LUẬN VĂN: PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP ĐÀ NẴNG - Pdf 11

LUẬN VĂN:

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
NÔNG NGHIỆP ĐÀ NẴNG

Mở đầu
I. Lý do chọn đề tài.
Đà Nẵng là một thành phố có những bước phát triển về kinh tế xã hội vượt bậc
trong những năm gần đây. Định hướng chung của thành phố trong những năm sắp tới là
hướng tới phát triển thành phố một cách bền vững cả về kinh tế và xã hội. Ngành nông
nghiệp của thành phố củng không nằm ngoài xu hướng đó, phát triển bền vững nông
nghiệp sẽ là hướng đi chính trong tương lai. Những năm gần đây, sản suất nông nghiệp
của thành phố đã có những bước tiến đáng kể, tuy nhiên, so với nhu cầu và tiềm năng
thì còn nhiều hạn chế, vì vậy việc xác định rõ những kết quả đã đạt được cũng như
những hạn chế là cần thiết để từ đó có những định hướng và đề ra những giải pháp phát
triển bền vững nền nông nghiệp thành phố nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và đời
sống của nhân dân. Xuất phát từ yêu cầu đó, em đã chọn đề tài “Phát triển bền vững
nông nghiệp Đà Nẵng”
II. Mục đích nghiên cứu.
Đánh giá khái quát thực trạng phát triển nông nghiệp của thành phố Đà Nẵng.
Tìm hiểu các điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội tác động đến quá trình phát
triển nông nghiệp của thành phố Đà Nẵng.
Phân tích các yếu tố tác động đến phát triển nông nghiệp thành phố đà nẵng một
cách bền vững.
Định hướng và đưa ra các giải pháp góp phẩn phát triển nông nghiệp thành phố
Phần 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
NÔNG NGHIỆP.
I. Nông nghiệp.
1. Khái niệm.
Nông nghiệp là ngành có lịch sử phát triển lâu đời, các hoạt động nông
nghiệp đã có từ hàng ngàn năm nay kể từ khi con người từ bỏ nghề săn bắn và hái
lượm. Do lịch sử lâu đời này mà nông nghiệp thương được nói đến như là nền kinh
tế truyền thống. Ngày nay mặc dù với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật con người đã
sản xuất được những máy móc thiết bị hiện đại nhưng người nông dân vẩn thường
áp dụng những kỹ thuật đã phát triển từ hàng trăm nghìn năm trước để trồng trọt.
2. Đặc điểm vai trò của nông nghiệp.
Nông nghiệp là ngành tạo ra sản phẩm thiết yếu nhất cho con người. Lương
thực thực phẩm chỉ có ngành nông nghiệp mới sản xuất ra. Trên thực tế phần lớn
các sản phẩm chế tạo có thể thay thế nhưng không có sản phẩm nào có thể thay thế
lương thực. Do đó nước nào củng phải sản xuất hoặc nhập khẩu lương thực để phục
vụ nhu cầu của mình.
Hoạt động sản xuât nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện khách quan.
Trước hết nông nghiệp khác cơ bản với các ngành khác ở chổ tư liệu sản xuất chủ
yếu là đất đai, điều kiện tự nhiên. Ngành nào tiến hành sản xuất kinh doanh củng
cần đất đai, nhưng không có ngành nào đất đai đóng vai trò chủ đạo như nông
nghiệp. Gắn liền với vai trò của đất đai là ảnh hưởng của thời tiết. Củng không có

hướng vào sản phẩm xuất khẩu.
Tạo việc làm cho đa số lao động nông thôn. Nông nghiệp tạo ra thu nhập
chính cho bộ phận dân cư ở nông thôn.
4. Tác động môi trường của nông nghiệp.
Trong khi sử dụng (và thường sử dụng chưa hợp lý) các nguồn tài nguyên
thiên nhiên nông nghiệp có thể gây ra các tác động môi trường tích cực hoặc tiêu
cực. Đến nay, nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều nước nhất và làm cho nguồn
nước ngày càng khan hiếm. nông nghiệp là yếu tố chính làm suy kiệt nguồn nước
ngầm, ô nhiểm hóa chất nông nghiệp, bạc màu đất và thay đổi khí hậu toàn cầu khi
chiếm tới 30% lượng phát thải khí nhà kính. Tuy nhiên nông nghiệp củng là nới
cung cấp chính các dịch vụ môi trường thường không được công nhận và không
được trả tiền như cố định cacbon, quản lý lưu vực sông và bảo tồn đa dạng sinh học.
Với tình trạng khan hiếm nguồn tài nguyên ngày càng gia tăng, thay đổi khí hậu dẩn
đến những quan ngại về sự biến đổi môi trường và cái giá phải trả trong tương lai,
kiểu nông nghiệp hiện nay không phải là một cách hay. Quản lý các mối quan hệ
giữa nông nghiệp, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường là một phần không
thể tách rời khỏi nông nghiệp vì sự phát triển.
II. Phát triển bền vững và phát triển bền vững nông nghiệp.
1. Khái niệm.
Để duy trì sự sống của bản thân và tiếp tục sự phát triển của nòi giống, ngay
từ thời kỳ nguyên thuỷ của lịch sử nhân loại, con người đã có những hoạt động khai
thác tài nguyên thiên nhiên, chế biến thành những vật phẩm cần thiết cho mình,
hoặc để cải thiện những điều kiện thiên nhiên, tạo nên môi trường sống thích hợp
với mình. Trong lúc tiến hành những hoạt động đó, con người ít nhiều đã biết rằng
mọi can thiệp vào tài nguyên thiên nhiên và môi trường luôn luôn có hai mặt lợi, hại
khác nhau đối với cuộc sống trước mắt và lâu dài của con người. Một số kiến thức
và biện pháp thiết thực để ngăn ngừa những tác động thái quá đối với môi trường đã
được đúc kết và truyền đạt từ thế hệ này qua thế hệ khác dưới dạng những tín
ngưỡng và phong tục. Trong các xã hội công nghiệp, với sự phát hiện những nguồn
năng lượng mới, vật liệu mới và kỹ thuật sản xuất tiến bộ hơn nhiều, con người đã

trên thế giới ngày nay hướng tới, đó là niềm hy vọng lớn của toàn thể loài người
PTBV có đặc điểm:
(1) - Sử dụng đúng cách nguồn tài nguyên thiên nhiên mà không làm tổn hại
hệ sinh thái và môi trường
(2) - Tạo ra các nguồn vật liệu và năng lượng mới
(3) - Ứng dụng công nghệ sạch, công nghệ phù hợp với hoàn cảnh địa
phương
(4) - Tăng sản lượng lương thực, thực phẩm
(5) - Cấu trúc và tổ chức lại các vùng sinh thái nhân văn để phong cách và
chất lượng cuộc sống của ngươì dân đều thay đổi theo hướng tích cực
Mục tiêu cuối cùng của PTBV là thỏa mãn yêu cầu căn bản của con người,
cải thiện cuộc sống, bảo tồn và quản lý hữu hiệu hệ sinh thái, bảo đảm tương lai ổn
định. PTBV thực hiện và đảm bảo sự liên đới giữa các thế hệ, giữa các quốc gia,
giữa hiện tại với tương lai. PTBV có tính chất đa diện, thống nhất, toàn bộ. Muốn
PTBV phải lồng ghép được 3 thành tố quan trọng của sự phát triển với nhau: phát
triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Đây là nguyên lý chung để
hướng sự phát triển bền vững của các lĩnh vực trong nền kinh tế.
Cùng với định nghĩa về PTBV, khái niệm phát triển nông nghiệp bền vững
cũng hình thành. Trong những thập niên cuối của thế kỷ 20, những vấn đề đặt ra chủ
yếu tập trung vào sản xuất nông nghiệp: bảo vệ môi trường đất, nước và khởi xuớng
một số hệ thống canh tác bền vững. Mục đích của nông nghiệp bền vững là kiến tạo
một hệ thống bền vững về sinh thái, có tiềm lực về kinh tế, có khả năng thoả mãn
những nhu cầu của con người mà không huỷ diệt đất đai, không làm ô nhiễm môi
trường. Thông tin về các mô hình canh tác tổng hợp, canh tác bền vững trên đất dốc,
phòng trừ sâu bệnh tổng hợp…
Phát triển Nông nghiệp và bền vững là quá trình đa chiều bao gồm: (i) tính
bền vững của chuỗi lương thực (từ người sản xuất đến tiêu thụ, liên quan trực tiếp
đến cung cấp đầu vào, chế biến và thị trường); (ii) tính bền vững trong sử dụng tài
nguyên đất và nước về không gian và thời gian; (iii) khả năng tương tác thương mại
trong tiến trình phát triển nông nghiệp và nông thôn để đảm bảo cuộc sống đủ, an

của con người về đất và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác đang làm nảy sinh
những cạnh tranh và mâu thuẫn. Nếu muốn làm thoả mãn nhu cầu đòi hỏi của con
người một cách lâu bền, chúng ta phải giải quyết những mâu thuẫn đó, và tìm cách
sử dụng đất và các tài nguyên thiên nhiên khác một cách có hiệu quả và hiệu suất
hơn.
Mục tiêu là để làm cho đất được sử dụng theo những cách đảm bảo thu được
những lợi ích lâu bền lớn nhất. Cách để làm giảm thiểu các mâu thuẫn và đạt được
kết quả tốt nhất và sự lựa chọn thích hợp nhất là phải liên kết để phát triển kinh tế
và xã hội với vấn đề củng cố và bảo vệ môi trường. Hơn nữa trong hoàn cảnh phải
thoả mãn nhu cầu nuôi sống số dân đang tăng nhanh mà quỹ đất trồng trọt, nguồn
nước ngày càng cạn kiệt và chúng ta không được quyền mở rộng trên những diện
tích không phù hợp.
Quản lý đất bền vững tuỳ thuộc vào từng loại đất cụ thể. Ở những nơi đất ổn
định, phì nhiêu thì việc trồng cấy và quản lý canh tác sẽ theo phương thức bền vững,
bù đủ lượng dinh dưỡng trong các sản phẩm thu hoạch và cây trồng mang theo. Còn
những vùng đất xấu cần xác định những phương thức quản lý và sản xuất thích hợp.
. Biện pháp quản lý đất bền vững nhằm tránh sự thoái hoá đất, duy trì độ phì chính
dựa vào Quy trình quản lý tốt nhất (Best Management Practice - BMP). Quy trình
này bao gồm :
- Bảo vệ cấu trúc đất và hàm lượng hữu cơ của đất
- Quản lý dinh dưỡng
- Bảo vệ đất bằng cây che phủ
- Trồng rừng
- Duy trì độ phì đất
Sử dụng những phương pháp canh tác tiến bộ (làm đất và sử dụng máy móc,
đặc biệt ở những vùng dễ bị tổn thương) và các quy trình gieo trồng thích hợp.
2.2 Quản lý sâu bệnh bền vững
Quản lý sâu bệnh bền vững và nông nghiệp bền vững cùng chung mục tiêu là
phát triển hệ thống nông nghiệp hoàn thiện về sinh thái và kinh tế. Quy trình phòng
trừ sâu bệnh tổng hợp (IPM) có thể coi như cấu thành chủ đạo trong hệ thống phát

kháng thuốc, tác động có tính gây chết và nửa chết đối với sinh vật, kể cả tác động
đến con người. Những tác động này đang là mối quan tâm của công chúng, mặt
khác với nhu cầu ngày càng tăng của môi sinh sạch (không khí sạch, nước sạch, các
tập tính sống của động vật hoang dã) và thiên nhiên đẹp. Rõ ràng xu hướng giảm sự
phụ thuộc vào hoá chất trong sản xuất nông nghiệp đang được xem là chiến lược đối
với nông dân.
Chiến lược phòng trừ thông qua hệ thống trồng trọt.
Tạo điều kiện cho hoạt tính đất tốt về sinh học và dinh dưỡng (tăng cường sự
đa dạng dưới mặt đất).
Tạo tập tính thuận lợi cho sinh vật có lợi (tăng sự đa dạng trên mặt đất)
Sử dụng các giống cây trồng thích hợp.
Phòng trừ thông qua hệ thống trồng trọt là điều khiển hệ sinh thái ít thuận lợi
cho sự hình thành và phát triển của quần thể côn trùng. Tuy nhiên, vẫn có thể có
những tác động bất lợi có thể do sự phụ thuộc vào biến động của thời tiết và sự
không tuân thủ nghiêm ngặt trong sản xuất.
Duy trì và tăng cường sự đa dạng sinh học của hệ thống canh tác là chiến
lược cơ bản của việc phòng trừ thông qua hệ thống trồng trọt. Nhiều thực tế cho
thấy giảm đa dạng sinh học trong hệ thống đã làm bùng phát sâu bệnh và nhiều vấn
đề khác
Có nhiều cách để quản lý và tăng cường sự đa dạng sinh học trên đồng
ruộng, cả trên và dưới đất.
Những yếu tố tác động đến đa dạng sinh học và độ phì đất bao gồm hàm
lượng chất hữu cơ tổng số, độ pH, sự cân bằng dinh dưỡng, ẩm độ và thành phần đá
mẹ của đất. Những yếu tố này giúp cây trồng đạt năng suất tối đa và duy trì độ phì
nhiêu của đất. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy khi sử dụng quá chất dinh dưỡng
(ví dụ như quá nhiều đạm, hay lượng canxi quá gấp 2 lần Mg so với hàm lượng tổng
số cân bằng của chúng) trong đất sẽ tạo ra những phản ứng của côn trùng đối với
cây. Chính sự mất cân bằng trong đất cũng là những yếu tố hấp dẫn côn trùng, làm
cây khó có khả năng hồi phục sau khi bị hại và tăng sự mẫn cảm đối với các loại
côn trùng phụ từ các nguồn khác. Khi đất ở trạng thái giàu chất dinh dưỡng sẽ có xu

của công nghệ sinh học để giảm thiểu nhu cầu sử dụng hoá chất trong nông nghiệp.
Ðóng góp làm màu mỡ cho đất và làm tăng thêm hiệu suất cho những loài thực vật
sử dụng các chất dinh dưỡng của đất, để làm sao cho nền sản xuất nông nghiệp
không tháo đi mất các chất dinh dưỡng khỏi địa bàn hoạt động.
Cung cấp các nguồn năng lượng tái sinh và các nguyên liệu thô sơ từ các chất
thải hữu cơ và vật chất thực vật. Xử lý các chất thải hoá học hữu cơ theo cách rẻ
hơn và hiệu quả hơn so với các phương pháp truyền thống. Phát triển các giống cây
mọc nhanh có năng suất cao, đặc biệt là cây cho củi đốt. Khai thác tài nguyên
khoáng sản theo cách ít gây ra sự phá huỷ về môi trường.
2.4 Phát triển nông thôn bền vững
Thực tế là số dân nghèo trên thế giới hiện sống tập trung hầu hết ở vùng nông
thôn và phương kế sinh nhai của họ thường gắn với nông nghiệp. Như đã trình bày
ở trên, nông nghiệp là yếu tố tác động chính đến môi trường, gắn chặt với nguồn
nước, sức khoẻ, dinh dưỡng và giáo dục. Những năm gần đây, vai trò của nông
nghiệp đối với sự phát triển nông thôn và đóng góp vào ‘Mục tiêu phát triển trong
thiên niên kỷ mới của Liên hiệp Quốc’ngày càng được nhận thức rõ và đánh giá
cao.
Thúc đẩy sự phát triển nông thôn thông qua nông nghiêp được thể hiện qua
chính sách phát triển của nhiều quốc gia. Nhìn chung, những chính sách đều thể
hiện yêu cầu phải đảm bảo an ninh lương thực cho nông dân, tạo cơ hội cho họ vượt
qua đói nghèo và cân bằng giữa các mục tiêu môi trường, xã hội và kinh tế.
Tuy nhiên, những thách thức vô cùng lớn như những con số thống kê hiện
tại: khoảng 1,2 tỷ người sống thấp hơn 1 đôla mỗi ngày, hơn 800 triệu người trong
cảnh đói. Giảm đói nghèo cả khu vực nông thôn và ven đô tất nhiên sẽ phải dựa cơ
bản vào phát triển nông nghiệp bền vững, và đặc biệt lại trong bối cảnh dân số vẫn
tăng nhanh, quỹ đất trồng trọt giới hạn và khó có khă năng mở rộng diện tích.
Như vậy phát triển nông thôn là lĩnh vực đa ngành, đặt trong mối quan hệ
phức tạp giữa xã hội – tài nguyên thiên nhiên – môi trường bền vững. Không giải
quyết được tận gốc vấn đề an ninh lương thực thì không thể bảo tồn được tài nguyên
đất, bảo vệ được rừng, không thể có những hệ canh tác bền vững vì đó là những kế

phát triển xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái. Phát triển nông nghiệp sạch và
nông nghiệp hữu cơ là xu hướng phát triển nông nghiệp hiện đại có tác động tích
cực đến thực hiện yêu cầu phát triển bền vững nông nghiệp và nông thôn.
Nông nghiệp là ngành phải đáp ứng yêu cầu này trong điều kiện quỹ đất
trồng trọt đã khai thác cạn, và lại phải tránh sử dụng những đất ít hoặc không thích
hợp cho sản xuất nông nghiệp
Nền nông nghiệp bảo tồn, nông nghiệp hữu cơ và quản lý sinh học đất tổng
hợp là 3 mô hình đang được Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc thúc đẩy.

IV. Kinh nghiệm của một số địa phương về phát triển bền vững nông
nghiệp.
Tìm hiểu về kinh nghiệm phát triển bền vững nông nghiệp ở một số địa
phương trên sẽ giúp chúng ta nhận thức rỏ hơn về xu hướng củng như cách thức để
phát triển nền nông nghiệp bền vững hơn.
1. Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp của Đài Loan
Đài loan là một thành phố phát triển, là một trong các trung tâm kinh tế lớn
của Châu Á. Đài Loan và Đà Nẵng có những nét tương đồng, đều là đô thị có diện
tích nhỏ, diện tích đất cho nông nghiệp không lớn, giai đoạn đầu phát triển đều chú
trọng tới phát triển dịch vụ và công nghiệp. Tuy vậy hiên nay Đài loan đã phát triển
rất tốt nông nghiệp không những đáp ứng tốt nhu cầu của địa phương mà còn tạo ra
giá trị lớn phục vụ xuất khẩu.
Về dịch vụ nông nghiệp sinh thái, Đài Loan rất chú trọng phát triển và gọi là
“hưu nhàn nông nghiệp” tức là nông nghiệp nghỉ ngơi, thư giãn là rất cần thiết,
nhưng không nên xây dựng cơ ngơi đồ sộ, cao tầng theo kiểu kiến trúc đô thị. Xây
dựng các cơ sở nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn phải tôn trọng thiên nhiên, hài hòa thiên
nhiên và kiến trúc phù hợp với đặc điểm văn hóa, thẩm mỹ ở từng vùng, cho dù có
thiếu chút ít tiện nghi cũng là bình thường. Tại Đài Loan, các điạ phương và nhà
đầu tư đề xuất chính phủ sau khi duyệt đề án có thể cho vay vốn, xây dựng cơ sở hạ
tầng, hỗ trợ thông tin, tuyên truyền, quảng bá.
Về sản xuất giống và cung cấp các dịch vụ đầu vào, giải quyết tiêu thụ sản

cây cảnh 5,7%. Trong đất phi nông nghiệp, rừng chiếm 9,5%, đất ở 6,6%, đất bảo
hộ tự nhiên 4,1%, đất nghỉ 2,4%, đất đường xá 4,0%, đất công nghiệp và xây dựng
3,8%. Hà Lan đả đạt được những thành tựu vượt trội về phát triển nông nghiệp.
- Hiệu suất xuất khẩu nông sản đứng đầu thế giới
Có 9 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đứng đầu thế giới, 3 mặt hàng
đứng thứ hai thế giới.
- Mức xuất khẩu về nông sản cũng vượt nhiều cường quốc nông
nghiệp thế giới
- Theo cách tính của Bộ Nông nghiệp Mỹ dựa vào "đồng USD quốc
tế" của tổ chức FAO, thì hiệu suất sản xuất của đất ở Hà Lan năm 1991 đạt 2468
USD/ha, hiệu suất lao động đạt 44339 USD/người. Hiệu suất lao động tuy thấp hơn
Mỹ một chút, nhưng hiệu suất đất thì cao hơn hẳn mọi nước trên thế giới
Trên thị trường thế giới, các mặt hàng nông sản của Hà Lan có sức cạnh
tranh cao dựa vào những giải pháp chủ yếu sau đây:
- Dựa vào vốn và kỹ thuật cao, trong đó nổi bật nhất là hoa và cây cảnh là
những ngành sản xuất đòi hỏi nhiều vốn và kỹ thuật, đồng thời phải có một hệ thống
dịch vụ cao cấp mới có thể vận chuyển những mặt hàng này ra nước ngoài. Một thí
dụ khác là về khoai tây, vốn là một loại "thực phẩm bình dân" của thế giới, giá cả
bình thường, nhưng do Hà Lan tạo được giống khoai tây có kích cỡ đều đặn, vỏ
nhẵn bóng được coi là " lương thực thứ hai " được thế giới ưa chuộng, từ đó có thị
trường xuất khẩu ổn định, nhất là cung cấp cho nhu cầu chế biến thức ăn nhanh.
- Đổi mới phương thức sản xuất, để tăng sức cạnh tranh. Hà Lan dùng vốn
và công nghệ cao để thay thế có hiệu quả nguồn quỹ đất hiếm hoi, sử dụng nhà kính
để sản xuất cà chua, dưa, ớt quanh năm, tiết kiệm đất, tăng hiệu suất đất. Phương
thức sản xuất gà đẻ trứng, lợn thịt cũng được cải tiến để bảo vệ môi trường, đảm bảo
yêu cầu sức khoẻ động vật và và chất lượng quốc tế, có hiệu quả cao.
- Tăng giá trị gia tăng nhờ vào chế biến sâu.
Trải qua mấy trăm năm cải tiến các công nghệ truyền thống về chế biến pho
mát, bơ, sữa tạo được uy tín quốc tế. Công nghệ chế biến ca cao, ca phê từ thời kỳ
thực dân vẫn còn phát huy tác dụng trong công nghiệp chế biến hiện nay. Nhiều loại

những cửa ngỏ quan trọng ra biển của Tây Nguyên và các nước Lào, Campuchia,
Thái Lan, Myanma Đến các nước vùng Đông Bắc Á thông qua hành lang kinh tế
Đông Tây với điểm kết thúc là cảng biển Tiên Sa. Nằm ngay trên một trong những
tuyến đường biển và đường hàng không quốc tế thành phố Đà Nẵng có một vị trí địa
lý đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững.
Đà Nẵng nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng gió mùa nhiệt đới, chia thành
hai mùa rỏ rệt: mùa khô từ tháng 1 đến tháng 9, còn lại là mùa mưa. Nhiệt độ trung
bình là 25,6
0
C, lượng mưa trung bình hằng năm là 1.992mm, số giờ nắng trung
bình hằng năm là 2.198 giờ, độ ẩm không khí trung bình hằng năm là 82%, hướng
gió thịnh hành là Đông bắc - Tây nam, bảo thường xuất hiện từ tháng 7 đến tháng
11 hàng nặm, cấp bảo lớn nhất lên đến 11, 12. Về sông ngòi có sông Hàn, sông Cẩm
Lệ, Túy Loan, Vĩnh Điện, Cu Đê. Tổng trử lượng nước trên 11 tỷ m
3
.
2. Tài nguyên thiên nhiên.
2.1 Tài nguyên đất
Thành phố có các loại đất khác nhau như: Đất xám bạc màu, đất xám, đất
đen, đất đỏ vàng, đất mùn đỏ vàng, đất cồn các ven biển, đất mặn, đất phèn, đất phù
sa Trong đó quan trọng nhất là nhóm đất phù sa ở đồng bằng ven biển thích hợp
với trồng lúa, trồng rau và hoa quả ven đô; đất đỏ vàng đồi núi thích hợp với trồng
các loại cây công nghiệp dài ngày, cây đặc sản, dược liệu, chăn nuôi gia súc và kết
cấu vững chắc phục vụ xây dựng các cơ sở công trình hạ tầng.
Tổng diện tích của thành phố là 125.654,37 ha, chia theo các loại đất có: đất
nông nghiệp 9.235,56 ha, đất lâm nghiệp 60.989,75 ha, đất chuyên dùng 42.909,38
ha, đất ở 5.561,35 ha, đất chưa sử dụng 6.958,33 ha
2.2 Tài nguyên nước.
* Biển, bờ biển: Đà Nẵng có bờ biển dài khoản 30 km, có vịnh đà nẵng nằm
chắn bởi sườn núi Hải Vân và Sơn Trà, mực nước sâu, thuận lợi cho việc xây dựng

ha) trong đó đất có rừng 15.933 ha; rừng phòng hộ20.895 ha, trong đó đất có rừng
17.468 ha; rừng sản xuất 23.508 ha, trong đó đất có rừng là 18.176 ha.
Rừng ở Đà Nẵng tập trung chủ yếu ở phía tây huyện Hòa Vang, một số ít ở
quận Liên Chiểu, Sơn Trà, Ngủ Hành Sơn. Tỷ lệ che phủ là 49,6%, trữ lượng gổ
khoảng 3 triệu m
3
, phân bố chủ yếu ở nơi có độ dốc lớn, địa hình phức tạp.
Rừng của thành phố ngoài ý nghĩa về kinh tế còn có ý nghĩa nghiên cứu khoa
học, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển du lịch. Thiên nhiên đã ban tặng cho
thành phố nhiều khu bảo tồn thiên nhiên đặc sắc như: Khu bảo tồn thiên nhiên Bà
Nà, khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà và khu văn hóa lịch sử môi trường Nam Hải
Vân
2.4 Tài nguyên khoáng sản.
Thành phố có các loại tài nguyên như:
 Cát trắng: Tập trung ở Nam Ô, trữ lượng khoảng 5 triệu m
3
.
 Đá hoa cương: ở Non Nước, nhưng để bảo vệ khu di tích nổi tiếng Ngũ
Hành Sơn nên loại đá này đã bị cấm khai thác.
 Đá xây dựng: đây là loại đá khoáng sản chủ yếu của thành phố, tập
trung chủ yếu ở khu vực phía tây, bắc và tây nam thành phố.
 Đá phiến lợp: tập trung chủ yếu ỏ thôn Phò Nam, xã Hòa Bắc. Đây là
loại đá filit màu xám đen, có thể tách ra từng tấm với kích thước (0.5x10)x0.3-0.5m.
Trữ lượng khoảng 500.000m
3
.
 Cát, cuội sỏi xây dựng: cát lòng sông Vĩnh Điện, Túy Loan, sông Yên,
Cầu Đỏ, Cẩm Lệ, Cu Đê, cuội sỏi Hòa Bắc, Hòa Liên.
3. Tình hình kinh tế - xã hội.
Cùng với sự phát triển đi lên của cả nước nói chung thì tình hình kinh tế xã

2002 là 12,56% và năm 2003 trở thành đô thị loại 1. Thành phố Đà nẵng là trung
tâm của khu vực miền trung tây nguyên đã từng bước hoàn thiện môi trường đầu tư,
moi trường sản xuất kinh doanh theo hướng mở rộng và nâng cao năng lực cạnh
tranh trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. kinh tế tiếp tục tăng trưởng nhanh
(năm 2003 là 13,26% ; 2004 là 13,84%; năm 2005 là 14%) Bảng 1. Một số chỉ tiêu kinh tế-xã hội TP Đà nẵng (2001-2005)

Chỉ tiêu

ĐVT
Thực hiện 5 năm
T
ốc
đ

tăng

4

13,26

5.462,
8

13,84

6.224,
9

14

13,18
2.

GDP bình
quân đầu người

USD
493

565

687

796

950


2
0,6
41


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status