Hoàn thiện quy trình nhập khẩu nguyên liệu và thành phẩm tân dược tại Công ty TNHH Thăng Long - Pdf 11

LỜI MỞ ĐẦU
Trong công cuộc đổi mới và mở cửa nền kinh tế của Đảng và nhà nước
ta những năm vừa qua đã đem lại cho nền kinh tế nói chung và các doanh
nghiệp dược nói riêng cơ hội to lớn để phát triển mạnh mẽ. Công ty TNHH
Thăng Long đã có những bước phát triển vượt bậc không những về chủng
loại, chất lượng sản phẩm mà cả về năng lực kinh doanh nhập khẩu đáp ứng
nhu cầu của nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập nền kinh tế quốc tế,
công ty đã đóng góp một phần không nhỏ của mình trong xu thế hội nhập đó.
Nền kinh tế Việt Nam có điểm xuất phát thấp, chiến tranh kéo dài đã để lại
cho nhân dân Việt Nam biết bao bệnh tật cộng với sự đói nghèo đã ảnh hưởng
trực tiếp đến sức khoẻ nhân dân. Trước tình hình đó, một yêu cầu cấp thiết đặt
ra cho các doanh nghiệp dược là phải làm thế nào để có nguồn thuốc chất
lượng tốt, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Với công nghệ y dược của Việt
Nam hiện nay chỉ mới đáp ứng được phần nào yêu cầu đó, điều này làm cho
hoạt động nhập khẩu thành phẩm tân dược có chất lượng cao càng trở nên
quan trọng bởi bên cạnh việc chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân thì nhập khẩu
thuốc còn là cầu nối thông suốt nền kinh tế tiên tiến trong và ngoài nước với
nhau, chính hoạt động này cũng sẽ đóng góp vào sự phát triển ổn định của
nền kinh tế và hơn ai hết nó sẽ giúp cho mỗi con người trong cộng đồng có
được sức khoẻ, trí tuệ để tham gia hoạt động trong mọi lĩnh vực khác nhau.
Tuy nhiên, điều kiện mở cửa của kinh tế thị trường đặt ra cho công ty
những thách thức rất lớn đặc biệt là trong kinh doanh quốc tế. Cùng với sự
cạnh tranh khốc liệt là những khó khăn thách thức mới đã ảnh hưởng trực tiếp
đến quá trình nhập khẩu thành phẩm tân dược của Công ty TNHH Thăng
Long. Đó cũng là một trong những vấn đề mấu chốt có thể trở thành nhân tố
quan trọng đem lại thành công cho công ty trong cơ chế thị trường hiện nay,
cần nâng cao hiệu quả của hoạt động nhập khẩu. Trên cơ sở vận dụng lý
thuyết được học ở trường và sự tìm hiểu thực trạng hoạt động nhập khẩu của
1
công ty em xin tiến hành thực hiện đề tài “Hoàn thiện quy trình nhập khẩu
nguyên liệu và thành phẩm tân dược tại Công ty TNHH Thăng Long”

Trong điều kiện hiện nay nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, các
công ty kinh doanh quốc tế khi tham gia hoạt động nhập khẩu thường áp dụng
hai hình thức kinh doanh nhập khẩu chính : là nhập khẩu trực tiếp (nhập khẩu
tự doanh ) và nhập khẩu gián tiếp ( nhập khẩu uỷ thác ). Áp dụng hình thức
nào điều này phụ thuộc vào điều kiện kinh doanh, điều kiện cơ sở vật chất kỹ
thuật và vào yêu cầu của khách hàng.
2.1. Nhập khẩu trực tiếp (nhập khẩu tự doanh)
Trong thương mại quốc tế giao dịch trực tiếp ngày càng phát triển do các
phương tiện thị trường rất phát triển, trình độ năng lực giao dịch của người
thạm gia thương mại quốc tế ngày càng cao do đó khi nhập khẩu hàng hoá,
các đơn vị kinh doanh quốc tế có thể trực tiếp giao dịch với nhà xuất khẩu
một cách thuận tiện và dễ dàng.
Kinh doanh nhập khẩu theo hình thức trực tiếp được hiểu là việc đơn vị
kinh doanh trực tiếp nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài vào Việt nam với
3
danh nghĩa và chi phí của mình rồi sau đó tiến hành kinh doanh, bán hàng
hoá nhập khẩu cho khách hàng trong nước có nhu cầu.
Đơn vị kinh doanh theo hình thức nhập khẩu trực tiếp sẽ mang lại hiệu quả
cao do giảm được chi phí trung gian, giảm bớt sai sót, lợi nhuận thu được do
bán hàng hoá nhập khẩu lớn hơn chi phí uỷ thác nhập khẩu hàng hoá. Đồng
thời theo hình thức này đơn vị kinh doanh có điều kiện trực tiếp tiếp cận thị
trường để thích ứng với nhu cầu thị trường một cách tốt nhất, từ đó có thể chủ
động được nguồn hàng và bạn hàng trong kinh doanh.
Tuy nhiên, bên cạnh thuận lợi đó thì kinh doanh nhập khẩu trực tiếp cũng
gặp không ít khó khăn, hình thức này cũng chứa đầy rủi ro và mạo hiểm do
doanh nghiệp phải có đủ tiềm lực về tài chính để đầu tư, cán bộ phải có
nghiệp vụ giỏi, hình thức này nếu không tìm hiểu kỹ thị trường và đối tác thì
rất dễ bị ép giá thậm chí sau khi nhập khẩu hàng hoá về có thể bán không
được hoặc bán được với giá thấp. hình thức này không thích hợp với công ty
kinh doanh quốc tế khi lần đầu tham gia trên thị trường quốc tế hoặc kinh

đồng.
Trên thực tế kinh doanh theo hình thức này lợi nhuận thu được không cao
vì chỉ là phí uỷ thác nhưng lại đảm bảo tránh rủi ro, mạo hiểm đạt được mức
độ an toàn, chắc chắn trong kinh doanh của đơn vị ngoại thương tiến hành
nhập khẩu hàng hoá.
3. 3. Vai trò của hoạt động nhập khẩu đối với nền kinh tế quốc dân.
Bất kì quốc gia nào cũng không thể tự sản xuất để đáp ứng một cách đầy
đủ mọi nhu cầu trong nước, đặc biệt trong xu thế ngày nay, đời sống nhân dân
ngày càng nâng cao, nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, thoát khỏi
nền kinh tế tự cung tự cấp, lạc hậu. Mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân
dựa rất nhiều về lợi thế so sánh, ở đó mỗi quốc gia sẽ đẩy mạnh sản xuất có
lợi thế để phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu đi các quốc gia khác.
Trong thực tế không có quốc gia nào là có lợi thế về tất cả các mặt hàng, các
lĩnh vực, sự bổ sung hàng hoá giữa các quốc gia đã đẩy mạnh hoạt động xuất
nhập khẩu. Những quốc gia phát triển thường xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu
rất nhiều và ngược lại những nước kém phát triển thì kim nghạch nhập khẩu
lớn hơn xuất khẩu.
Với Việt Nam, một quốc gia mới chuyển sang nền kinh tế thị trưường
gần 20 năm lại chịu nhiều hậu quả từ sự tàn phá chiến tranh. Do đó hoạt dộng
nhập khẩu đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình khôi phục nền kinh
5
tế và tiến tới quá trình CNH – HĐH đất nước. Cụ thể những vai trò những vai
trò được thể hiện rõ nét như sau:
+ Trước hết nhập khẩu sẽ bổ xung kịp thời những hàng hoá còn thiếu mà
trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất không đủ tiêu dùng làm cân
đối kinh tế, đảm bảo cho sự phát triển ổn định và bền vững, khai thác tối đa
khả năng và tiềm năng của nền kinh tế.
+ Nhập khẩu làm đa dạng hoá hàng tiêu dùng trong nước, phong phú chủng
loại hàng hoá, mở rộng khả năng tiêu dùng, nâng cao mức sống của người
dân.

kinh tế quốc dân chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước với cơ cấu tổ chức bộ
máy cồng kềnh, bị độc quyền, hoạt động theo tư tưởng quan liêu, tốc độ công
việc nhập khẩu diễn ra trì trệ kém hiệu quả hoạt động nhập khẩu phải trải qua
nhiều công đoạn đòi hỏi sự tham gia của nhiều cơ quan chức trách. Trong khi
trên khu vực và trên thế giới nền kinh tế đã phát triển mạnh mẽ, linh hoạt và
đem lại hiệu quả cao. Xu thế tất yếu ấy đã đòi hỏi Việt Nam phải thay đổi để
phù hợp với nền kinh tế trên thế giới, những tư tưởng lạc hậu ấy cần được cải
tiến và xoá bỏ thay thế vào đó là những cái mới tiến bộ hơn, linh hoạt hơn. Đó
chính là vận hành theo cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lí của nhà nước
theo định hướng XHCN.
Từ khi nền kinh tế thị trường thay thế nền kinh tế tự cung, tự cấp đã có
nhiều thay đổi tiến bộ theo hướng có lợi cho đất nước. Nền kinh tế đóng đã
hoàn toàn bị diệt vong thay thế vào đó là nền kinh tế mở, hợp tác, quan hệ
trên cơ sở cùng có lợi chuyển từ tư tưởng đối đầu sang đối thoại. Các chính
sách mở rộng nhập khẩu đã bước đầu phát huy được vai trò to lớn của nó, tạo
ra thị trường sôi động với khối lượng hàng hoá đa dạng, phong phú, tạo ra sự
cạnh tranh mạnh mẽ về hàng hoá không ngừng tăng lên về giá trị và chất
lượng, thu hút được sự tham gia của của các doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần theo đường lối của Đảng. Một lần nữa khẳng định vai trò của hoạt động
nhập khẩu. Để tiếp tục bước đi trên con đường đúng đắn đó và tiến thêm
những bước vững chắc hơn trong tương lai thì trách nhiệm không thuộc về
riêng ai, cần hơn ai hết sự lãnh đạo, chỉ đường và động viên của các cơ quan
chức trách, tinh thần học hỏi, lao động, nghiên cứu tìm tòi cố gắng hết mình
của từng doanh nghiệp, từng cán bộ công nhân viên hoạt động trong xuất
nhập khẩu nói chung và trong nhập khẩu nói riêng. Cụ thể sự cố gắng hết
mình đó phải được thể hiện trên các góc độ.
+ Thu hút và mở rộng sự tham gia của mọi thành phần kinh tế và hoạt
động ngoại thương nhưng dưới sự quản lí của nhà nước
7
+ Hoạt động kinh tế đối ngoại phải đảm bảo được nguyên tắc trong quan

8
các thông tin về thị trường chính xác kịp thời tuỳ từng yêu cầu về nghiệp vụ
mà có thể nghiên cứu thị trường chi tiết hoặc khái quát.
Nghiên cứu khái quát thị trường thực chất là nghiên cứu vĩ mô, nghiên
cứu những nét khái quát của thị trường còn nghiên cứu chi tiết thị trường,
thực chất là nghiên cứu đối tượng giao dịch và hàng hoá mà doanh nghiệp
kinh doanh.
Để có thị trường một cách đầy đủ và kịp thời, chuẩn bị tốt nhất trong
quá trình ra quyết định khi lựa chọn đối tác, giao dịch, đàm phán kí kết hợp
đồng một cách có hiệu quả, cần thiết phải nghiên cứu những nội dung sau.
1.1.1. Nghiên cứu thị trường trong nước.
* Nghiên cứu về hàng hoá nhập khẩu
Hàng hoá là đối tượng quan trọng của hoạt động kinh doanh quốc tế.
Khi đơn vị ngoại thương tiến hành hoạt động nhập khẩu thuộc đối tượng nào?
Việc lựa chọn hàng hoá phụ thuộc vào cung cầu trong nước. Nhập khẩu dù
không đủ đáp ứng nhu cầu trong nước song nó phải phù hợp với điều kiện và
mục tiêu, nhiệm vụ kinh doanh của doanh nghiệp. Nghiên cứu về mặt hàng
cần phải nghiên cứu trên những góc độ sau:
+ Nghiên cứu về nhu cầu trong nước, tình hình tiêu dùng, tình hình này
phụ thuộc vào tập quán, thói quen và thu nhập của người tiêu dùng.
+ Nghiên cứu về quy cách, phẩm chất, kiểu dáng, nhãn mác, thương
hiệu, … của sản phẩm.
+ Nghiên cứu xem sản phẩm đã xuất hiện trên thị trường được bao lâu,
đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống của sản phẩm? Từ đó đánh giá xem thị
hiếu tiêu dùng đang ở mức độ nào để đưa ra quyết định về số lượng nhập
khẩu tránh tình trạng hàng nhập tồn đọng và mất giá hoặc thiếu hụt. Có như
vậy mới nâng cao hiệu quả quy trình nhập khẩu cũng như kết quả kinh doanh.
+ Khi tiến hành nhập khẩu phải sử dụng đến ngoại tệ mà ngoại tệ thì
luôn luôn biến động, để đảm bảo hiệu quả về thị trường thì việc nghiên cứu tỉ
suất ngoại tệ hàng nhập khẩu là rất quan trọng. Doanh nghiệp phải xem xét tỉ

nhập khẩu của đơn vị ngoại thương
+ Dung lượng thị trường còn phụ thuộc vào sự vận dộng của vốn, đặc
điểm của sản xuất lưu thông và phương pháp của sản phẩm của từng thị
trường đối với mỗi loại hàng hoá.
+ Một số nhân tố khách quan như thời tiết, bị hạn hán, bão lụt, sự biến
động về khủng hoảng tài chính, mất giá tiền tệ, sự giảm sút của thương hiệu
hàng hoá.
10
Mỗi nhân tố có mức độ tác động khác nhau, cần có sự đánh giá đúng mức
ảnh hưởng của từng nhân tố đóng vai trò quyết định, nhân tố nào đóng vai trò
thứ yếu, từ đó đưa ra quyết định đúng đắn chính xác về nhu cầu thực của hàng
nhập khẩu đã lựa chọn.
1.1.2. Nghiên cứu thị trường quốc tế.
Nghiên cứu thị trường quốc tế phải bắt đầu từ việc nghiên cứu các
chính sách của chính phủ nước xuất khẩu, những chính sách đó là hạn chế
hay khuyến khích xuất khẩu từ đó đưa ra những thuận lợi cũng như khó khăn
đối với đơn vị ngoại thương khi tiến hành nhập khẩu hàng hoá, hoạt động này
cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp của tình hình chính trị, chế độ của nước xuất
khẩu. Bên cạnh đó nguồn hàng cung cấp sẽ tác động bởi vị trí địa lí của quốc
gia do quá trình vận chuyển sẽ đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh.
Mặt khác, trên thị trường quốc tế do chịu sự tác động của nhiều yếu tố
trên đã làm cho giá cả không ngừng biến đổi. Doanh nghiệp kinh doanh nhập
khẩu phải hiểu biết và kinh nghiệm để dự báo được xu thế biến động của quy
luật thị trường. Doanh nghiệp đánh giá trên nhiều thị trường khác nhau với
các nhà cung cấp khác nhau. Từ đó tiến hành so sánh và chọn ra nhà cung cấp
đem lại thuận lợi tối ưu nhất cho mình.
Để công tác nghiên cứu thị trường quốc tế đem lại hiệu quả cao, kết
quả nghiên cứu thực sự có ý nghĩa với doanh nghiệp không phải là việc dễ
dàng do đó cần tiến hành theo đúng trình tự, hệ thống một cách chặt chẽ và
phương pháp nghiên cứu mang tính chất khoa học cao.

Sau khi nghiên cứu thu thập các thông tin về thị trường một cách đầy
đủ, chính xác, người lập phương án kinh doanh sẽ đánh giá tổng quát tình
hình hiện tại của môi trường và thị trường, đồng thời phải dự đoán được
những biến động của thị trường trong tương lai, có như vậy mới tận dụng
được các cơ hội, kết hợp với việc xác định nhu cầu trong nước, khả năng cung
cấp giữa các đối tác và điểm mạnh yếu của các doanh nghiệp so với đối thủ
cạnh tranh từ đó lựa chọn thị trường và mặt hàng kinh doanh của doanh
nghiệp.
* Xác định mục tiêu.
Sau khi đã phân tích để lựa chọn thị trường và mặt hàng kinh doanh,
đơn vị ngoại thương phải xác định mục tiêu cụ thể của phương án kinh doanh
đặt ra cần đạt được đồng thời đây cũng là các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả
kinh tế của phương án kinh doanh. Các mục tiêu cụ thể là doanh thu lợi nhuận
và uy tín …
* Phác thảo các phương án kinh doanh:
12
Sau khi mục tiêu đã xác định, đơn vị kinh doanh sẽ tiến hành phác thảo
các phương án kinh doanh các mặt hàng đã lựa chọn trên thị trường mục tiêu.
Một phác thảo phương án kinh doanh cần phải :
+ Mô tả chi tiết tình hình kinh doanh trên thị trường mục tiêu, mô tả về
mặt hàng kinh doanh, đối tác dung lượng, giá cả vận chuyển, ngân hàng…
xác định đối tác và dự kiến mức giá mua, giá bán số lượng nhập khẩu và lợi
nhuận dự tính.
+ Xác định cách thức, tiến hành kinh doanh.
+ Dự toán các tình huống có thể xảy ra và phương pháp ứng xử.
+ các phương pháp kiểm tra và đánh giá kết quả.
* Lựa chọn phương án kinh doanh: Sau khi phương án kinh doanh được
phác thảo tiế hành lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu nhất, lựa chọn
phương án nào phải dựa trên cơ sở là hệ thống các chỉ tiêu như doanh thu, lợi
nhuận, tỉ suất lãi trên vốn, tỉ suất chi phí phát sinh, mức độ rủi ro, khả năng

Quy trình giao dịch:
2.1.1 Hỏi giá:
Đây là bước khởi đầu của giao dịch. Hỏi giá là việc người mua đề nghị
người bán cho biết giá cả và các điều kiện thương mại cần thiết khác để mua
hàng. Hỏi giá không dễ dàng bắt buộc trách nhiệm pháp lí của người hỏi giá.
Do đó người có thể gửi hỏi giá đi nhiều nơi tới các nhà cung cấp tiềm năng để
nhận được những baó giá, sau đó đánh giávà chọn ra báo giá tối ưu nhất.
2.1.2 Chào hàng.
Đây là một đề nghị kí kết hợp đồng mua bán hàng hoá được chuyển
cho một hay nhiều người xác định. Nội dung cơ bản của một chào hàng gồm
các điều kiện: Tên hàng, số lượng, quy cách, phẩm chất, giá cả, phương thức
thanh toán, địa điểm và thời hạn giao hàng, bao bì…
Chào hàng có thể do người mua và người bán đưa ra, người nhập khẩu
đưa ra lời chào hàng phải căn cứ gọi là chào mua hàng. Khi xác định chào
hàng, người chào hàng phải căn cứ vào các điều kiện cụ thể để cân nhắc các
vấn đề sao cho thích hợp nhất.
2.1.3 Đặt hàng
Đặt hàng là lời đề nghị kí kết hợp đồng thương mại của người mua, về
nguyên tắc hợp đồng của người đặt hàng phải đầy đủ các nội dung cần thiết
cho việc kí kết hợp đồng.
14
Hỏi giá
Chào hàng
Đặt hàng Hoàn giá
Xác nhận
Tuỳ vào mối quan hệ của nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu mà nội dung
đặt hàng có thể bị lược bỏ bớt và chỉ nêu những điều kiện riêng biệt đối với
mỗi mặt hàng nếu hai bên có quan hệ thường xuyên hoặc kí những hợp đồng
dài hạn.
2.1.4. Hoàn giá.

việc đàm phán diễn ra nhanh chóng ngay khi có vấn đề nảy sinh. Tuy nhiên
thời gian dành cho đàm phán không nhiều do cước phí fax và điện thoại quốc
tế rất đắt. Ngoài ra, đàm phán bằng điện thoại chỉ thoả thuận bằng miệng,
không có gì làm bằng chứng cho những thoả thuận quyết định trao đổi. Bởi
vậy điện thoại chỉ được dùng những trường hợp rất cần thiết, khẩn trương
hoặc trường hợp mà mọi điều kiện đã thoả thuận xong, chỉ còn chờ xác nhận
một số chi tiết.
+ Giao dịch, đàm phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp: Thực tế cho thấy,
do hai bên trực tiếp gặp nhau nên có thể trao đổi một số vấn đề liên đến hợp
đồng và dễ dàng đi đến thống nhất, thậm chí còn còn tạo điều kiện cho việc
hiểu biết nhau tốt hơn và duy trì được quan hệ tốt lâu dài với nhau. Tuy nhiện,
đây cũng là cũng là hình thức đàm phán khó khăn nhất trong hình thức đàm
phán, để đạt được kết quả tốt trong đàm phán thì đòi hỏi người đàm phán
phải nắm chắc nghiệp vụ và ngoại ngữ, có khả năng ứng sử nhạy bén, linh
hoạt trong mọi tình huống để có thể tỉnh táo, bình tĩnh nhận xét, nắm được ý
đồ, sách lược của đối phương, nhanh chóng có biện pháp đôúi phó kịp thời.
Hơn nữa chi phí cho việc gặp gỡ là hết sức tốn kém.
2.3. Kí kết hợp đồng nhập khẩu.
Hợp đồng nhập khẩu là sự thoả thuận giữa bên mua và bên bán ở nước
ngoài, trong đó quy định bên bán phải cung cấp hàng hoá, bên mua phải thanh
toán tiền và nhận hàng.
Theo điều 81 của luật thương mại Việt Nam, hợp đồng nhập khẩu có
đầy đủ khi có đầy đủ các điều kiện sau:
+ Chủ thể của hợp đồng là bên mua và bên bán phải có đủ tư cách pháp lí
+ Hàng hoá của hợp đồng là hàng hoá được phép mua, bán theo quy
định của pháp luật.
+ Hợp đồng mua bán quốc tế phải có nội dung chủ yếu mà pháp luật
quy định
+ Hình thức của hợp đồng chủ yếu là văn bản.
* Đặc điểm của hợp đồng nhập khẩu

+ Phạt và bồi thường thiệt hại
+ Tranh chấp và giải quyết tranh chấp
+ Bảo hành, khiếu nại.
+ Kiểm tra và giám định hàng hoá nhập khẩu
+ Trường hợp bất khả khách hàng
3. Quy trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu.
17
Sau khi hợp đồng nhập khẩu được kí kết, đơn vị kinh doanh xuất nhập
khẩu- với tư cách một bên kí kết – phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó. Đây là
công việc rất quan trọng và phức tạp, nó đòi hỏi phải tuân thủ luật quốc gia và
quốc tế, đồng thời phải đảm boả được quyền lợi của quốc gia và uy tín của
doanh nghiệp. Về mặt kinh doanh, trong quá trình thực hiện các khâu công
việc để thực hiện hợp đồng, đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu phải cố gắng
tiết kiệm chi phí lưu thông, nâng cao doanh lợi và hiệu quả toàn bộ hoạt động
giao dịch.
Để thực hiện hợp đồng nhập khẩu, đơn vị kinh doanh phải tiến hành
theo trình tự các công việc sau:
3.1 Xin giấy phép nhập khẩu.
Theo nghị định số 57/1998/ CP quy định các doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế được thành lập theo quy định pháp luật được phép xuất
nhập khẩu hàng hoá theo nghành nghề đã đăng kí theo giấy chứng nhận đăng
kí kinh doanh - điều này khẳng định quyền nhập khẩu hàng hoá theo nghành
nghề đã đăng kí của các doanh nghiệp được thành lập hợp pháp có giấy chứng
nhận đăng kí kinh doanh – với các hàng hoá không thuộc danh mục hàng hoá
cấm nhập khẩu có điều kiện thì doanh nghiệp có quyền nhập khẩu mà không
cần xin giấy phép nhập khẩu. Tuy nhiên, khi tiến hành nhập khẩu doanh
nghiệp phải đăng kí mã số kinh doanh xuất nhập khẩu tại cục hải quan tỉnh,
thành phố. Còn nếu loại hàng hoá mà doanh nghiệp cần nhập khẩu thuộc danh
mục hàng nhập có điều kiện thì doanh nghiệp phải xin hạn nghạch nhập khẩu
hoặc giấy phép nhập khẩu của Bộ thương mại hoặc bộ quản lí chuyên nghành.

+ Phương thức vận chuyển
Tên cảng đi, Tên cảng đến: cho phép/ không cho phép
+ Thời hạn giao hàng
+ Điều kiện đặc biệt về:
Phí phát sinh ngoài địa phận nước Việt Nam
Phí tu chỉnh L/C do bên bán hoặc bên mua chịu
+ Chỉ thị do ngân hàng về thanh toán lô hàng và cách thức gửi bộ
chứng từ thanh toán
+ Mức kí quỹ của đơn vị nhập khẩu
3.3. Thuê phương tiện vận tải
Trong trường hợp nhập khẩu FOB chúng ta phải tiến hành thuê tàu
dựa vào các căn cứ sau:
+ Những điều khoản của hợp đồng
+ Đặc điểm của hàng hoá mua bán
19
+ Điều kiện vận tải
Lựa chọn thuê tàu được căn cứ vào khối lượng và đặc điểm hàng hoá
chuyên trở sao cho thuận lợi nhất.
Thực tế điều kiện về tàu ở nước ta nay rất hạn chế, kinh nghiệm thuê
tàu nước ngoài chưa nhiều nên thông thường là nhập khẩu theo điều kiện
3.4 Mua bảo hiểm cho hàng nhập khẩu.
Trường hợp nhập khẩu theo điều kiện CFR thì đơn vị phải mua bảo
hiểm cho lô hàng đó. Số tiền bảo hiểm thường bằng 110% trị giá CIF của lô
hàng, các rủi được bảo hiểm phải khớp với quy định của thư tín dụng.
Hợp đồng bảo hiểm thư\ờng có hai loại chủ yếu: Hợp đồng bảo hiểm
chuyến và hợp đồng bảo hiểm bao
Hợp đồng bảo hiểm chuyến là hợp đồng bảo hiểm một chuyến từ một
địa điểm này đến một địa diểm khác đã ghi trong hợp đồng bảo hiểm. Người
bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm về hàng hoá trong phạm vi một chuyến khi
mua bảo hiểm chuyến, đơn vị ngoại thương phải gửi đến Công ty bảo hiểm

nại, đòi bbồi thường --- Hiệu lực của hợp đồng ---Xử lí tranh chấp
Các đơn vị ngoại thương Việt Nam thường bảo hiểm hàng nhập khẩu
theo hợp đồng bảo hiểm bao
3.5 Làm thủ tục hải quan
Chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày khi hàng nhập cảng, đơn vị ngoại
thương phải tiến hành làm thủ tục để thông quan xuất nhập khẩu
Bước1: Tự kê khai, áp mã, và tính thuế xuất nhập khẩu
Tự kê khai đầy đủ, chính xác những nội dung ghi trên tờ khai hải qua
mẫu HQ2002-XNK
Dựa vào căn cứ tính thuế đã khai và xác định mã số hàng hoá, thuế
suất, giá tính thuế theo quy định để tính toán số thuế phải nộp của từng loại
thuế theo quy định để tính toán số thuế phải nộp của từng loại thuế và từng
loạ hàng hoá
Bộ hồ sơ khai Hải quan gồm có các loại giấy tờ phải nộp hoặc xuất
trình khi làm thủ tục:
+ 01 bản sao giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh
+ 01 bản sao giấy chứng nhận đăng kí mã số doanh nghiệp kinh doanh
xuất nhập khẩu
+ 03 tờ khai hàng nhập khẩu
+ 01 bản sao hợp đồng mua bán.
21
01 bản chính và 02 bản sao hoá đơn thương mại.
+ 01 bản chính và 02 bản sao phiếu đóng gói
+ 01 đơn vận tải
+ Giấy phép xuất nhập khẩu
+ Giấy chứng nhận xuất xứ giấy chứng nhận phẩm chất, số lượng (bản
chính)
Bước 2: Nhân viên hải quan kiểm tra tờ khai hải quan và bộ hồ sơ, nếu
đầy đủ và hợp lệ theo từng loại hình xuất nhập khẩu thì cho đăng kí tờ khai.
Xem hồ sơ hàng hoá của mình được phân vào luồng nào( xanh - được

các đơn vị đặt hàng
3.7 Kiểm tra hàng nhập khẩu.
Hàng hoá nhập khẩu về qua cửa khẩu phải đưpợc kiểm tra. Mỗi cơ
quan tiến hành kiểm tra theo theo chức năng và quyền hạn của mình. Nếu
phát hiện thấy dấu hiệu không mua bình thường thì mời bên kiểm định đến
lập biên bản giám định có sự chứng kiến của bên bán và bên mua, hãng vận
tải, công ty bảo hiểm. Biên bản giám định phải có chữ kí của các bên và đây
là cơ sở bên mua khiếu nại, đòi bồi thường bên có liên quan.
3.8 Thanh toán tiền hàng nhập khẩu
Thanh toán là khâu quan trọng trong thương mại quốc tế. Do đặc điểm
buôn bán của người nước ngoài rất phức tạp nên thanh toán trong thương mại
quốc tế phải thận trọng, tránh để xảy ra tổn thất. Có nhiều phương thức thanh
toán khác nhau:
* Phương thức tín dụng chứng từ ( thanh toán bằng thư tín dụng) :
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận trong đó một ngân
hàng( ngân hàng mở L/C ) theo yêu cầu của khách hàng ( người nhập khẩu )
trả tiền cho người thứ ba hoặc cho bất cứ người nào theo yêu cầu của người
thứ ba đó, hoặc sẽ trả, chấp nhận, hay mua hối phiếu khi xuất trình đầy đủ đã
quy định mọi điều kiện đặt ra đều được thực hiện đầy đủ
* Phương thức chuyển tiền :
Là phương thức trong đó người mua (người nhập khẩu) yêu cầu ngân
hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho người xuất khẩu tại một địa
điểm nhất định.
3.9 Khiếu nại khi và giải quyết tranh chấp ( Nếu có ) :
Khi thực hiện hợp đồng nhập khẩu, nếu chủ hàng xuất nhập khẩu phát
hiện thấy hàng bị tổn thất, đổ vỡ, thiếu hụt, mất mát, thì lập hồ sơ khiếu nại.
Đối tượng khiếu nại ngay để khỏi bỏ lỡ thời hạn khiếu nại. Đối tượng khứu
nại có thể là người vận tải, Công ty bảo hiểm… Tuỳ theo tính chất tổn thất.
Bên nhập khẩu phải viết đơn khiếu nại và gửi cho bên bị khiếu nại và gửi cho
23

vào kinh doanh dược phẩm và dụng cụ y tế thông thường.
Đến năm 1994 tình hình tổ chức và quản lý của công ty đã đi vào hoạt
động rất hiệu quả, cùng với việc chớp lấy thời cơ phát triển mạnh mẽ của kinh
tế trong nước công ty đã xin cấp giấy phép bổ sung ngành nghề kinh doanh để
mở rộng hoạt động của mình với nội dung sau:
• Bổ sung ngành nghề kinh doanh: được Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp
ngày 12/5/1994 theo giấy phép này thì công ty có các chức năng sau: Kinh
25

Trích đoạn ĐÁNH GIÁ CHUNG ĐỊNH HƯỚNG CHO HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU CỦA CÔNG TY TRONG THỜI GIAN TỚ Đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường Đối với Nhà nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status