Hoàn thiện quy trình nhập khẩu nguyên liệu và thành phẩm tân dược tại Công ty TNHH Thăng Long. - Pdf 34

Giám đốc
Phòng
thị trường
Phòng
kinh doanh
Phòng
kế toán
Phòng
hành chính
Ban kinh doanh sâm Triều Tiên
Các
chi
nhánh
Các
đại

Các cửa
hàng
bán buôn
Các cửa hàng
bán lẻ
LỜI MỞ ĐẦU
Trong công cuộc đổi mới và mở cửa nền kinh tế của Đảng và nhà nước
ta những năm vừa qua đã đem lại cho nền kinh tế nói chung và các doanh
nghiệp dược nói riêng cơ hội to lớn để phát triển mạnh mẽ. Công ty TNHH
Thăng Long đã có những bước phát triển vượt bậc không những về chủng
loại, chất lượng sản phẩm mà cả về năng lực kinh doanh nhập khẩu đáp ứng
nhu cầu của nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập nền kinh tế quốc tế,
công ty đã đóng góp một phần không nhỏ của mình trong xu thế hội nhập đó.
Nền kinh tế Việt Nam có điểm xuất phát thấp, chiến tranh kéo dài đã để lại
cho nhân dân Việt Nam biết bao bệnh tật cộng với sự đói nghèo đã ảnh hưởng

2
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY TNHH THĂNG LONG
I. SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY TNHH THĂNG LONG
Trong những giai đoạn đầu nền kinh tế nước ta chuyển từ nền kinh tế
tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường, trong thời kỳ này để đáp ứng
nhu cầu phát triển của xã hội công ty mới được thành lập. Cũng trong thời
điểm đó công ty THHH Thăng Long được thành lập theo quyết định số 1149
ngày 25/9/1992 của UBND thành phố Hà Nội và giấy phép kinh doanh số
001153 ngày 5/10/1992 của trọng tài kinh tế Hà Nội, và được lấy tên là công
ty TNHH Thăng Long.
Người có công lớn trong việc thành lập công ty đó là dược sỹ Nghiêm
Thanh Sơn (chính là giám đốc cho đến nay) và bà Trần Minh Phú, hai người
này là hai sáng lập viên của công ty ngoài ra còn có bảy thành viên khác tham
gia cùng góp vốn. Các thành viên tham gia thành lập công ty họ đều là chủ
Nhà nước, họ có kinh nghiệm kinh doanh và hiểu biết thị trường nên họ tổ
chức bộ máy hoạt động kinh doanh rất gọn nhẹ nhưng rất hiệu quả đáp ứng
được nhu cầu thị trường khi đó. Bộ máy tổ chức đó gồm: Ban giám đốc có
một giám đốc và một phó giám đốc, các phòng chức năng gồm có 1 phòng
kinh doanh, 1 phòng tài vụ và 2 cửa hàng tại 31 Láng Hạ, và trụ sở chính của
công ty đóng tại 69 Tràng Thi Hà Nội. Với một số vốn đăng ký kinh doanh
ban đầu là 300.000.000 đồng, công ty đã phát huy thế mạnh sẵn có của mình
vào kinh doanh dược phẩm và dụng cụ y tế thông thường.
Đến năm 1994 tình hình tổ chức và quản lý của công ty đã đi vào hoạt
động rất hiệu quả, cùng với việc chớp lấy thời cơ phát triển mạnh mẽ của kinh
tế trong nước công ty đã xin cấp giấy phép bổ sung ngành nghề kinh doanh để
mở rộng hoạt động của mình với nội dung sau:
• Bổ sung ngành nghề kinh doanh: được Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp
ngày 12/5/1994 theo giấy phép này thì công ty có các chức năng sau: Kinh
doanh tư liệu sản xuất, buôn bán hàng tiêu dùng, kinh doanh sách sạn, mở các

Giám đốc: là người điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của
công ty, và chịu trách nhiệm trước hội đồng thành viên của công ty về việc
thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Giám đốc có các chức năng chính sau:
• Chịu trách nhiệm về tổ chức nhân sự: bổ nhiệm bãi, miễn nhiệm, cắt
chức các chức danh quản lý trong công ty theo đúng luật hoạt động của công
ty.
• Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và kế hoạch đầu tư của công
ty và chịu trách nhiệm chung về tình hình kinh doanh đó, giám đốc chỉ đạo
trực tiếp phó giám đốc, và các trưởng phòng: kế toán, kinh doanh, thị trường,
hành chính.
• Ban hành quy chế quản lý nội bộ công ty
• Ký kết các hợp đồng nhân danh công ty, tuyển lao động
Phòng kinh doanh: Đây là phòng chức năng quan trọng nhất của công
ty nó có các nhiệm vụ chính cụ thể sau:
• Chịu trách nhiệm về hoạt động và phát triển kinh doanh của công ty
• Kết hợp với phòng thị trường để tìm hiểu nhu cầu thị trường từ đó lập
kế hoạch kinh doanh, báo cáo giám đốc.
• Thực hiện nhập khẩu mua bán hàng hóa
• Phối hợp với phòng kế toán để sử dụng vốn một cách hiệu quả nhất,
và theo dõi kế toán quản trị để điều khiển kinh doanh cho hợp lý.
Phòng kế toán: Là cơ quan tham mưu và tổ chức thực hiện các nghiệp
vụ về kế toán, tài chính cho giám đốc, kiểm soát và chịu trách nhiệm về toàn
bộ các hoạt động của công ty về lĩnh vực tài chính của doanh nghiệp. Các
chức năng chính của phòng kế toán.
• Chịu trách nhiệm về hạch toán kế toán kịp đầy đủ, kịp thời và chính
xác.
• Phân tích tình hình hoạt động tài chính báo cáo giám đốc, phối hợp
với phòng kinh doanh và các phòng ban khác để đảm bảo cho việc kinh doanh
hợp lý và hiệu quả.
• Thực hiện duy trì chế độ tài chính của toàn công ty

1
Tổng nguyên giá
TSCĐ
Trong đó:
• Máy móc thiết bị
• Phương tiện vận tải
• Thiết bị chuyên dùng
• Tài sản cố định khác
565.464.000 768.945.000 1.242.564.000
73.211.000 85.665.000 97.886.000
215.227.000 215.227.000 433.287.000
241.340.000 405.497.000 642.942.000
35.686.000 62.556.000 68.449.000
2 Giá trị khấu hao 186.603.120 271.187.070 407.869.110
3 Giá trị còn lại 378.860.880 497.757.930 834.694.890
Nguồn: Phòng Kế toán của Công ty
Tài sản cố định là cơ sở vật chất kỹ thuật đảm bảo cho sản xuất kinh
doanh, nó chính là máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, các thiết bị chuyên
dùng đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hoạt động một
cách hiệu quả hơn. Trong năm 2004 nguyên giá tài sản cố định là 768.945.000
tăng 36% so với năm 2003, năm 2005 là 1.242.564.000 tăng 61,6% so với
năm 2004.
Nguyên nhân chính là từ năm 2003 đến năm 2005 công ty có mua một
số thiết bị máy móc phục vụ cho việc đóng gói sản phẩm, và mua một xe tải
phục vụ cho vận chuyển hàng hóa. Đây là việc làm rất cần thiết để đảm bảo
cho công ty chủ động hơn trong việc kinh doanh. Tuy nhiên nó cũng ảnh
hưởng đến một phần vốn kinh doanh của công ty.
Khấu hao tài sản cố định được tính là chi phí kinh doanh, nó ảnh hưởng
đến lợi nhuận trong ngắn hạn và dài hạn. Năm 2003 khấu hao tài sản cố định
chiếm 12,72% chi phí, năm 2004 chiếm 18,16% chi phí, năm 2005 chiếm

1.645.650.00
0
1.821.760.000
3 Tài sản cố định 378.860.880 497.757.930 834.694.890
4 Tài sản lưu động 4.127.986.55
0
4.568.995.70
0
4.321.588.620
5 Các khoản phải thu 2.175.662.00
0
1.938.557.60
0
2.244.575.680
6 Các khoản phải trả:
• Nợ ngắn hạn
• Nợ dài hạn
5.450.009.43
0
5.359.661.23
0
5.579.099.191
5.450.009.43
0
5.359.661.23
0
5.579.099.191
- - -
Tổng tài sản: 1.232.500.00
0

dùng) cho nên việc kinh doanh nó có những quy định khắt khe hơn so với các
mặt hàng thường khác.
Cụ thể là:
- Đối với mặt hàng thuốc: là mặt hàng chủ yếu nhập từ nước ngoài,
muốn nhập khẩu phải có giấy phép do cục quản lý bộ y tế cấp hoặc 100%
nhập khẩu phải nhập khẩu ủy thác qua cơ quan Nhà nước được nhập khẩu.
Giấy phép nhập khẩu được chia ra làm hai loại là:
+ Xin visa: Là loại giấy phép do cục quản lý bộ y tế cấp đối với các
loại thuốc mà trong đó hạn chế về thời gian nhập khẩu mà không hạn chế khối
lượng nhập khẩu.
+ Giấy phép theo đơn hàng: Là loại giấy phép kèm theo đó doanh
nghiệp phải lập đơn có số lượng cụ thể đẻ cục cấp giấy phép nhập theo đơn
hàng. Theo loại này doanh nghiệp bị hạn chế về số lượng nhưng không đề cập
đến vấn đề thời gian.
- Đối với các sản phẩm sâm: Đây là loại hàng mới trên thị trường Việt
Nam nên nó có các đặc điểm sau:
+Tính cạnh tranh của sản phẩm này trên thị trường trong nước không
cao.
+ Có rất ít doanh nghiệp trong nước kinh doanh sản phẩm này
+ Sự hiểu biết của nhân dân về sản phẩm này chưa cao.
+ Là một sản phẩm mới nên các sản phẩm sâm bị tranh chấp về quy
định nó là hàng tiêu dùng hay dược phẩm.
2. Thị trường nhập khẩu (các nước bán)
Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta đã đạt những thành tựu
đáng kể, thu nhập bình quân tính theo đầu người tăng đời sống nhân dân đi
vào ổn định. Tuy nhiên nhu cầu tiêu dùng của nhân dân về các sản phẩm dược
phẩm còn chưa cao, thị trường tiêu thụ trong nước bị bó hẹp. Điều này làm
cho doanh nghiệp phải hướng thị trường nhập khẩu vào các thị trường truyền
thống, thị trường nhập khẩu chính của công ty hiện nay là Nam Triều Tiên,
Đông Âu…

quan hệ thêm với nhiều nước như: Ấn Độ, Hàn Quốc, Đức làm cho tổng kim
ngạch đã đạt tới 2750280 nghìn đồng. Mặt khác tỷ lệ kim ngạch nhập khẩu
cũng có sự thay đổi giữa các nước qua các năm, công ty tham gia ngoại
thương với Hàn Quốc là chủ yếu. Do nhu cầu của thị trường trong nước có sự
biến đổi công ty đã chuyển dần thế mạnh từ kinh doanh dược phẩm sang kinh
doanh hàng tiêu dùng, nhất là mặt hàng sâm của Hàn Quốc công ty đã mở
rộng quan hệ với hãng samsung, pagin, kolon. Điều này chứng tỏ sự linh hoạt
trong chính sách thị trường của công ty và đã giúp công ty đạt được những
thành công đáng kể, kinh doanh ngày một hiệu quả hơn. Trên đây chúng ta
chỉ thấy được tình hình buôn bán chung của công ty với các nước mà chúng ta
chưa thấy được thành phần kim ngạch nhập khẩu của các hãng, để hiểu được
điều này chúng ta xem xét bảng sau:
Bảng tổng hợp tình hình nhập khẩu theo đối tác cung cấp
Đơn vị tính: nghìn đồng
TT Nhà cung cấp 2001 2002 2003 2004 2005
1 Roche (Pháp) 1128000 1048000 1152800 1268080 1366277
2 UPSA (Pháp) 5694000 652000 782400 821520 1100220
3 Rousel-morishta
(Nhật)
3175200 3280000 2624000 3148800 4121211
4 Vipharco (Pháp) 103800
5 Caba-geigi (Thụy Sỹ) 1275600 2121550 2970170 861980 850712
6 H.dong (Hàn Quốc) 1757220 2635830 2984580 4115266
7 Samsung (HQ) 1588000 1905600 2096160 2513444
8 Deeparma (Án Độ) 1885000 2073500 2177175 2687231
9 Pagin (Hàn Quốc) 546386 4749891 9237370
10 Kolon (Hàn Quốc) 667344 567242 835266
11 Greencroos (HQ) 556120 611732 934721
12 Rotex (Đức) 286550 429810 499222
13 Siniphar (HQ) 278000 521334

4 Hàn Quốc 27,13 38,96 56,06 65,01
5 Ấn độ 15,29 12,80 10,55 5,78
6 Đức 1,77 3,81 4,22

625200
0
100 100 100 100
Nguồn: Phòng kinh doanh Công ty
Đồng thời với việc mở rộng quan hệ ngoại thương với nhiều hãng trên
nhiều nước khác nhau thì công ty cũng còn chú trọng đến các mặt hàng sản
xuất nội địa. Mục tiêu của công ty là đa dạng hóa các mặt hàng nhằm thích
nghi với sự thay đổi linh hoạt của thị trường.
II. QUY TRÌNH HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU CỦA CÔNG TY
1. Nghiên cứu về sản phẩm
14
Để đáp ứng được sự biến động linh hoạt của thị trường công ty đã
thành lập phòng nghiên cứu thị trường nhằm định hướng chiến lược sản phẩm
của công ty trong năm kế hoạch (ví dụ như: Thu nhập, tình hình phát triển sức
khỏe của nhân dân, các chính sách của Nhà nước trong những năm tới…) để
xây dựng nhóm sản phẩm mà doanh nghiệp sẽ tập trung khai thác. Từ những
căn cứ trên mà doanh nghiệp nghiên cứu thị trường thế giới để chọn các sản
phẩm cụ thể: sản phẩm này có tác dụng như thế nào? sản phẩm ở vùng giá
nào? và đi đến chọn sản phẩm cuối cùng để nhập khẩu, và căn cứ vào các giao
dịch để chọn hãng sẽ cung cấp sản phẩm.
Các nhân tố tác động đến sản phẩm
- Đối với dược phẩm: các sản phẩm có tuổi thọ nhất định, tuổi thọ ở
đây không phải là thời hạn sử dụng mà là thời gian sản phẩm được xác định là
có tác dụng, chưa có sản phẩm nào thay thế tốt hơn.
Nhà nước luôn luôn định hướng chăm sóc về sức khỏe nhân dân cho
nên Nhà nước giao cho cơ quan chủ quản định hướng chi tiết các nhóm sản

hiệu của bên bán
- Công ty gửi thư mời đại diện của hãng mà mình sẽ quan hệ buôn bán
sang Việt Nam để trực tiếp đàm phán.
Phương thức giao dịch bằng thương mại điện tử là việc công ty gửi thư
điện tử để trực tiếp đàm phán. Hình thức này công ty chỉ áp dụng đối với các
bạn hàng đã quan hệ mua bán nhiều lần.
5. Các bước đàm phán và thực hiện hợp đồng mà công ty thường áp
dụng
a. Các bước đàm phán
Các bước đàm phán trong quá trình mua bán quốc tế theo lý thuyết thì
các bên phải tuân thủ theo đúng như đã định. Nhưng công ty đã linh hoạt sử
dụng các bước đàm phán sau:
- Bên mua (công ty) đưa ra các yêu cầu về sản phẩm.
16

Trích đoạn Củng cố, phát triển vốn và sản phẩm vốn hợp lý Đối với công ty
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status