LUẬN VĂN: Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách để thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tư nhân - Pdf 11


LUẬN VĂN:

Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính
sách để thúc đẩy sự phát triển của
kinh tế tư nhân Lời nói đầu
Trong những năm gần đây, thực hiện đường lối đổi mới, kinh tế tư nhân gồm
kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân đã phát triển rộng khắp cả nước
góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực vào sản xuất
kinh doanh, tạo thêm nhiều việc làm, cải thiện đời sống nhân dân tăng tích luỹ,
góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội.
Tuy vậy, kinh tế tư nhân hiện nay ở nước ta còn nhiều hạn chế, yếu kém: quy
mô, vốn ít, công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý thấp, sức cạnh tranh yếu…

trước ngày giải phóng miền Nam vẫn thường xuyên chiếm một tỷ trọng lao động
trên 15% với khoảng 50-80 nghìn người. Khi giải phóng miền Nam số người hoạt
động trong thành phần kinh tế này rất lớn.
1. Kinh tế tư nhân thời kỳ phục hồi kinh tế 1955-1957
Sau 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tháng 7-1954 hoà bình lập lại
trên miền Bắc, nền kinh tế đứng trước những hậu quả nặng nề do chiến tranh để
lại, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương đã họp vào tháng 9-1954 đề ra kế
hoạch 3 năm (1955-1957) tập trung khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến
tranh, tiếp tục hoàn thành cải cách ruộng đất, tạo cơ sở vững chắc đưa miền Bắc
tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Thắng lợi của cuộc cải cách ruộng đất là đã chia 81 vạn ha ruộng và 74 nghìn
con trâu bò cho 2,1 triệu hộ nông dân. Thủ tiêu chế độ sở hữu phong kiến về ruộng
đất, xoá bỏ phương thức bóc lột địa tô và quan hệ chủ đất và tá điền. Nông dân
thực hiện được mơ ước về làm chủ ruộng đất, đã tích cực sản xuất nông nghiệp
trên mảnh ruộng của mình đem lại hiệu quả sử dụng đất đai tốt.
Song song với việc chia ruộng đất cho nông dân , tháng 5-1955 Chính phủ đã
ban hành 8 chính sách khuyến khích sản xuất bao gồm:
(1) Bảo đảm quyền sở hữu ruộng đất
(2) Bảo hộ tài sản nông dân và các tầng lớp khác.
(3) Khuyến khích khai hoang, phục hoá bằng miễn giảm thuế 3 năm cho
ruộng đất khai hoang. Không phải đóng thuế phần tăng vụ, tăng năng suất.
(4) Tự do thuê mướn nhân công, thuê mướn trâu bò, vay và cho vay;
(5) Khuyến khích phát triển tổ đổi công;
(6) Khuyến khích phát triển nghề phụ và nghề thủ công trong nông dân và
nông thôn;
(7) Bảo hộ và khuyến khích, khen thưởng những hộ nông dân làm ăn giỏi;
(8) Nghiêm cấm phá hoại sản xuất;


- Phát huy được sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế. Lúc này kinh
tế quốc doanh chiếm tỷ trọng nhỏ bé, nhưng nhơ phát triển được vai trò của kinh tế
tư nhân trên cơ sở chính sách của Nhà nước nên nền kinh tế phát triển đúng hướng
vơí tốc độ cao.
2. Kinh tế tư nhân thời kỳ cải tạo xã hội nền kinh tế (1958 - 1960) và tới năm
1976.
Trên có sở thắng lợi của kỳ khôi phục và phát triển kinh tế (1955 - 1957),
miền Bắc bước vào thực hiện kế hoạch 3 năm cải tạo xã hội chủ nghĩa với các
thành phần kinh tế ngoai quốc doanh. Tháng 4 - 1958 Quốc hội thông qua kế
hoạch 3 năm phát triển và cải tạo kinh tế, phát triển văn hoá (1958 - 1960).
Nội dung chủ yếu của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đặt ra trong thời kỳ
này là biến nền kinh tế nhiều thành phần thành nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Nên kinh tế xã hội chủ nghĩa gồm hai hình thức sở hữu chủ yếu là quốc
doanh và tập thể. Kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư doanh là đối tượng trực tiếp
của công cuộc cải tạo này.
Nội dung đưa nông dân vào hợp tác xã coi là khâu chính. Cải tạo đối với các
hộ cá thể trong các ngành công nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, xây
dựng và các ngành khác cũng rất khẩn trương. Đối với công thương nghiệp tư bản
tư doanh với mục tiêu nhanh chóng xoá bỏ thành phần kinh tế này được tiến hành
bằng chính sách chuộc lại (trả dần) và áp dụng hình thức công tư hợp doanh.
Kết quả đến năm 1960 đã có: 40,4 nghìn hợp tác xã nông nghiệp, chiếm
85,5% tổng số hộ nông dân và 68,1% tổng dienẹ tích canh tác; 2.760 hợp tác xã
tiểu thủ công nghiệp, 267 tổ sản xuất và 285 hợp tác xã nghề muối. Tính chung
đến năm 1960 số xã viên hợp tác xã chuyên sản xuất công nghiệp lên 72 nghìn
người.
Về thương nghiệp đã có 65% trong số 185 nghìn tiểu thương tham gia hợp

Đất nước thống nhất, công cuộc phát triển kinh tế và cải tạo quan hệ sản xuất
được thực hiện trên phạm vi cả nước. Kế hoạch 5 năm 1976 - 1980 ngoài nhiệm
vụ khắc phục hậu quả chiến tranh, tiến hành cải tạo kinh tế miền Nam theo mô
hình kinh tế miền Bắc. Tiếp tục cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với những người sản
xuất nỏ ở miềm Bắc, đồng thời triển khai mạnh mẽ ở miền Nam.
Nhưng kinh tế tư nhân vẫn tồn tại, trong công nhgiệp vẫn có trên dưới 60 vạn
người sản xuất cá thể năm 1980: 50,3 vạn; năm 1981: 55,1 vạn; năm 1982: 60,8
vạn; năm 1983: 66,6 vạn; năm 1984: 64 vạn; năm 1985: 59,3 vạn.
Số lao động hoạt động tỏng kinh tế tư nhân hàng năm vẫn chiếm trên 20%
tổng số lao động ngành công nghiệp; năm 1980: 22,3%; năm 1984: 26%; năm
1985: 23%; năm 1986: 23,2%.
Giá trị sản lượng công nghiệp do khu vực kinh tế tư nhân tạo ra hàng năm
chiếm trên dưới 15% giá trị sản lượng toàn ngành công nghiệp.
Số lượng kinh doanh thương nghiệp những năm 1980 cũng ở mức 60 vạn.
Năm 1980: 63,7 vạn; năm 1985: 63,7 vạn; năm 1986: 56,8 vạn.
Số người kinh doanh thương nghiệp những năm 1980 cũng ở mức 60 vạn.
Năm 1980: 63,7 vạn; năm 1985: 63,7 vạn; năm 1986: 56,8 vạn.
Những số liệu trên cho thấy sức sống của kinh tế cá thể rất bền bỉ, sự hiện
diện của thành phần kinh tế này trong suốt thời gian dài như một tất yếu khách
quan, cần phải biết sử dụng mặt tích cực của nó làm cho dana giàu, nước mạnh.
II. Bước khởi động phát triển kinh tế tư nhân.
1. Bước chuyển biến về nhận thức thực tiễn.
Công cuộc cải tạo quan hệ sản xuất về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật đạt
kết quả không cao. Thêm vào đó những namư 1977 - 1978 nông nghiệp bị thiên tai
nặng, năm 1979 xảy ra chiến tranh biên giới Tây Nam và phía Bắc, làm cho bức
tranh kinh tế đất nước ngày càng xấu đi.
Trước tình hình trên, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 6 khoá IV

nhanh chóng: Năm 1968: 56,79 vạn người; năm 1987: 64 vạn người; năm 1988:
71,89 vạn người; năm 1989: 79,3 vạn người; năm 1990: 81,1 vạn người. Ngoài ra
còn có lực lượng thương nghiệp không chuyên tham gia hoạt động, năm 1990 có
khoảng 16 vạn nưgời.
III. Phạm vi kinh tế tư nhân
1. Các lĩnh vực kinh tế tư nhân
Việt Nam hiện có các thành phần kinh tế:
- Kinh tế nhà nước
- Kinh tế tập thể
- Kinh tế cá thể, tiểu chủ
- Kinh tế tư bản tư nhân
- Kinh tế tư bản nhà nước
- Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ nam Ban chấp hành Trung ương (khoá IX) về
phát triển kinh tế tư nhân, đề cập đến kinh tế tư nhân bao gồm hai thành phần kinh
tế là kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân.
Kinh tế tư nhân hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại
hình doanh nghiệp tư nhân. Kinh tế tư nhân tham gia vào tất cả các lĩnh vực nông
nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, thương nghiệp và các loại hình dịch vụ
khác.
2. Các loại hình tổ chức kinh doanh của kinh tế tư nhân
Loại hình tổ chức kinh doanh của kinh tế tư nhân rất đa dạng, phổ biến nhất
là hộ cá thể, tiểu chủ; loại hình công ty hiện nay chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và
và dưới hình thức: công ty tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần,
công ty hợp danh.
Trong khu vực kinh tế tư nhân, hộ kinh doanh cá thể có số lượng đông đảo,
sử dụng nhiều lao động xã hội, huy động nhiều vốn đầu tư, đóng góp tỷ trọng lớn

1. Tình hình tăng trưởng doanh nghiệp
Trong giai đoạn 1996-2000, số lượng đơn vị sản xuất, kinh doanh hoạt động
trong khu vực kinh tế tư nhân tăng lên đáng kể, số hộ kinh doanh cá thể tăng
6,02%, số doanh nghiệp tăng 45,61%, nhưng không đều qua các năm (số hộ kinh
doanh cá thể năm 1997 giảm, số doanh nghiệp năm 1998 giảm và tăng mạnh từ
năm 2000 khi có Luật doanh nghiệp).
Trong cơ cấu các hình thức tổ chức kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân,
các hộ cá thể chiếm số lượng rất lớn, đến cuối năm 2000 có 2.137.731 hộ và
29.548 doanh nghiệp.
Trong các loại hình doanh nghiệp, doanh nghiệp tư nhân chiếm số lượng lớn
nhất, tiếp đến là công ty trách nhiệm hữu hạn, sau đó là công ty cổ phần, công ty
hợp danh chiếm số lượng không đáng kể.
1.1. Đối với hộ kinh doanh cá thể
Hộ kinh doanh cá thể có số lượng lớn, phát triển rộng rãi nhiều năm nay. Số
hộ kinh doanh cá thể phi nông nghiệp từ 1.498.611 hộ năm 1992 tăng lên
2.016.259 hộ năm 1996. Tốc độ tăng bình quân 7,68%/năm, mỗi năm tăng bình
quân 129.412 hộ.
Từ năm 1996 đến năm 2000 số lượng hộ kinh doanh cá thể tăng chậm, đến
năm 2000 mới có 2.137.731 hộ, bình quân tăng 1,47%/năm, mỗi năm tăng 30.300
hộ cá thể phi nông nghiệp. Hộ nông nghiệp ngoài hợp tác xã năm 2000 có
7.656.165 hộ. Tổng cộng năm 2000 có 9.793.787 hộ kinh doanh cá thể.
Quy mô của hộ kinh doanh cá thể nói chung rất nhỏ, sử dụng lao động trong
gia đình là chính, trung bình mỗi hộ có 1-2 lao động. Vốn kinh doanh ít. Ngoại lệ,
qua khảo sát thực tế ở các thành phố lớn, có nhiều hộ kinh doanh cá thể thuê đến
hàng chục thậm chí hàng trăm lao động như cơ sở Đức Phát (cơ sở làm bánh ngọt
ở thành phố Hồ Chí Minh) thuê tới 900 lao động.
1.2. Đối với doanh nghiệp tư nhân

TNHH
Công ty
cổ phần
Công ty
hợp
danh
1991 132 76 49 7
1992 7.241 3112,87 3.034 1.144 63
1993 7.183 84,22 5.516 2.256 41
1994 7.460 -5,52 5.493 1.943 24
1995 5.729 -23,21 3.731 1.864 34
1996 5.522 -3,91 3.679 1.801 42
1997 3.760 -17 2.617 1.117 26
1998 3.121 47,86 1.998 1.044 79
1999 4.615 212,84 2.038 2.361 216
2000 14.438 - 6.468 7.244 726 3
9 tháng
2001
9.946 - 4.589 4.912 445 -
Tổng số

39.239 25.835 1.703 3
Nguồn: Báo cáo tổng hợp tình hình và phương hướng giải pháp phát triển
kinh tế tư nhân, Ban Kinh tế Trung ương, ngày 26-11-2001.
* Về số doanh nghiệp thực tế hoạt động
Tính đến ngày 31-12-2000, cả nước có 56.834 doanh nghiệp đăng ký kinh
doanh, nhưng số doanh nghiệp thực tế hoạt động là 29-548 doanh nghiệp

1.981.306

2.054.178

145,61
Tỷ trọng trong hộ % 100 100 100 100 100 100
- Công nghiệp hộ 616.855 608.250 583.352 583.352 608.314 104,69
Tỷ trọng trong hộ % 30,6 31,2 29,4 29,4 29,6
- Thương m
ại, dịch
vụ
hộ 1.102.619

1.022.385

1.058.385

1.058.542

1.088.606

100,61
Tỷ trọng trong hộ % 54,7 52,4 52,4 53,5 53,0
- Các ngành khác hộ 296.785 319.201 319.201 339.412 357.258 128,92
Tỷ trọng trong hộ % 14,7 16,4 16,4 17,1 17,4
Doanh nghi
ệp của

131.171

147.633

12,5
2 Khu vực kinh tế tư nhân Tỷ
đồng
31.542 35.894 13,8
Trong tổng số toàn xã hội % 24.05 24,31
- Doanh nghiệp của tư nhân Tỷ
đồng
5.628 6.627 17,7
+ Tỷ trọng trong toàn xã hội % 4,29 4,49
+ Tỷ trọng trong khu vực tư nhân % 17,84 18,46
- Hộ kinh doanh cá thể Tỷ
đồng
25.914 29.267 12,93
+ Tỷ trọng trong toàn xã hội % 19,76 19,82
+ Tỷ trọng trong khu vực kinh tế tư
nhân
% 82,16 81,54
Nguồn: Báo cáo tổng hợp tình hình và phương hướng, giải pháp phát triển
kinh tế tư nhân, Ban Kinh tế Trung ương, ngày 26-11-2001.
Tổng vốn dùng vào sản xuất kinh doanh của hộ kinh doanh cá thể là 63.668
tỷ đồng, chiếm 36,61% trong tổng số vốn dùng vào sản xuất kinh doanh của khu
vực kinh tế tư nhân (tính đến ngày 31-12-2000).
2.2. Vốn của doanh nghiệp tư nhân.

1998 2769.731 652.858 1.479.724 637.149 -
1999 5.483.098 877.744 2.898.925 1.706.429 -
2000 13.831.465 2.813.544 7.985.190 3.032.731 -
9
h
/2001 9.510.841 1.941.349 5.656.857 1.912.635 -
Tổng
50.795.142 11.470.175 29.064.160 10.260.770 -
Nguồn: Báo cáo tổng hợp tình hình và phương hướng, giải pháp phát triển
kinh tế tư nhân, ban kinh tế Trung ương, ngày 26 - 11 -2001.
Tính từ khi có luật doanh nghiệp đến hết tháng 4 -2002 cả nước có trên
41.000 doanh nghiệp mới thành lập với tổng số vốn đăng ký tương đương 3,6 tỷ
USD.
Tổng vốn thực tế sử dụng của doanh nghiệp cũng tăng nhanh. Năm 2000 là
110.071 tỷ đồng, tăng 38,46% so với năm 1999; trong đó của công ty trách nhiệm
hữu hạn tăng 40%, doanh nghiệp tư nhân tăng 37,64%, công ty cổ phần tăng
36,7% (xem bảng 6). Năm 2000 khu vực kinh tế tư nhân đã đầu tư mau 20,3% cổ
phần của các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá.
Bảng 5: Tổng vốn thực tế sử dụng của doanh nghiệp
Đơn vị: Tỷ đồng
TT Nguồn vốn Năm 1999 Năm 2000 Tăng so năm
trước %

Tổng số
79.493,2 110.71,9 38,46
1 Doanh nghiệp tư nhân 11.828,2 16.281,1 37,64
2 Công ty TNHH 37.426,6 52.426,8 40

tăng nhanh hơn ở hộ kinh doanh cá thể; năm 2000 so với năm 1996, lao động công
nghiệp ở doanh nghiệp tăng 114,02%;l lao động công nghiệp ở hộ kinh doanh cá
thể chỉ tăng được 6,4% (xem bảng 6).
Bảng 6: Lao động khu vực kinh tế tư nhân
TT

Chỉ tiêu Đơn vị Năm
1996
Năm
1997
Năm
1998
Năm
1999
Năm 2000

1 Tổng số lao động Người 3.865.163

3.66.825

3.816.942

4.097.455

4.643.844

T
ỷ trọng so với tổng số
lao động xã hội
% 11,2 10,3 10,3 10,9 2.121.228

37,38
Các ngành khác % 41,2 559.212 39,77 39,00 786.792
1.3

TT trong khu vực t
ư
nhân
Người 514.803 15,25 675.150 712.590 16,94
2 Lao đ
ộng trong doanh
nghiệp
Người 354.328 396.705 17,69 17,39 841.787
2.1

Công nghiệp Người 233.078 252.657 435.907 539.533 498.847
TT tr
ọng trong doanh
nghiệp
% 65,78 63,85 273.819 322.496 59,26
2.2

Thương mại, dịch vụ Người 65,78 63,85 62,81 59,77 59,26
TT tr
ọng trong doanh
nghiệp
% 17,03 20,22 62,81 59,77 22,75
2.3

Các ngành khác Người 60.314 79.998 22,86 22,3 191.507
TT tr
3.2

Thương mại, dịch vụ Người 1.531.638

1.388.701

1.455.351

1.501.636

1.584.391

Tỷ trọng trong hộ % 43,63 42,45 43,04 42,21 41,67
3.3

Các ngành khác Người 45.489 479.214 575.532 592.273 595.285
Tỷ trọng trong hộ % 12,94 14,65 17,03 16,64 15,66
Nguồn: Báo cáo tổng hợp tình hình và phương hướng, giải pháp phát triển
kinh tế tư nhân, Ban Kinh tế Trung ương, ngày 26-11-2001.
4. Tăng trưởng sản xuất kinh doanh (GDP) khu vực kinh tế tư nhân
Tổng sản phẩm trong nước của khu vực kinh tế tư nhân tăng trưởng liên tục
trong những năm gần đây. Năm 1996 GDP khu vực kinh tế tư nhân đạt 68.518 tỷ
đồng, đến năm 2000 lên 86.929 tỷ đồng, tăng bình quân 7%/năm. Tương ứng GDP
của hộ kinh doanh cá thể từ 52.169 tỷ đồng năm 1996 lên 66.142 tỷ đồng năm
2000, tăng bình quân 7%/năm; của doanh nghiệp từ 14.780 tỷ đồng lên 20.787 tỷ
đồng, tăng bình quân 7,1%/năm. Tốc độ tăng trưởng GDP của khu vực kinh tế tư
nhân xấp xỉ tốc độ tăng GDP toàn bộ nền kinh tế (xem bảng).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status