớn,
thậm
chí gây phá
sản
Ngân hàng.
Với
sự phát
triển
của
khoa
học kỹ
thuật
và
điện
tử
tin
học, với việc
quốc
tế
hoa
các
thị
trường
tài
chính,
cóng
tệ
ngày càng sôi động và
cạnh
tranh
ngày càng
trở
nên gay
gắt.
Để
tụn
tại
và phát
triển,
các
NHTM
phải
tìm mọi cách để đứng
vững
trong
cuộc
cạnh
tranh
khốc
liệt
này.
• Các nguyên nhân bất khả kháng: các
thiệt
hại
đôi
khi
kinh
doanh
và
đặt người
đi
vay từng
làm ăn có lãi vào
thế thua
lỗ.
Hay như một
cuộc
đình công kéo dài,
việc
giảm
giá để
cạnh
tranh
hoặc
việc
mất một
người quản
lý
giỏi
có
thể
làm
thiệt
hại
nghiêm
trọng
khách hàng có tư cách
tữt
cũng
sẽ có khả năng
quán
xuyến
tữt
được
hoạt
động tài chính của mình. Còn
đữi với
khách hàng là
doanh
nghiệp
thì kỹ năng
điều
hành các
hoạt
động
kinh
doanh
của chủ
doanh
nghiệp,
các nhà
quản
trị
hay các giám đữc là yếu
tữ
quan
doanh
nghiệp
còn
rất
ít
so
với
nhu
cầu.
Năng
lực
điều
hành còn hạn
chế,
thiếu
thông
tin
thị
trường và các
đữi
tác,
trong
đó
cũng
phải
kể
đến
việc
thiếu thiện
chí
loại
rủi ro.
Không
ít những
kẻ có tư cách đạo đức kém đã đưa
ra
những
dự án
giả,
sử
dụng
sai
mục đích tín
dụng
trong
hợp
đổng
nhằm mục
đích
chiếm
dụng
vữn của Ngân hàng.
b. Từ phía Ngân hàng:
Nếu như
những
nguyên nhân nói trên là
những
nguyên nhân tác động
từ
bên ngoài
thể
xảy
ra
do sơ hở về
thủ tục
trong
12
Khoa
luận
tốt
nghiệp
nội
bộ Ngân
hàng.
Đây dược
gọi
là các
hoạt
động cho vay không hoàn hảo và
nó
xuất hiện
do các nguyên nhân
sau
đây:
Mót
là.
yếu
tố
nguồn
nhân
kém
hiệu
quả.
Thực
tế
cho
thấy
khả năng phân tích dự án
hiện
nay của
cán bộ tín
dụng
còn hạn
chế,
trong
khi
nền
kinh
tế
phát
triển
ngày càng
cao
thì
những
dự án
kinh
doanh
lừn
cần
gia
của
cán bộ
tín dụng.
Hai
là,
hiện
tượng "cò tín
dụng" vẫn
tồn
tại
và đang có xu hưừng gây
ra
nhiều
tác động tiêu
cực,
ảnh hưởng
lừn
đến
hoạt
động Ngân hàng, dễ
tha
hoa
những
cán bộ tín
dụng
kém phẩm
chất
đạo
đức,
soát
nội
bộ
cũng
như chính sách
tín
dụng. Hoạt
động
quản
trị
rủi
ro dựa trên hệ
thống
cơ chế chính sách tín
dụng,
các quy định về cho vay như quy chế cho
vay,
quy chế bảo
lãnh,
quy
định
về tài sản đảm bảo
nợ,
quy định về
đãng
ký
giao
dịch
đảm
bảo
quả
hoạt
động của bộ
phận
kiểm
tra,
kiểm
soát
nội
bộ chưa
cao;
việc
chấp
hành các quy định của Ngân hàng
Trung
ương về an toàn
vốn,
về tín
dụng,
về bảo lãnh
tại
một số
tổ chức
tín
dụng
chưa được
chấp
hành đầy đủ.
Bên
cạnh
quan
tám quá mức
đến tài
sản đảm bảo nợ
vay
.cũng
là nguyên nhân dẫn đến nợ quá hạn và
rủi
ro
tín dểng.
Bốn
là,
do "thông
tin
không cân
xứng":
trong
quá trình
hoạt
động,
Ngân
hàng
thực hiện nghiệp
vể Nợ và Có -
chuyển
vốn
từ
người
gửi
tiền
cả
những
gì cần
biết
về bên
kia
và "sự
không cân
bằng
về thông
tin"
mà mỗi bên có được như
vậy
được
gọi
là "thông
tin
không cân
xứng".
Việc
thiếu
thông
tin
trong
các
giao
dịch
này đưa đến "sự
chọn
lựa đối
không cân
xứng
nên đã
chọn người
tích
cực
vay
nhất
để cho
vay,
nhưng
lại
là nguôi có khả năng
tạo
ra
kết
cểc không
trả
được
nợ,
gây
rủi
ro cho Ngân hàng. Thông
tin
không cân
xứng
có
thể
sẽ
dẫn
khó có
thể
hoàn
trả tiền
vay,
gây
rủi
ro
cho Ngân
hàng.
Thông
tin
không cân
xứng
trên
thị
trường tài chính dẫn
tới
sự
lựa
chọn
đối
nghịch
và
rủi
ro
đạo đức đã
đặt
các Ngân hàng đứng trước
nguy
tin
cân
xứng
nhằm
vượt
qua được sự
chọn
lựa đối
nghịch
và
rủi
ro
về đạo đức.
14
Khoa
luận
tốt
nghiệp
Năm
là:
việc
Ngân hàng không
chấp
hành nghiêm túc
chế
độ tín
dụng
và
điều
kiện
vốn quá
lớn
cho một số khách hàng,
khi
những doanh
nghiệp
này
thua
lỗ
thì
Ngân hàng
chịu
rủi
ro
lớn.
Trưọng hợp của
Epco, Minh
Phụng
là những ví
dụ
điển
hình.
Sáu
là:
chính sách và quy trình cho vay còn
lỏng lẻo,
chưa chú
trọng
đến
phân tích khách hàng để tính toán
khi
rủi
ro xảy ra thì hậu quả của nó dù ít hay
nhiều
cũng
sẽ ảnh
hưởng
tới
lợi
nhuận
thu
được:
nhẹ thì không
thu
đủ nợ gốc và
lãi,
nặng
thì bị
phá
sản
Có
thể
khái quát các hậu quả
của
rủi
ro
tín dụng
như
sau:
Thứ
là
thua
lỗ.
Thứ
ba:
lợi
nhuận
thu
được nằm ngoài dự
kiến,
tức
là
khoản
vay đó vẫn
thu
đủ
gốc,
chi
phí không tăng nhưng lãi
thu
được
thấp
hơn
nhiều theo
tính
toán ký
kết
hợp đồng
tín dụng.
Thứ
ra;
không
thực
hiện
đúng
cấc
cam
kết
mở L/C.
Thứ năm:
khi
vi
phạm, cán bộ
bị
xét xử
theo
pháp
luật
gây tâm lý
hoang
mang, dao
động,
co cụm, sợ trách
nhiệm
của cán bộ ngân hàng nói
chung
và
cán bộ
tín dụng
nói
nộp
ngân
sách,
hạn
chế
tích
lũy
để đầu tư
hiện đại
hóa
công
nghệ
và đẩu tư đào
tạo
lại
cán
bộ,
nâng cao trình
độ.
Ngàn hàng
mất
vốn, phải
khoanh nợ,
giãn
nợ
thậm
chí là xóa
nợ,
ngoài
một phần
và
trình
độ
hạn
chế,
uy
tín
với
khách hàng
suy giảm.
Thứ
tám:
góp
phần
duy
trì
kéo dài sự bao cấp cho
doanh
nghiệp
Nhà
nước,
làm
chậm
cải
cách
doanh
nghiệp
Nhà
nước.
IU. Các biện pháp ngăn ngụa và hạn chế rủi ro tín dụng:
nguy
cơ,
mức độ của
tình
trạng
mất an
toàn
trong
cho vay thông qua
các
dấu
hiệu trong
các
khoản
vay
có
vấn
dề
là
hết
sức
khó
khăn.
Dựa
trên
những
yếu
tố
cấu
thành
thể
nhận
biết
được tình
trạng
mất
an
toàn
trong
cho vay
của
Ngân hàng thương
mại.
Các dấu
hiệu
của
rủi
ro tín dụng
được
xếp
thành
các
nhóm
như
sau:
Nhóm
1:
nhóm
các
dấu
trọng
gồm:
o
Phát hành
séc quá
bảo
chứng hoặc bị
tụ chối.
o Khó
khăn
trong
thanh
toán lương.
16
Khoa
luận
tót
nghiệp
o Sự dao
dộng
của các tài
khoản
mà đặc
biệt
là
giảm
sút số dư
tài
khoản
tiền
tăng các
khoản
nợ thương mại
hoặc
không có khả năng
thanh
toán nợ
khi
đến hạn.
-
Các
hoạt
động cho
vay:
o Mức độ
vay
thường xuyên
gia
tăng.
o
Thanh
toán chậm các
khoản
nợ
gốc
và
lãi.
o Thường xuyên yêu
cầu
Ngân hàng cho đáo
nhận
sử
dụng
các
nguồn
tài
trợ đất nhất,
ví
dụ:
thường xuyên sử
dụng
nghiệp
vụ
chiết
khấu
các
khoản
phải
trả.
o Giảm các
khoản
phải
trả
và tăng các
khoản
phải thu.
o Các hệ
số thanh
toán phát
triển
-
Hệ
thống
quản
trị
hoặc
ban
điều
hành luôn
bất
đồng về mục đích
quản
trị,
điều
hành độc đoán
hoặc
ngược
lại
quá phân tán.
-
Cách
thức
hoạch
định
của
khách hàng có
biểu hiện:
17
T Hư viêm
Ị
điểu
hành các
doanh
nghiệp
lớn
tham
gia
quá sâu vào
vấn
đề thường
nhật.
o
Thiếu
quan
tâm đến
lợi
ích
của
cữ
đông,
của chủ
nợ.
o Thuyên
chuyển
nhân viên
diễn ra
thường xuyên.
o Lập kế
hoạch
xác định mục tiêu kém;
những người
quản
lý không
thuộc
gia
đình;
cho thành viên của
gia
đình
chưa được đào
tạo,
huấn
luyện
dẩy đủ đảm đương
vị
trí then chốt.
-
Có
tranh
chấp
trong
quá trình
quản lý:
bao gồm các mối
quan
hệ
tranh
chấp
giữa
Hội đồng
như
thiết
bị
văn phòng
rất hiện
đại,
phương
tiện
giao
thông
đắt
tiền,
Ban
Giám đốc có
cuộc sống
xa
hoa, lẫn lộn giữa chi
phí
kinh
doanh
và
tài
chính cá
nhân.
Nhóm
3: nhóm các dấu
hiệu
liên
quan
tới
hiệu hội
chứng
sản phẩm
đẹp:
không đúng lúc
hoặc
bị ám ảnh
bởi
một sản
phẩm mà không chú ý đến các
yếu
tố
khác.
- Sự
cấp
bách không thích hợp
như:
do áp
lực nội
bộ dẫn
tới
việc tung
sản
phẩm
dịch
vụ
ra
quá sớm; các hạn mức
thời
gian kinh
phát
triển
sản
phẩm.
-
Thay
đổi
trên
thị
trường:
tỷ giá,
lãi
suất; thay đổi thị hiếu;
cập
nhật
kỹ
thuật mới;
mất nhà
cung
ứng
hoặc
khách hàng
lớn
hay có thêm
đừi thủ
cạnh
tranh.
-
Những
thay đổi từ
biểu hiện cắt
giảm
các
chi
phí
sửa
chữa,
thay thế.
-
Chất
lượng
sản phẩm và
dịch
vụ
giảm
sút,
mức tiêu
thụ
sản phẩm
giảm,
hàng
tồn
kho tăng quá mức; nợ
phải thu, phải trả
tăng,
xuất
hiện
những
đừi thủ
cạnh
về
tài
chính,
kế toán:
-
Chuẩn bị không đầy đủ sừ
liệu
tài
chính
hoặc
chậm
trễ,
trì
hoãn nộp các
báo cáo tài chính. Khi gặp
phải
những
vấn đề khó khăn về tài chính và tình
hình sản
xuất
kinh
doanh,
khách hàng vay luôn
muừn
dấu Ngân hàng, do đó
họ
tìm
nhiều
cách để trì hoãn và chậm nộp các báo cáo tài chính cho Ngân
hàng.
Những
kết luận
về phân tích
tài
chính cho
thấy:
o Sự
gia
tăng không cân
đừi
về
tỷ lệ
nợ thường xuyên .
o Khả năng
tiền
mặt
giảm.
o Tăng
doanh
sô bán nhưng
lãi
giảm
hoặc
không có.
o Các
tài
khoản
hạch
toán vừn
điều
hạn
thanh
toán của các con nợ được
kéo dài.
o
Hoạt
động
thua
lỗ.
o Lập kế
hoạch
trả
nợ mà
nguồn vốn
không đủ.
o Không
hạch
toán đúng
tài sản
cố
định.
o Làm đẹp
bảng
cân
đối
bẩng
cách
tạo ra
các
tài sản
được như:
o Những vấn để về đạo
đức, thậm
chí dáng vẻ của nhà
kinh
doanh cũng
biểu
hiện
dấu
hiệu
nào đó.
o Sự
xuống cấp
trông
thấy
của
nơi
kinh
doanh cũng
là một dấu
hiệu.
o Nơi lưu
giữ
hàng hóa quá
nhiều,
hu
hỏng
và
lạc
hậu.
Chính sách tín
dụng
là kim
chỉ
nam đảm bảo cho
hoạt
động tín
dụng
đi
đúng quỹ đạo vì cơ cấu và
chất
lượng
tín
dụng
của một Ngân hàng
phản
ánh
chính sách
tín dụng của
Ngân hàng đó.
Để
có
hiệu
quả,
chính sách tín
dụng
phải
được
soạn
thảo