LUẬN VĂN: Đôla hoá và những yếu tố tích cực cũng như tiêu cực của nó trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước - Pdf 11

LUẬN VĂN:

Đôla hoá và những yếu tố tích
cực cũng như tiêu cực của nó
trong phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước
A. Phần mở đầu

rong thời gian gần đây, xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra
nhiều cơ hội cho tất cả các nền kinh tế có đẫyđủ các điều kiện để tiếp cận với nhau,

Theo quan điểm của các nhà kinh tế hiện đại thì tiền tệ có 3 chức năng : phương tiện
trao đổi, đơn vị tính toán giá trị và phương tiện tích luỹ giá trị. Vì vậy khi ta nói nền
kinh tế bị đô la hoá có nghĩa là người cư trú của nước đó sử dụng ngoại tệ (không chỉ
đồng đô la Mỹ) thay cho đồng bản tệ trong việc dự trữ, thanh toán hay tính toán,
định giá hàng hoá.
Mỗi quốc gia, Nhà nước đều phát hành đồng tiền riêng của mình để nắm giữ quyền
quản lý lưu thông tiền tệ trong phạm vi đất nước đó. Tuy nhiên, cùng với xu hướng
toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, hàng hoá được sản xuất tại một nước có thể được
dân chúng ở các nước khác sử dụng và vì thế cần có sự trao đổi về tiền tệ giữa các
quốc gia, các tổ chức kinh tế cũng như dân chúng. Hiện tượng người dân của nước
này sử dụng đồng tiền của nước khác được coi là một hiện tượng kinh tế khách quan
ở các nước chuyển đổi nền kinh tế sang kinh tế thị trường, mở cửa nền kinh tế để ra
nhập nền kinh tế thế giới.
Trong hầu hết các hoạt động thương mại, tài chính, dự trữ trên thế giới hiện nay,
đồng USD là đồng tiền được ưa chuộng và sử dụng nhiều nhất nên thuật ngữ “đô la
hoá” đã ra đời và về bản chất nó được coi là đồng nghĩa với “ngoại tệ hoá”. Hiện
tượng các nước không sử dụng đồng bản tệ của nước mình trong các chức năng của
tiền tệ được coi là hiện tượng đô la hoá như trường hợp một số nước sử dụng đồng
Rand của Nam Phi hay một số nước Châu Âu sử dụng đồng EURO.
Những phân tích trên đây cho thấy đô la hoá vừa là hiện tượng cạnh tranh giữa các
đồng tiền về vị thế và vai trò của nó trong thanh toán và dự trữ quốc tế, vừa là một
dấu hiệu cho sự phát triển kinh tế quốc tế, vừa mang tính chất tiền tệ, vừa mang tính
lịch sử. Ngoài ra, hiện tượng đô la hoá toàn phần cũng có thể được xem là một loại
hình cơ chế tỷ giá hay là một sự thống nhất về tiền tệ. Vì vậy, để hiểu rõ hiện tượng
đô la hoá, chúng ta cần xem xét thêm các hình thái đô la hoá, biểu hiện, nguyên nhân
và bản chất của từng loại
đô la hoá
Là sự tồn tại đan xen cả hai hình thức đô la hoá chính thức và đô la hoá
không chính thức.
Một thực tế được quan sát thấy tại hầu hết các nước đang phát triển và các
nước có nền kinh tế chuyển đổi mới sang cơ chế thị trường đều có hiện tượng đô la
hoá mang tính chất của cả hai loại đô la hoá nêu trên. Nhiều quốc gia cho phép người
cư trú được mở tài khoản ngoại tệ tại các ngân hàng trong nước và sử dụng đô la để
niêm yết, thanh toán. Vì vậy, dù nhiều hay ít thì các tổ chức và cá nhân đều sử dụng
đô la với chức năng dự trữ giá trị và phương tiện thanh toán. Mặt khác, quy chế quản
lý ngoại hối của các nước này thường hạn chế việc sử dụng ngoại tệ trong hầu hết các
giao dịch giữa người cư trú với nhau nhưng do nhiều lý do mà hiện tượng này vẫn
xảy ra bất chấp những quy định chặt chẽ của Nhà nước và tạo ra hiện tượng đô la
hoá không chính thức.
Đi kèm với hiện tượng đô la hoá bán chính thức là sự tồn tại song song hai
thị trường: ngoại hối chính thức và phi chính thức. Hoạt động của hai thị trường này
như bình thông nhau, đôi lúc lấn át nhau tuỳ thuộc vào mức độ và bản chất đô la hoá
của nước đó.
2.2) Đô la hoá một phần và đô la hoá toàn phần
a. Đô la hoá toàn phần
Là ngoại tệ được sử dụng trong toàn bộ nền kinh tế như là đồng tiền pháp
định duy nhất (hoặc đồng bản tệ chỉ chiếm một tỷ lệ không đáng kể) và được pháp
luật cho phép. Chính vì vậy, đô la hoá toàn phần luôn luôn là đô la chính thức.
b. Đô la hoá một phần
Là việc ngoại tệ được sử dụng trong một phạm vi nào đó của nền kinh tế.
Đô la hoá một phần có thể là đô la hoá chính thức hoặc không chính thức.
Hiện tượng đô la hoá một phần và không chính thức thường phản ánh
mong ước của người dân muốn đa dạng hoá tài sản để đảm bảo tài sản của họ không
bị mất giá trị do sự giảm giá của đồng bản tệ trong bối cảnh nền kinh tế bất ổn định
và mức lạm phát cao.

tính đến khả năng mất giá của đồng bản tệ ). Ngược lại với các nước áp dụng chính
sách quản lý ngoại hối chặt, kinh tế đóng hoặc mở cửa thấp thì ngay cả khi đồng
ngoại tệ hấp dẫn hơn nhưng mức độ đô la hoá thay thế tài sản vẫn hạn chế.
b.Đô la hoá thay thế thanh toán
Là việc người cư trú sử dụng ngoại tệ thay cho nội tệ trong phương tiện
thanh toán và đơn vị tính toán. Đô la hoá thay thế thanh toán và đô la hoá thay thế tài
sản có quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau. Đô la hoá thay thế tài sản là
tiền đề của đo la hoá thanh toán nhưng nó có thể tồn tại độc lập với đôla hoá thay thế
thanh toán. Đô la hoá thay thế thanh toán là yếu tố kích thích đô la hoá thay thế tài
sản phát triển nhưng nó không thể tồn tại độc lập không đi kèm với đô la hoá thay thế
tài sản.
Một đồng tiền mạnh được lựa chọn là đồng tiền thay thế chức năng thanh
toán là đồng tiền của một quốc gia mà quốc gia đó có thể sản xuất ra nhiều loại hàng
hoá được người tiêu dùng của quốc gia đó và của quốc gia khác ưa chuộng. Ngoài
một số đồng tiền chủ chốt trên thế giới, các chủ thể kinh tế có thể vẫn nắm giữ các
đồng tiền không phải là đồng tiền mạnh, có lãi suất không cao nhưng có thể dễ dàng
thanh toán cho hàng hoá và dịch vụ mà họ cần. Điều này thường xảy ra ở những khu
vực biên giới của một quốc gia tiếp giáp với một quốc gia khác mà hàng hoá do nước
đó sản xuất ra được ưa chuộng hơn.
Cũng giống như phân tích ở trên, quy mô còn phụ thuộc vào các quy
định về quản lý ngoại hối, khả năng giám sát việc thực thi các chính sách về quản lý
ngoại hối, khả năng thanh toán nhanh chóng, tiện lợi của hệ thống ngân hàng, mức độ
hội nhập nền kinh tế thế giới. Tại một nước, có nền kinh tế mở, chính sách quản lý
ngoại hối tự do cho phép dân chúng được thanh toán bằng ngoại tệ hoặc việc giám
sát việc thực thi các văn bản về quản lý hối phiếu, thanh toán qua hệ thống ngân hàng
không thuận lợi, thì quy mô sẽ tăng khi có biến động tỷ giá hoặc môi trường kinh té
vĩ mô không ổn định. Ngược lại với các nước áp dụng chính sách quản lý ngoại hối

phương tiện thanh toán lớn hơn 30% thì nền kinh tế đó được coi là bị đô la hoá cao.
Các chuyên gia của IMF cho rằng nếu tỷ lệ tiền gửi bằng ngoại tệ so với lượng
tiền cung ứng M2 lớn hơn 30% thì có nghĩa là hiện tượng đô la hoá đã có tác động ở
một mức độ nào đó đến chính sách tiền tệ của một quốc gia và cần được các nhà
hoạch định chính sách lưu ý. Tuy nhiên, các chuyên gia cũng thừa nhận là cụm từ “ở
một mức nào đó” cũng chưa rõ ràng do ở nhiều nước có tỷ lệ đô la hoá cao hơn
nhưng chính sách tiền tệ vẫn tỏ ra vững vàng.
Để đánh giá mức độ ưa chuộng loại tiền trong chức năng thay thế tài sản,
người ta thường quan sát tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên tổng số tiền gửi của các chủ thể
kinh tế tại ngân hàng. Phương pháp này tuy đơn giản nhưng không chính xác đối với
những có tỷ lệ sử dụng tiền mặt cao,việc tính toán lượng tiền mặt do các chủ thể kinh
tế nắm giữ để dự trữ giá trị và để thanh toán chiếm tỷ trọng lớn.
Đối với các nước đang phát triển, mặc dù khó có thể lượng hoá được ngoại tệ
được sử dụng như thế nào trong chức năng thanh toán, cất trữ tiền mặt hay định giá
nhưng các nhà kinh tế cũng cho rằng để đánh giá mức đô la hoá thực tế của các nước
này, cần phải lượng hoá được khối lượng tiền mặt ngoại tệ trôi nổi trên thị trường
ngoại tệ phi chính thức hay còn gọi là thị trường ngoại hối phi chính thức và các đặc
trưng của thị trường này để thấy được vai trò của thị trường này so với thi trường
chính thức và thấy được các chức năng thay thế thanh toán, tính toán giá trị của đồng
ngoại tệ.
Do vậy, ngoài tiêu thức tiền gửi ngoại tệ trên tổng phương tiện thanh toán cao
hơn 30%, có thể đưa ra một số dấu hiệu bổ trợ khi nhận dạng một nền kinh tế được
coi là bị đô la hoá cao như:
 Số ngoại tệ trôi nổi ngoài lưu thông là tương đối lớn so với tổng phương
tiện thanh toán
 Hiện tượng định giá bằng ngoại tệ và thanh toán bằng ngoại tệ diễn ra
phổ biến

của một đồng tiền còn phụ thuộc vào sức mạnh chính trị của quốc gia phát hành ra
nó. Điều này được minh chứng rõ ràng nhất là vai trò của đồng JPY và USD trong
những thập kỷ 60, 70. Lúc này xét về mặt kinh tế thì Nhật Bản có nhiều triển vọng
hơn Mỹ nhưng đồng JPY thì còn lâu mới có thể ganh đua với USD trên thị trường
ngoại hối quốc tế, vì Nhật còn quá phụ thuộc vào Mỹ về vấn đề chính trị và quân sự.
Sự phụ thuộc chính trị vào Mỹ (hay nước phát hành đồng ngoại tệ) cũng là một trong
những nhân tố thúc đẩy nhanh quá trình đô la hoá của một quốc gia thành đô la hoá
toàn phần. Đây chính là trường hợp của Panama và gần đây là Ecuado
c. Đồng tiền bản tệ chưa tự do chuyển đổi
Khi ở một nước, đồng tiền bản tệ chưa được tự do chuyển đổi, đặc biệt là tự
do chuyển đổi cán cân vãng lai thì đồng tiền bản tệ trở nên kém hấp dẫn so với ngoại
tệ và cất trữ ngoại tệ sẽ xẩy ra với lý do khó có thể mua lại trong tương lai do cung
ngoại tệ chưa đáp ứng cầu ngoại tệ và kết quả là đồng ngoại tệ sẽ lấn át đồng bản tệ
trong chức năng cất trữ và hiện tượng đô la hoá sẽ tồn tai như một hiện tượng kinh tế
khách quan.

d. Lạm phát cao và kéo dài
Trong những nền kinh tế của các nước kém phát triển, giá trị đồng bản tệ
có xu hướng giảm giá so với USD và các đồng tiền mạnh khác trên thế giới thì trong
ba chức năng của tiền tệ, chức năng dự trữ giá trị của tiền tệ luôn được xem xét đầu
tiên khi quyết định danh mục đầu tư tài sản tài chính. Một nền kinh tế mở với các
chính sách ngoại hối cho phép dân chúng được phép mua bán và cất trữ ngoại tệ, khi
có tỷ lệ lạm phát cao, kéo dài đặc biệt là do nhà nước phát hành quá nhiều tiền giấy
để khắc phục thâm hụt ngân sách, giá cả hàng hoá và dịch vụ tăng cao, đồng nội tệ bị
mất giá, sức mua giảm sút thì dân chúng sẽ không dự trữ bằng đồng bản tệ mà
thường đầu tư bằng ngoại tệ mạnh để đảm bảo giá trị tài sản của họ.
e. Yếu tố tâm lý

khả năng thanh toán quốc tế (hệ số rủi ro của đồng bản tệ so với USD).
Thông thường, các quốc gia bị đô la hoá là những nước có nền kinh tế không
mạnh với năng suất lao động thấp hơn các nền kinh tế phát triển như Mỹ. Và các
nước này luôn gặp phải một tình thế tiến thoái lưỡng nan là: Nếu nâng cao lãi suất
đồng nội tệ thì nền kinh tế không chịu nổi do năng suất lao động thấp, nhưng nếu hạ
thấp lãI suất để kích thích phát triển kinh tế thì lại làm gia tăng tình trạng đô la hoá
b. Chính sách quản lý ngoại hối lỏng
Chính sách về quản lý ngoại hối ở các nước cho phép dân chúng được cất trữ,
nhận, thanh toán, gửi rút ra bằng ngoại tệ một cách tự do sẽ góp phần làm gia tăng
mức đô đô la hoá. Cụ thể, ở các nước có chính sách ngoại hối cho phép các doanh
nghiệp được nhân ngoại tệ quá rộng rãi, cho phép các ngân hàng mở các bàn thu đổi
ngoại tệ tràn lan, hay các chính sách kiều hối cho phép dân chúng nhận , gửi, rút ra
bằng ngoại tệ một cách dễ dàng thì ở nước đó các chính sách nêu trên sẽ làm thuận
tiện việc thanh toán,cất trữ ngoại tệ của dân chúng và các tổ chức kinh tế, góp phần
làm phát triển thị trưòng ngoại hối phi chính thức và tạo điều kiện thuận lợi cho hiên
tượng đô la hoá gia tăng. Đặc biệt khi các chính sách quản lý ngoại hối nêu trên
không được kiểm soát để thực thi đúng quy định, hiện tượng lạm dụng các giấy phép
thu đổi ngoại tệ để kinh doanh ngoại tệ trên thị trường sẽ xảy ra, tạo điều kiện phát
triển thị trường đô la hoá phi chính thức. c. Hệ thống thanh toán ngân hàng kém phát triển
Tại một số nước, thanh toán bằng đồng bản tệ đôi khi còn gặp khó khăn do hệ
thống ngân hàng kém phát triển, hoạt động thanh toán chủ yếu được thực hiện bằng
tiền mặt và với các nước có mệnh giá nhỏ thì hoạt động thanh toán tiền mặt bằng
ngoại tệ sẽ phát triển làm gia tăng hiện tượng đô la hoá thay thế thanh toán.
Ngoài ra hoạt động buôn lậu, mua bán bất hợp pháp cũng là một trong những
nguyên nhân quan trọng tao điều kiện cho thị trường ngoại hối bất hợp pháp phát
triển, làm trầm trọng thêm tình trạng đô la hoá.
IV- Các tác động của đô la hoá

 Mức độ mở cửa lớn hơn, minh bạch hơn.Các nước thực hiện đô la hoá chính
thức có thể loại bỏ rủi ro cán cân thanh toán và những kiểm soát mua ngoại tệ,
khuyến khích tự do thương mại và đầu tư quốc tế. Đặc biệt là khi một nền kinh tế bị
đô la hoá hoàn toàn thì NHTW sẽ không còn khả năng phát hành nhiều tiền và gây
lạm phát, đồng thời NSNN sẽ không trông chờ vào nguồn phát hành này để trang trải
thâm hụt, kỷ luật về tiền tệ và ngân sách được thắt chặt. Do vậy, các chương trình
ngân sách sẽ mang tính tích cực hơn.
2) Tác động tiêu cực
a. Xét về góc độ tài chính
Đô la hoá làm yếu kém hoạt động và hiệu quả chính sách tài chính. Nó hạ thấp
doanh thu từ phát hành tiền và làm trầm trọng hơn tác động lạm phát từ việc tài trợ
thâm hụt ngân sách thông qua hệ thống ngân hàng ( ở Achentina những năm sau khi
tiến hành đô la hoá, doanh thu từ phát hành tiền giảm 0,3% GDP ). Đô la hoá cho
phép một bộ phận nhất định các hoạt động kinh tế trốn thuế. Đô la hoá làm yếu kém
hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp vì nó đã góp phần làm
chệch hướng sản xuất sang thị trường không chính thức.
b. Xét về góc độ tiền tệ
Đô la hoá làm giảm hiệu quả kiểm soát tiền tệ. Đô la hoá không chính thức có thể
khiến cho cầu về nội tệ không ổn định. Nếu mọi người bất ngờ chuyển sang ngoại tệ
có thể làm cho đồng nội tệ mất giá và bắt đầu một chu kỳ lạm phát. Khi người dân
giữ một khối lượng lớn tiền gửi bằng ngoại tệ, những thay đổi về lãi suất trong nước
hay nước ngoài có thể gây ra sự dịch chuyển lớn từ đòng tiền này sang đồng tiền
khác. Những thay đổi này sẽ gây khó khăn cho NHTW trong việc đặt mục tiêu cung
tiền trong nước và có thể gây ra những bất ổn định trong hệ thống ngân hàng.
Trong trường hợp đô la hoá chính thức, chính sách tiền tệ và chính sách lãi suất của
đồng tiền lúc này sẽ được quyết định ở Mỹ , trong khi một nước đang phát triển và
một nước công nhiệp phát triển như Mỹ không có những chu kỳ tăng tăng trưởng

một bất lợi khác đối với các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu. Không có khả năng phá
giá tiền tệ, các nhà kinh doanh mất đi một công cụ để thâm nhập, chiếm lĩnh hay làm
chủ thị trường. Thêm vào đó, với tư cách là một bộ phận của nền kinh tế, người kinh
doanh xuất nhập khẩu không thể thoát ly khỏi nền kinh tế quốc gia để có thể không
chịu những ảnh hưởng tiêu cực của nền kinh tế đó. Đồng thời do đặc thù của hoạt
động xuất nhập khẩu, người kinh doanh xuất nhập khẩu không chỉ bị tác động của
nền kinh tế trong nước mà cả nền kinh tế của các quốc gia khác một cách trực
tiếp.Việc nhất thể hoá đồng tiền một cách tự phát như trường hợp đô la hoá khiến các
quốc gia đô la hoá khó có thể có một cơ chế đủ mạnh để hỗ trợ lẫn nhau những lúc
khó khăn, nhưng lại khiến các biến động tiêu cực ở từng quốc gia có ảnh hưởng trực
tiếp đến các quốc gia khác trong cùng một khu vực tiền tệ. Điều này đặt các nhà kinh
doanh xuất nhập khẩu, cũng như những người kinh doanh tài chính tiền tệ ở các quốc
gia này dưới những tác động kép ở cả ngay trong nước lẫn nước ngoài.
Như vậy ta có thể thấy, đô la hoá chỉ mang lại lợi ích cho các quốc gia có sự hội nhập
toàn diện với Hoa Kỳ về thương mại và tài chính, có nghĩa là những nước có cơ cấu
kinh tế giống Hoa Kỳ, chu kỳ kinh tế khớp với chu kỳ kinh tế của Hoa Kỳ với tỷ lệ
lạm phát và lãi suất ở mức tương đương. Bên cạnh đó, các quốc gia này phải có quan
hệ mật thiết về thương mại, đầu tư với Hoa Kỳ thì mới có thể khai thác tối đa những
lợi ích của đô la hoá và nhờ vậy mà có thể bỏ qua những ảnh hưởng tiêu cực của nó,
cũng như những rủi ro mà nó mang lại.
Riêng đối với các quốc gia hiện đang bị đô la hoá không chính thức, không nên nghĩ
đén việc đô la hoá toàn bộ nền kinh tế mà nên chăng tìm phương pháp đối phó với đô
la hoá trước khi quá muộn. Ta có thể thấy rằng đại bộ phận những nền kinh tế quan
tâm đến vấn đề đô la hoá trong thời gian gần đây đều là những nước đã để đô la hoá
không chính thức tràn lan đến mức không thể cứu vãn nổi. Đây là điều mà các nước
khác nên tránh. Bởi suy cho cùng, nếu một quốc gia không thể đáp ứng được các tiêu
chí đã nêu ở trên thì quốc gia đó không nên thực hiện đô la hoá. Không thể dự đoán

Không chỉ trong giao dịch thương mại với Mỹ, mà trong các hoạt động kinh tế khác,
các giao dịch với các quốc gia khác, đồng đôla cũng đóng vai trò hết sức quan trọng.
Năm 2002, đồng đôla Mỹ chiếm 80% giao dịch ngoại thương của Việt Nam. Năm
2007, con số này là 89%, trong khi đồng euro chiếm 7%, đồng yên Nhật chiếm 3%,
còn lại 1% cho các đồng tiền khác. Đôla Mỹ được sử dụng trong giao dịch với các
nước châu Âu, Nhật Bản, ASEAN… Thêm vào đó, đại bộ phận các khoản vay nợ,
viện trợ và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đều được thực hiện bằng đôla Mỹ.
Xét trên phương diện đời sống dân cư, sự có mặt của đồng đô la ngày càng tăng lên.
Thu nhập bằng đồng đôla của các tầng lớp dân cư tăng lên. Việt Nam gia nhập WTO
đồng nghĩa với việc các công ty nước ngoài, người nước ngoài đến Việt Nam làm ăn,
sinh sống, học tập, du lịch… tăng, họ sử dụng đôla Mỹ để trả lương, để thanh toán…
Hơn nữa, nhằm thu hút nguồn ngoại tệ từ nước ngoài, trong những năm qua Chính
phủ đã ban hành các văn bản: Quyết định số 78/2002/QĐ- TTg ngày 17/6/2002 về
việc sửa đổi, bổ sung quyết định số 170/1999 về việc thu hút nguồn ngoại tệ kiều hối
từ nước ngoài vào Việt Nam. Các chính sách trên cho phép người thụ hưởng được
nhận kiều hối bằng ngoại tệ, được gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ tại ngân hàng được rút
ra cả gốc lẫn lãi bằng ngoại tệ, được sử dụng số ngoại tệ này chuyển ra nước ngoài.
Ngoại tệ kiều hối không bị hạn chế về số lượng và không bị đánh thuế. Riêng nguồn
kiều hối hàng năm đạt kim ngạch 2-3 tỷ USD. Đó là chưa kể những khoản kiều hối
"chui", những khoản đôla nhập lậu, những vụ rửa tiền… mà Nhà nước ta chưa kiểm
soát hết được.
Như vậy, bằng những con đường khác nhau, đôla Mỹ đã và đang thâm nhập sâu vào
Việt Nam, cả trong hoạt động kinh tế lẫn đời sống dân cư. Điều này là một lẽ tất
nhiên trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng gia tăng và đôla Mỹ lại là đồng
tiền chủ đạo của nền kinh tế thế giới.
2.Những biểu hiện của đôla hoá ở Việt Nam.
Phần này sẽ nêu lên mức độ đôla hoá ở Việt Nam cũng như những biểu hiện của hiện

Thêm vào đó, người ta có thể dễ dàng mua bán đôla ở hầu hết các cửa hiệu kinh
doanh vàng bạc. Thậm chí, muốn có một triệu USD tiền mặt, có thể tìm đến thị
trường chợ đen (ví dụ phố Hà Trung - Hà Nội) để mua dễ như mua một mớ rau.
Nhìn chung, rất khó có thể đánh giá mức độ đôla hóa thông qua tỷ lệ giao dịch bằng
đồng đôla trong đời sống dân cư. Tuy nhiên, có thể nhận ra rằng đôla Mỹ chủ yếu
được sử dụng trong những giao dịch có giá trị lớn (đóng vai trò là phương tiện thanh
toán). Ngoài ra, do lãi suất tiết kiệm bằng đồng đôla trong thời gian qua tăng cao hơn
so với VNĐ và do tâm lý cất trữ ngoại tệ đề phòng rủi ro thì nhiều người dân sử dụng
đôla Mỹ như một phương tiện cất trữ. 2.2.Đôla hoá trong lĩnh vực ngân hàng.
Những biểu hiện của đôla hoá được thể hiện rõ ràng nhất trong lĩnh vực ngân hàng.
Dưới đây, ta xét trên hai nghiệp vụ: huy động và cho vay của các ngân hàng.
a. Đôla hoá trong lĩnh vực tiền gửi.
Nếu chỉ nhìn vào mức độ sử dụng ngoại tệ trong thanh toán thì ai cũng có thể hiểu tại
Việt Nam, mức độ đôla hoá là khá cao. Nhưng về mặt học thuật, mức độ đôla hoá
được đo bằng tỉ lệ tiền gửi ngoại tệ/tổng phương tiện thanh toán (FCD/M2). Theo
quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), một quốc gia có tỷ lệ trên vượt mức 30% là bị đôla hoá
trầm trọng.
Theo cách phân loại đã nêu ở phần trước, Việt Nam là nền kinh tế đôla hóa một phần
trong đó hệ thống tiền tệ sử dụng song song cả VNĐ và USD.
Sự biến động mức đôla hoá ở Việt Nam:
 Năm 1988 khi các ngân hàng được phép nhận tiền gửi bằng đồng đôla,
hiện tượng nền kinh tế Việt Nam sử dụng rộng rãi đồng đôla Mỹ trong giao
dịch buôn bán…bắt đầu được chú ý đến.
 Đỉnh cao của mức độ đôla hoá tại Việt Nam là vào năm 1991 khi tỷ lệ

2000 29,6
2001 30
2002 26,1
2003 21,3

2004 23,1

2005 22,3
Việc xác định tình trạng đôla hoá theo công thức FCD/M2 được đánh giá là
khá chính xác ở những nước mà phần lớn giao dịch thanh toán đều thực hiện qua
ngân hàng. Còn ở Việt Nam, nơi mà tỷ lệ sử dụng tiền mặt vẫn còn rất lớn, tỷ lệ
FCD/M2 không phản ánh đầy đủ thực trạng đôla hoá trong toàn bộ nền kinh tế. Về
phía các doanh nghiệp, trong một thời gian dài tiền gửi ngoại tệ của các tổ chức kinh
tế vào các ngân hàng đã giảm xuống do một số thay đổi trong chính sách quản lý
ngoại hối như quy định các doanh nghiệp không được thanh toán trực tiếp với nhau
bằng ngoại tệ, quy định về kết hối cũng như quy định về giới hạn lãi suất tiền gửi
bằng ngoại tệ của các doanh nghiệp. Ngoài ra, từ năm 1990 đến 1998, Việt Nam luôn
ở trong tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai, nhập siêu liên tục. Điều này cũng đã có
tác động làm giảm tiền gửi ngoại tệ của các tổ chức kinh tế. Từ năm 1999, do cán cân
vãng lai đựơc cải thiện và tỷ lệ kết hối giảm từ 80% xuống còn 30% nên tiền gửi
ngoại tệ của các tổ chức kinh tế đã có chiều hướng gia tăng và dẫn đến hệ quả là đô
la hoá không chỉ diễn ra ở khu vực tiền gửi tiết kiệm của dân cư, mà xuất hiện ở cả
khu vực các tổ chức kinh tế-xã hội. Trong khoảng thời gian giữa năm 2007, lãi suất
huy động đôla Mỹ của các ngân hàng tăng lên khiến cho tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ tăng
lên dẫn đến tình trạng các ngân hàng thừa ngoại tệ.
b.Đôla hoá trong lĩnh vực cho vay.
Trái với xu hướng biến đổi của cơ cấu tiền gửi, tỷ trọng dư nợ cho vay bằng

đều không tồn tại hoặc không ảnh hưởng.
1.Lãi suất tiền gửi ngoại tệ tăng
Lãi suất tiền gửi là yếu tố trực tiếp nhất ảnh hưởng đến luồng vốn vào ở các
ngân hàng thương mại. Điều này không chỉ đúng với đồng Việt Nam mà với cả các
loại ngoại tệ. Với sự gia tăng trong những năm qua lãi suất đã trở thành nhân tố chủ
yếu gây ra tình trạng đô la hoá tiền gửi ở các ngân hàng.
Trong những năm gần đây, trong lĩnh vực huy động tiền gửi USD lại diễn ra
một cuộc chạy đua nâng lãi suất của các ngân hàng thương mại, mở đầu bằng việc
ngày 3/3/2006, ngân hàng á Châu ACB có quy mô lớn nhất và đứng đầu về kinh
doanh ngoại tệ trong khối ngân hàng thương mại cổ phần, đã tăng lãi xuất ngoại tệ -
USD ở tất cả các kỳ hạn với mức tăng lớn nhất từ trước đến nay từ 0,3% một năm
đến 0,85% một năm. Bên cạnh đó , người gửi tiền còn được còn được thưởng thêm
lãi suất dựa trên số tiền gửi USD. Cụ thể người gửi ngoại tệ tại ACB được cộng thêm
từ 0,1%/năm đến 0,126%/năm nếu tiền gửi từ 5000 USD đến trên 60.000 USD cho
một số tiền gửi tiết kiệm.
Ngày 1/8/2007, ngân hàng HSCB tại Việt Nam bắt đầu phát hành chứng chỉ
tiền gửi ghi số băng USD đợt 10 với lãi suất tăng mới so với lần phát hành thứ chín
trước đây. Lãi suất của chứng chỉ tiền gửi USD lần này của HSCB đã tăng đáng kể,
nhất là cho kỳ hạn 3 tháng (từ 4,20% lên 4,70%) và kỳ hạn 6 tháng (từ 4,30% lên đến
4,70%). Ngày 28/8 ngân hàng kỹ thương Techcombank thông báo tăng lãi suất huy
động vốn tiết kiệm USD. Biểu lãi suất mới áp dụng cho các khoản tiền gửi tiết kiệm
USD lĩnh lãi cuối kỳ với biên độ tăng khá cao. Cụ thể lãi suất USD tiết kiệm thường
tăng mạnh ở nhiều kỹ hạn đặc biệt là ở các kỳ hạn 6 tháng (tăng 0,6%/năm lên đến
5,2%/năm). Các kỳ hạn 1 tháng , 2 tháng và 12 tháng đều tăng 0,45%/năm lên
4.5%/năm, 4,7%/năm và 5,5%/năm. Tiếp theo, một số ngân hàng như Vietcombank ,
Sacombank, Đông á, Eximbank,… cũng đồng loạt điều chỉnh lãi suất huy động tiền
gửi USD.

tháng là 5,045%/năm , kì hạn 6 tháng là 5,366%/năm. Lãi suất trên thị trường
London cũng tăng tương tự.
ở Việt Nam, dưới tác động của sự gia tăng lãi suất quốc tế, các ngân hàng thương mại
Việt Nam cũng từng bước tăng lãi suất huy động đôla Mỹ. Mặc dù lãi suất huy động
USD trong nước tăng lên nhưng vẫn còn khoảng cách khá lớn so với thị trường quốc
tế với mức chênh lệch 0,2-0,6%. Mức chênh lệch đó đã khiến các ngân hàng thương
mại tăng cường huy động USD rồi gửi tại các ngân hàng nước ngoài nhằm mục đích
thu lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất. Chính vì vậy, các ngân hàng đã đua nhau tăng
lãi suất để huy động được nhiều đôla hơn.
2) Sự gia tăng tỷ giá VND/USD
Mặc dù lãi suất là yếu tố quyết định trực tiếp và có ý nghĩa quan trọng gây ra hiện
tượng đôla hoá nhưng nó không phải là yếu tố duy nhất. Trong nền kinh tế Việt Nam,
tỷ giá VNĐ/USD vẫn luôn là 1 yếu tố quan trọng có tác dụng định hướng cho các chủ
thể kinh tế trong quyết định đầu tư. Những biến động tỷ giá trên thị trường tiền tệ
cũng đã có những tác động không nhỏ đến tình trạng đôla hoá ở Việt Nam.
Tỷ giá VND/USD luôn có xu hướng tăng và tăng mạnh. Trong giai đoạn cuối 2002
đầu 2004, USD mất giá thảm hại so với các đồng tiền mạnh trên thế giới, thì tại Việt
Nam vẫn lên giá so với VND. Trong 9 tháng đầu năm 2005, tỷ giá tăng 0,73%.
Nguyên nhân của hiện tượng này là trong năm 2004 những biến động trên thế giới
làm tăng đột biến giá của một số mặt hàng chủ lực như xăng, dầu, thép, một số mặt
hàng thực phẩm, làm gia tăng chỉ số lạm phát của Việt Nam lên 9,5%. Trong khi đó,
chỉ số lạm phát của Mỹ năm 2004 chỉ đạt - 0,1%. Về mặt lý thuyết, theo học thuyết
ngang giá sức mua (PPP), tỷ giá VND/USD phải tăng tương xứng với mức chênh
lệch tỷ lệ lạm phát của hai đồng tiền. Mặt khác, trong điều hành chính sách tiền tệ,
Ngân hàng Nhà Nước luôn điều chỉnh tỷ giá theo hướng phá giá nhẹ VND, trước là
cải thiện cán cân thương mại, sau là giúp tỷ giá phản ánh sát giá trị thực của VND

Trích đoạn Cần nhất quán chủ trương quản lý lưu hành ngoại tệ theo hướng "Trên đất nước Việt Nam chỉ chi trả bằng đồng Việt Nam”.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status