Luận văn : THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NÔNG THÔN TỈNH THÁI NGUYÊN part 8 - Pdf 20


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

85

Tóm lại: Qua tìm hiểu những vấn đề nêu trên có thể nhận định rằng nguyên
nhân thiếu đất canh tác và thiếu thông tin về việc làm đã hạn chế khả năng phát huy
vai trò nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế của hộ gia đình. Ngoài ra còn có một
nguyên nhân cơ bản là nhiều hộ chƣa biết cách làm ăn, chƣa biết tạo thêm việc làm
từ chính các nguồn lực hiện có của hộ. Thực tế có nhiều hộ có đặc điểm về điều
kiện sản xuất, lao động, nguồn vốn nhƣ nhau nhƣng lại có sự khác nhau về hiệu quả
lao động. Đó là do có sự chênh lệch về tƣ duy, sự khác nhau về cách thức tổ chức
sản xuất của mỗi hộ. Một số hộ do lƣời lao động, ngại suy nghĩ tìm kiếm thêm việc
làm và tâm lý chờ đợi sự giúp đỡ từ bên ngoài cũng dẫn đến tình trạng thiếu việc
làm do nguyên nhân chủ quan.
2.2.4. Ý kiến đề xuất của ngƣời dân để phát huy vai trò nguồn nhân lực trong
phát triển kinh tế xã hội
2.2.4.1. Nhu cầu phát triển ngành nghề phụ
Hiện nay, ngƣời dân rất mong muốn có thể tìm kiếm và phát triển nghề phụ
phù hợp với khả năng về trình độ học vấn, về vốn đầu tƣ để kết hợp với các yếu tố
lợi thế về địa lý, thổ nhƣỡng, văn hóa của từng vùng nhằm tạo ra những sản phẩm
đặc trƣng, từ đó tạo thêm việc làm và tăng thêm thu nhập.
Trong tổng số hộ đƣợc hỏi thì chỉ có 7,22% hộ trả lời trong năm qua có làm
nghề phụ để tạo thu nhập, đây là tỷ lệ quá nhỏ so với tiềm năng và nhu cầu chính
đáng của ngƣời dân. Hầu hết các hộ đều mong muốn có một nghề phụ để làm trong
thời gian tới.
Một điều đáng nói là những ngƣời đƣợc hỏi đa số đều rất do dự, không biết
thời gian tới chọn ngành nghề nào. Do tâm lý chƣa chủ động tự tạo việc làm, lo ngại
sẽ học nghề nhƣ thế nào, đầu ra sản phẩm ra sao. Có 20% đại diện của hộ không có
câu trả lời, đây là thực tế đáng lo ngại của một bộ phận nông dân chƣa dám nghĩ
dám làm, quen trông chờ vào sự hỗ trợ can thiệp của nhà nƣớc. Họ không dám đƣa

8
9
12
3. Khai thác đá, cát, sỏi
31
15
1
9
4. Đan lát, dệt, làm đồ mỹ nghệ
26
6
8
12
5. Trồng cây cảnh, trồng hoa
23
2
5
16
6. Cơ khí, sửa chữa (động cơ, điện tử,
điện lạnh)
20
4
5
11
7. Chế biến lƣơng thực, nông sản, thực
phẩm (nấu rƣợu, làm đậu, xay sát…)
46
16
12
18


2.2.4.2. Nhu cầu học nghề của lao động nông thôn
Hiện nay có rất nhiều lao động nông thôn có nhu cầu đào tạo nghề nhất là
trong lứa tuổi thanh niên. Họ có nhu cầu đƣợc học một nghề gì đó để có thể kiếm
đƣợc việc làm. Lao động nông thôn gặp khó khăn khi tiếp cận thông tin đào tạo nhƣ
học nghề gì, học ở đâu và sẽ làm gì. Do thiếu thông tin và ít có cơ hội đƣợc tiếp cận
thông tin nên họ lựa chọn nghề học chủ yếu do sở thích hoặc lựa chọn theo bạn bè,
họ hàng và ngƣời trong cùng xóm.
- Khi phỏng vấn ý kiến của chủ hộ về trở ngại lớn nhất trong vấn đề học nghề
của các thành viên trong hộ, kết quả tổng hợp nhƣ sau:
+ Thiếu thông tin lựa chọn nghề nghiệp: 34,63%.
+ Địa điểm học không thuận lợi: 22,5%.
+ Nội dung, chƣơng trình học chƣa phù hợp: 12,9%.
+ Không có kinh phí học: 30,67%.
- Có rất nhiều ngƣời trả lời có nhu cầu muốn đƣợc đào tạo nghề để có thêm cơ
hội tìm kiếm thêm việc làm. Bình quân cứ 5 ngƣời đƣợc hỏi thì có 01 ngƣời mong
muốn đƣợc đi đào tạo nghề nghiệp. Xuất phát từ nhu cầu chuyển đổi việc làm,
chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông thôn hiện nay, khi phỏng vấn có đến 47,7%
số lao động có nhu cầu chuyển đổi việc làm.
- Xuất phát từ nhu cầu chuyển đổi việc làm là vấn đề bức xúc của ngƣời dân,
qua điều tra cho thấy có đến 58,8% số hộ trả lời có nhu cầu đƣợc đào tạo.
- Số ngƣời có nhu cầu học nghề phân bố tại các địa phƣơng cũng rất khác
nhau, ở vùng cao do tâm lý ngại thay đổi nghề nghiệp, ngƣời dân chƣa mạnh dạn
tìm việc nên nhu cầu học nghề ít hơn các hộ vùng trung du, vùng thấp. Đặc biệt nhu
cầu đào tạo ở vùng trung du lên đến 95%.
Trong số những ngƣời có nhu cầu đào tạo nghề, kết quả điều tra cho thấy các
nghề có nhu cầu đào tạo của lao động nông thôn tƣơng đối đa dạng, nhƣng có thể
gộp các nhóm nghề cơ bản theo bảng 2.32.
15
2
7
3. May, thêu ren
15
2
3
10
4. Kỹ thuật nông nghiệp
31
5
0
26
5. Mây tre đan, thủ công mỹ nghệ
10
4
1
5
6. Ngành nghề khác
5
3
2
0
Cộng
102
35
14
53
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra
- Có sự khác biệt lớn về quan niệm việc làm sau đào tạo theo độ tuổi, giới tính

cây trồng trên đất ruộng nhƣ thâm canh lúa có năng suất, chất lƣợng cao, cây công
nghiệp ngắn ngày giống mới, hoa cây cảnh, rau thực phẩm; Tổ chức dồn điền đổi
thửa và ứng dụng công nghệ cao để sản xuất hàng hóa; Chính sách hỗ trợ giống để
chuyển dịch cơ cấu vật nuôi theo hƣớng lợn ngoại chất lƣợng cao tại các huyện phía
Nam nhƣ Phổ Yên - Phú Bình; Phát triển chăn nuôi trâu, bò thƣơng phẩm tại các
huyện miền núi nhƣ Võ Nhai, Phú Lƣơng [25]. Kết quả chuyển dịch cơ cấu cây
trồng, vật nuôi theo hƣớng sản xuất hàng hóa đã tạo thêm việc làm mới, nâng cao
thu nhập cho nhiều hộ dân, xuất hiện nhiều mô hình nông dân làm kinh tế giỏi ở các
hầu hết các địa phƣơng trong tỉnh, nhiều diện tích đất canh tác đạt từ 30 - 50 triệu
đồng/năm. Chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành đã phát huy thế mạnh nông nghiệp
nông thôn của tỉnh nhƣ diệt tích chè tăng 880ha/năm, cây luồng tăng 250ha/năm
(Năm 2005 cơ cấu ngành trồng trọt 59,2%, chăn nuôi 32,28%, lâm nghiệp 3,33%,
thủy sản 3%, dịch vụ nông nghiệp 2,19%). Với chính sách này đã góp phần điều tiết
dịch chuyển cơ cấu lao động nông thôn nói chung và cơ cấu lao động nội bộ ngành
nông nghiệp.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

90

- Chính sách tạo việc làm cho lao động nông thôn: Hiện nay tỉnh đang thực hiện
nhiều cơ chế chính sách tạo việc làm cho lao động nói chung và lao động nông thôn
nói chung. Nhiều chính sách đang phát huy hiệu quả và từng bƣớc nâng cao chất
lƣợng nhân lực, giải phóng sức lao động, kết hợp khai thác hợp lý các nguồn nội lực
trong nông thôn. Trong các chính sách đó có một số đang thực hiện có hiệu quả nhƣ:
+ Dự án vay vốn từ quỹ quốc gia về việc làm mỗi năm cho vay gần 20 tỷ đồng
để phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại nhằm giải quyết việc làm tại chỗ. Hàng
năm có khoảng trên 4.000 lao động nông thôn đƣợc tạo việc làm từ các dự án này.
+ Chính sách đƣa lao động đi xuất khẩu lao động là một giải pháp để điều tiết
lao động nông thôn, góp phần tăng thu nhập cho hộ dân, nâng cao trình độ chuyên

chƣa phát huy đƣợc hiệu quả đầu tƣ. Hiện nay tỉnh chƣa có Website việc làm, chƣa
có những hình thức cung cấp thông tin phù hợp với lao động ở nông thôn.
2.3. PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ
2.3.1. Một số hạn chế về nguồn nhân lực trong khu vực nông thôn
2.3.1.1. Về chất lượng nguồn nhân lực
Chất lƣợng nguồn nhân lực nông thôn hiện nay còn quá thấp. Ngành nghề và
cơ cấu đào tạo đang mất cân đối. Số ngƣời có trình độ chuyên môn về lĩnh vực nông
nghiệp làm việc trong khu vực nông thôn còn quá ít.
Khả năng tiếp cận và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất và
đời sống của ngƣời dân còn nhiều hạn chế. Kỹ năng lao động sản xuất chƣa có tính
chuyên môn hóa. Nhận thức của ngƣời dân về các vấn đề kinh tế xã hội chƣa thoát
khỏi lối tƣ duy tiểu nông, sản xuất nhỏ.
Tỷ lệ trẻ em suy dinh dƣỡng vẫn còn ở mức cao, tình trạng trẻ em bỏ học sớm
có chiều hƣớng gia tăng. Tốc độ gia tăng dân số nếu không kiểm soát kịp thời sẽ có
nguy cơ bùng phát trở lại. Hoạt động rèn luyện thể dục thể thao của ngƣời dân chƣa
rộng khắp và chƣa có chiều sâu.
2.3.1.2. Về sử dụng nhân lực và việc làm trong nông thôn
Khu vực kinh tế nông thôn của tỉnh vẫn mang tích chất thuần nông nghiệp là
chính. Nghề phụ trong nông thôn chƣa phát triển, một số vùng có ngành nghề phụ
hiệu quả kinh tế thấp, thị trƣờng tiêu thụ hẹp, khả năng cạnh tranh kém, sản phẩm
chƣa đa dạng. Nhiều vùng nông thôn có lợi thế về nguyên liệu, sản phẩm phụ từ
nông nghiệp nhƣng chƣa khai thác sử dụng để chuyển thành sản phẩm hàng hóa có
giá trị kinh tế. Chƣa có nhiều làng nghề truyền thống có lợi thế cạnh tranh.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

92

Sử dụng nhân lực ở nông thôn nhìn chung chƣa hiệu quả. Tình trạng thiếu
việc làm diễn ra khá phổ biến ở khắp các vùng nghiên cứu. Do hiệu quả công việc

93

vì phần lớn trong số họ thuộc diện nghèo, thiếu phƣơng tiện sản xuất và hoạt động
chủ yếu là khai thác tự nhiên làm cạn kiệt, suy thoái tài nguyên, tàn phá môi trƣờng.
Giải quyết việc làm nói chung và việc làm ở nông thôn nói riêng trong điều
kiện thị trƣờng lao động và thể chế của thị trƣờng chƣa đƣợc tạo lập và hình thành
đầy đủ. Ở vùng nông thôn hầu nhƣ còn thiếu vắng các tổ chức giới thiệu việc làm.
Nhận thức của ngƣời dân về việc làm và đào tạo nghề, lựa chọn nghề nghiệp
chƣa rõ ràng. Vẫn còn nhiều ngƣời có tâm lý phụ thuộc vào sự trợ giúp của Nhà
nƣớc. Chƣa chủ động tìm kiếm việc làm cho bản thân, cho gia đình và xã hội.
Thông tin tƣ vấn nghề nghiệp, phát triển việc làm còn thiếu và chƣa có tính
định hƣớng. Một số địa phƣơng, chính quyền các cấp chƣa thật sự quan tâm đến
công tác tƣ vấn tuyên truyền chính sách của Nhà nƣớc về phát triển nhân lực, chính
sách giải quyết việc làm.
Việc thuê mƣớn lao động ở nông thôn diễn ra tự phát, giá nhân công tùy tiện
và đặc biệt là thiếu các ràng buộc về mặt pháp lý nhƣ chế độ bảo hiểm, trợ cấp tai
nạn, chăm sóc sức khỏe…. Nhiều thể chế hành chính chƣa phù hợp với nhu cầu
dịch chuyển và mở rộng không gian tạo lập và tìm kiếm việc làm nhất là đối với sự
dịch chuyển từ nông thôn ra thành thị.
Tóm lại: Từ thực trạng nguồn nhân lực và chính sách việc làm đối với lao
động nông thôn hiện nay, những vấn đề đặt ra trên đây đòi hỏi phải có quan điểm và
hệ thống các chính sách giải pháp mang tính tổng thể và đồng bộ để phát huy vai trò
nguồn nhân lực nông thôn của tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

94

CHƢƠNG 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ NGUỒN NHÂN LỰC

95

Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực cần phải đƣợc ƣu tiên quan tâm hàng
đầu, phải đi trƣớc một bƣớc trong tiến trình phát triển và dựa trên quan điểm phát
triển đồng bộ các lĩnh vực về chăm sóc sức khỏe, giáo dục đào tạo.
3.1.2. Phƣơng hƣớng
Nâng cao chất lƣợng sức khỏe, thể trạng của lao động nông thôn, rèn luyện
tác phong và kỹ năng làm việc cho lao động, đặt biệt là lực lƣợng lao động trẻ. Xây
dựng cơ chế chính sách khuyến khích đầu tƣ nhằm nâng cao chất lƣợng lao động,
mở rộng cơ hội việc làm cho lao động nông thôn.
Phát triển việc làm mới trong nông thôn phải tính đến hiệu quả kinh tế cao,
cải thiện đáng kể thu nhập cho ngƣời dân, nâng cao mức sống. Đảm bảo cung cấp
đủ và kịp thời các nguồn lực về vốn, kỹ thuật, khai thác hợp lý nguồn lực tự nhiên
để kết hợp sử dụng hiệu quả nhân lực nông thôn.
Tập trung nguồn lực đầu tƣ cho công tác dạy nghề lao động nông thôn để tạo
tiền đề cho sự chuyển dịch cơ cấu lao động. Các chƣơng trình đào tạo nâng cao
năng lực cho nông dân cần gắn kết chặt chẽ với việc làm sau đào tạo, đáp ứng nhu
cầu của xã hội.
Điều tiết và dịch chuyển lao động theo hƣớng đƣa lao động dƣ thừa ở nông
thôn đặc biệt là lao động trẻ sang các ngành công nghiệp, khai thác, chế biến, dịch
vụ, xuất khẩu lao động hoặc các hoạt động khác ở các khu công nghiệp trong và
ngoài tỉnh.
Bố trí sắp xếp lại lao động tại chỗ gắn liền với yêu cầu phát triển nông thôn
toàn diện theo hƣớng công nghiệp hóa hiện đại hóa. Phát triển việc làm tại chỗ ở
nông thôn theo hƣớng:
- Đẩy mạnh phát triển sản xuất nông, lâm, ngƣ nghiệp theo hƣớng đa dạng
hóa vật nuôi, cây trồng, khai thác tốt hơn các tiềm năng và lợi thế so sánh của từng
khu vực.
- Phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế xã hội ở nông thôn gắn với quá trình phân công lại lao động xã hội trong

nhiệm của giáo viên.
Cần có chính sách hỗ trợ sách vở, miễn học phí cho lao động nông thôn theo
học các lớp bổ túc văn hóa mở tại cộng đồng nhằm hoàn thành chƣơng trình phổ
cập cấp trung học cơ sở sớm nhất.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

97

Sở Giáo dục - Đào tạo có thể chỉ đạo Trung tâm Giáo dục thƣờng xuyên của
các huyện, thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công mở các lớp bổ túc văn hóa theo
cụm xã. Chú ý lựa chọn những khu vực có số lao động bỏ học sớm để mở lớp trƣớc.
Có thể phân nhóm học sinh có nguyện vọng đƣợc học nghề để triển khai thí
điểm tại 1 đến 2 trƣờng Trung học phổ thông liên kết với các trƣờng dạy nghề mở
lớp đào tạo nghề liên thông, đƣa một phần chƣơng trình dạy nghề vào cùng thời
gian theo học văn hóa.
3.2.1.2. Phát triển đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Xây dựng quỹ khuyến khích dạy nghề nông thôn. Kinh phí đƣợc huy động từ
các nguồn ngân sách Nhà nƣớc cấp, vận động các tổ chức cá nhân ủng hộ, đóng góp
của ngƣời lao động đã đƣợc hỗ trợ từ quỹ sau khi có việc làm và có thu nhập.
Nguồn quỹ sẽ đƣợc sử dụng vào các mục đích:
- Hỗ trợ cho lao động trẻ ở khu vực nông thôn tham gia đào tạo nghề theo
hình thức sau:
+ Nếu ngƣời lao động tự chọn nghề và tự lựa chọn cơ sở đào tạo nghề. Tỉnh
sẽ hỗ kinh phí trợ để đóng tiền học phí và hỗ trợ một phần sinh hoạt phí trong thời
gian học nghề.
+ Nếu học tập trung theo các lớp do địa phƣơng tổ chức, tỉnh sẽ hỗ trợ kinh
phí đào tạo cho cơ sở dạy nghề.
- Hỗ trợ kinh phí cho các cơ sở đào tạo nghề trong khu vực nông thôn nhƣ đầu
tƣ thiết bị dạy nghề, hỗ trợ xây dựng trƣờng lớp, đào tạo bồi dƣỡng nghiệp vụ cho

3.2.1.3. Nâng cao hiệu quả công tác y tế cơ sở và chăm sóc sức khỏe người dân
tại cộng đồng
Bố trí 01 cán bộ y tế làm công tác quản lý y tế trong biên chế công chức xã.
Nhiệm vụ của cán bộ y tế xã là tham mƣu cho chính quyền cấp xã thực hiện tốt
công tác y tế tại cơ sở. Theo dõi tình hình sức khỏe của nhân dân, theo dõi diễn biến
dịch bệnh để phối hợp với trạm y tế xã, cán bộ y tế thôn bản và các cơ quan chức
năng sử lý kịp thời.
Thực hiện điều động luân chuyển cán bộ y tế tuyến tỉnh, huyện về công tác có
thời hạn tại các xã để nâng cao chất lƣợng khám chữa bệnh, tuyên truyền chăm sóc
sức khỏe ban đầu cho dân tại trung tâm y tế xã.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status