Thực trạng thị trường logistics cho triển lãm, hội chợ vào Việt Nam của công ty Translink Express - Pdf 11

Giải thích các thuật ngữ và các chữ viết tắt
1. Logistics: quá trình tối ưu hoá về địa điểm, tối ưu hóa việc lưu chuyển và dự
trữ tài nguyên từ đầu vào nguyên thuỷ cho đến tay người tiêu dùng, nhằm đáp
ứng tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng với chi phí thích hợp, thông qua
hàng loạt các hoạt động kinh tế.
2. TLIAP – The Logistics Institude Asia Pacific: Viện Logistics châu Á – Thái
Bình Dương
3. LCL - Less than Container Loading : Hàng lẻ
4. FCL – Full of Container Loading: Hàng nguyên container
5. MTO – Multimodal Transport Operator: nhà kinh doanh dịch vụ vận tải đa
phương thức
6. Offical Forwarder: nhà giao nhận chính thức (cho một Triển lãm)
7. IATA – International Air Transport Association: Hiệp hội vận tải hàng không
quốc tế
8. VISABA – Vietnam Shipbroker and Agent Association: Hiệp hội đại lý và
môi giới hàng hải Việt Nam
9. VIFFAS – Vietnam Freight Forwarder Association: Hiệp hội giao nhận vận tải
Việt Nam
10. DN: Doanh nghiệp
11. POS: điểm bán hàng
12. EDI: hệ thống chia sẻ và trao đổi dữ liệu điện tử
13. FIATA – International Federation of Freight Forwarder Association : Liên
đoàn quốc tế về các hiệp hội giao nhận
14. VCCI – Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam
15. AFFA: Hiệp hội giao nhận các nước ASEAN
1
Danh mục các bảng, biểu và sơ đồ
Trang
1. Sơ đồ 1: Quy trình nhập khẩu hàng hoá của công ty VINAFCO 11
2. Sơ đồ 2: Quy trình xuất khẩu hàng hoá của công ty Translink Express 12
3. Bảng 1: Hệ thống kho bãi của công ty Vietrans 20

thị trường tất yếu phải áp dụng lý thuyết marketing vào quá trình kinh doanh.
Công ty Translink Express là đơn vị chuyên về lĩnh vực logistic cho hàng triển lãm
và hội chợ tại Việt Nam, đặc biệt là các hoạt động in-bound (đưa hàng hóa quốc tế
vào các triển lãm tại Việt Nam). Xu hướng vận động của thị trường này đã tác động
rất lớn đến hoạt động kinh doanh của đơn vị và việc áp dụng marketing vào các giái
pháp để cạnh tranh trong thời gian tới là vô cùng cần thiết đối với đơn vị.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu hướng vào hai mục đích chính sau đây:
Thứ nhất là nghiên cứu nhằm phân tích những đặc điểm của thị trường dịch vụ
logistics cho triển lãm, hội chợ tại Việt Nam hiện nay và xu hướng vận động, phát
triển trong thời gian tới.
3
Thứ hai là phân tích về đặc điểm vận dụng marketing vào lĩnh vực kinh doanh đặc
thù và rất mới này ở thị trường Việt Nam
Thứ ba; kiến nghị các giải pháp marketing cho công ty Translink Express.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là xu hướng vận động của thị trường logistics
cho hàng triển lãm, hội chợ tại Việt Nam và hoạt động marketing của công ty
Translink Express.
Phạm vị nghiên cứu: về mặt không gian: thị trường Việt Nam
Về mặt thời gian: Từ năm 2003 trở lại đây.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành chuyên đề, các phương pháp nghiên cứu sau đây đã được áp dụng:
- Phương pháp duy vật biện chứng, tư duy logic, hệ thống
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp. Trong đó, các phương pháp thu
thập dữ liệu sơ cấp chủ yếu được áp dụng là: phương pháp điều tra quan sát,
thống kê. Dựa trên những thông tin về doanh nghiệp, đặc điểm dịch vụ, thị trường
để khái quát hoá những đặc tính khách quan của đối tượng nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu: được thực hiện để nêu lên
những đánh giá, nhận định, từ đó nêu lên các kiến nghị.

Trong lịch sử, Logistic đã xuất hiện từ rất lâu đời, ban đầu chỉ với hoạt động vận
chuyển hàng hoá, ngày nay, Logistics phát triển rất nhanh chóng và được ghi nhận
như một chức năng kinh tế chủ yếu, một công cụ hữu hiệu mang lại thành công cho
các doanh nghiệp cả trong khu vực sản xuất lẫn trong khu vực dịch vụ.
Có nhiều định nghĩa về Logistics, theo hội đồng quàn trị Logistics của Mỹ ( Council
ò Logistics Management – CLM) thì “Quản trị Logistics là quá trình hoạch định, thực
hiện và kiểm soát một cách hiệu quả chi phí lưu thông, dự trữ nguyên vật liệu, hàng
tồn kho trong quá trình sản xuất sản phẩm cùng dòng thông tin tương ứng từ điểm
xuất phát đầu tiên đến điểm tiêu dùng cuối cùng nhằm mục đích đáp ứng yêu cầu của
khách hàng”. Theo quan điểm “5 Right” thì :” Logistcs là quá trình cung cấp đúng
sản phẩm đến đúng vị trí, vào đúng thời điểm với điều kiện và chi phí phù hợp cho
khách hàng tiêu dùng sản phẩm.”
Tại Việt Nam, theo quy định của Luật Thương mại, tại Mục 4 (Dịch vụ Logistics).
Điều 233 quy định:
6
Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện
một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ
tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã
hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với
khách hàng để hưởng thù lao. Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch
vụ lô-gi-stíc.
Như vậy, Logistics là quá trình tối ưu hoá về địa điểm, tối ưu hoá việc lưu chuyển và
dự trữ nguồn tài nguyên từ đầu vào nguyên thủy cho đến tay người tiêu dùng cuối
cùng, nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng với chi phí thích hợp,
thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế.
Trong mỗi ngành, lĩnh vực, logistics sẽ có những đặc thù riêng. Có thể nghiên cứu
logistics trên hai giác độ: vi mô và vĩ mô. Ở tầm vi mô, logistics là việc tối ưu hoá
mọi thao tác, hoạt động trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhằm
nâng cao khả năng cạnh tranh, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Ở tầm vĩ mô,
logistics là một ngành dịch vụ giúp tối ưu hoá quá trình phân phối, vận chuyển, dự

d) Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin
liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi lô-gi-stíc; hoạt động
xử lý lại hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và
tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và thuê mua container.
* Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải, bao gồm:
a) Dịch vụ vận tải hàng hải;
b) Dịch vụ vận tải thuỷ nội địa;
c) Dịch vụ vận tải hàng không;
d) Dịch vụ vận tải đường sắt;
đ) Dịch vụ vận tải đường bộ.
e) Dịch vụ vận tải đường ống.
* Các dịch vụ logistics liên quan khác, bao gồm:
a) Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật;
b) Dịch vụ bưu chính;
8
c) Dịch vụ thương mại bán buôn;
d) Dịch vụ thương mại bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom,
tập hợp, phân loại hàng hóa, phân phối lại và giao hàng;
đ) Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác.
Logistics bao gồm 4 dòng chảy chính, dòng chảy hàng hoá, nguyên liệu, dòng chảy
thông tin, dòng chảy tài chính, và dòng chảy chứng từ, tài liệu (có thể gộp vào dòng
chảy thông tin). Logistics hiện nay đã tiến lên một giai đoạn phát triển mới đó là
chuỗi cung ứng (supply chain).
Tuy nhiên, tại Việt Nam, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ này chủ yếu mới chỉ
dừng lại ở cấp độ 2PL, 3PL tại các doanh nghiệp lớn, và thường làm nhiệm vụ của
người giao nhận (Forwarder, Freight Forwarder)
1.1.2. Giao nhận
Người kinh doanh dịch vụ giao nhận gọi là Người giao nhận ( Forwarder/ Freight
Forwarder/ Forwarding Agent), có thể là chủ hàng, chủ tàu, công ty xếp dỡ, hay chủ
kho hàng. Ngày nay, người giao nhận đóng vai trò quan trọng trong thương mại và

Forwarding có thể xếp vào cung cấp dịch vụ logistics, là một mảng nhưng cũng rất
quan trọng trong chuỗi logistics. Có thể hiểu Logistics = giao nhận + kho bãi + vận
tải ở mức độ cao (giao nhận kho vận ở mức độ cao) là sự phát triển ở giai đoạn cao
của các khâu dịch vụ giao nhận kho vận, trên cơ sở tận dụng các ưu điểm của công
nghệ để điều phối hàng hoá từ khâu tiền sản xuất tới tận tay người tiêu dùng cuối
cùng qua các công đoạn: dịch chuyển, lưu kho và phân phối hàng hoá.
Còn Forwarding, hay frieght forwarding là giao nhận. Có hai yếu tố khác biệt đó là:
Forwarding không bao gồm kho vận và phân phối hàng hoá.
1.1.3. Quá trình cung ứng và đặc điểm dịch vụ
Các mô hình cung ứng chủ yếu hiện nay
Dưới đây trình bày hai mô hình cung ứng dịch vụ logistics phổ biến
Mô hình 1 của công ty VINAFCO LOGISTICS, về việc nhập hàng hoá từ nước
ngoài, làm thủ tục hải quan, chuyển hàng, lưu kho,…
10
Mô hình 2 của công ty Translink Express về việc xuất hàng hoá ra nước ngoài, bao
gồm cả lấy hàng, đóng gói, lưu kho, vận chuyển,…
11
Sơ đồ 1. Quy trình nhập khẩu hàng hoá của công ty VINAFCO.
Sơ đồ 2. Quy trình xuất hàng hoá ra nước ngoài của công ty Translink Express.
Giới thiệu và tìm hiểu
nhu cầu của khách
hàng
Đề nghị sử
dụng sản
phẩm
Không

Mở các file tài liệu
Kiểm tra dữ liệu
Hoàn thiện

Nam, và hàng hoá của các tổ chức quốc tế. Yếu tố “quốc tế” trong “triển lãm, hội chợ
quốc tế” ở đây chính là việc có sự tham gia của các tổ chức, doanh nghiệp nước
ngoài.
Do đó, các hoạt động trong triển lãm, hội chợ, từ tổ chức cho đến vận chuyển, giao
nhận hàng hoá đều phải có tính chuyên nghiệp và mang tiêu chuẩn quốc tế. Điều này
không những ảnh hưởng lớn tới hoạt động của triển lãm, mà còn là vấn đề quan trọng
trong xúc tiến thương mại trong thời kỳ hội nhập hiện nay, hoặc liên quan tới vấn đề
ngoại giao của các nước bạn với Việt Nam.
Mặt khác, khác với hàng triển lãm của Việt Nam hoặc các sản phẩm tiêu dùng,
Thường là hàng tạm nhập, tái xuất (hoặc ngược lại) khác với các sản phẩm nhập khẩu
hay xuất khẩu vĩnh viễn hay sản phẩm tiêu dùng tại Việt Nam
Phần lớn hàng hóa của triển lãm, hội chợ quốc tế đều là hàng tạm nhập - tái xuất, do
đó được miễn thuế hàng hoá xuất nhập khẩu phi mậu dịch, chỉ phải nộp lệ phí hải
quan bằng một phần trăm giá tính thuế (theo giá tính thuế hàng hoá xuất khẩu phi
mậu dịch của cơ quan thuế tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương ấn định
thời gian)
Tuy nhiên, một số sản phẩm có thể được bán tại triển lãm, hoặc biếu, tặng ở Việt
Nam, hoặc bỏ đi, không tái xuất. Các sản phẩm này cần phải được làm thủ tục, tờ
khai khai báo cụ thể số lượng, tính chất,... trước khi nhập khẩu vào Việt Nam và
được sự cho phép của cơ quan hải quan.
Riêng hàng hoá để bán, mục đích bán cho các tổ chức chuyên doanh tại Việt Nam sẽ
khác với bán lưu niệm tại triển lãm, trong hồ sơ xin phép cần phải có bản sao hợp
đồng ký kết giữa chủ hàng với các tổ chức chuyên doanh tại Việt Nam, và phải nộp
thuế hàng hoá xuất nhập khẩu phi mậu dịch cho Hải quan tại địa điểm triển lãm.
13
Các sản phẩm đem triển lãm, hội chợ cũng có thể dùng xong tại một nơi và được
chuyển đi tiếp cho các triển lãm, hội chợ tại các thành phố, tỉnh thành khác cũng tại
Việt Nam. Từ triển lãm tại thành phố này đến thành phố khác, cần phải được làm
toàn bộ thủ tục hải quan lại.
Riêng các vật phẩm dùng để tiếp tân và phục vụ cho triển lãm, như thực phẩm, nước

cuộc triển lãm về công nghệ mà thuần tuý là trưng bày sản phẩm.
Các triển lãm vừa mang tính chất trưng bày vừa mang tính chất thương mại, giao dịch
có thể kể đến như Hội chợ thương mại quốc tế Việt Nam (Vietnam Expo) tổ chức
vào tháng 4 hàng năm (Vietnam Expo 2008 được tổ chức từ ngày 9/4 đến 13/4/2008.
Hoặc Hội chợ quốc tế Hà Nội (Hanoi Expo) được tổ chức vào tháng 10 hàng năm.
Trong khuôn khổ của hội chợ, triển lãm, có các khu vực dành để trưng bày các thành
tựu thương mại, đầu tư, khoa học, văn hoá xã hội, có các khu vực khác nhau dành
cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, và có khu vực dành
riêng cho giao dịch bất động sản, ngân hàng,... tại triển lãm. Hội chợ Hanoi Expo
năm 2007 có các hoạt động lớn diễn ra như diễn đàn doanh nghiệp các nước ASEAN
và các đối tác, tuần lễ văn hoá Bangkok, hội thảo thương mại Hà Nội - Tứ Xuyên
Trung Quốc, và nhiều cuộc toạ đàm mang tính chất quốc tế khác.
2. Đặc điểm thị trường logistic in-bound cho hàng Triển lãm, hội chợ thương
mại quốc tế tại Việt Nam
2.1. Những đặc tính tổng quát về thị trường
- Quy mô và cơ cấu:
Những thành phần chính tham gia vào thị trường gồm có:
+ Các nhà tổ chức triển lãm, hội chợ
+ Các doanh nghiệp kinh doanh trong ngành logistics
+ Các doanh nghiệp, tổ chức là khách hàng, tham gia vào triển lãm, hội chợ
Ngoài ra, còn có sự tham gia của các cơ quan Hải quan, các đại sứ quán hoặc các tổ
chức thương mại, tổ chức phi chính phủ có liên quan tới từng triển lãm, hội chợ….
Do đó, khách hàng của các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực logistics dành
cho hàng Triển lãm, hội chợ này chủ yếu là các doanh nghiệp hoặc tổ chức, hay nói
15
cách khác, đó là các khách hàng công nghiệp trên phạm vi địa lý Việt Nam. Hiện nay,
nước ta có khoảng 245000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động theo Luật doanh nghiệp
1999. trong đó 96% là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, sử dụng 2,6 triệu lao động. Số
lượng doanh nghiệp sẽ ngày càng tăng do cơ chế mở cửa tự do kinh doanh của nước
ta hiện nay.

cho hàng hoá, sản phẩm, phòng/ban phụ trách về logistics đầu vào đầu ra cho sản
phẩm.
Ngoài ra còn có các cá nhân, phòng ban có chức năng khác như kế toán – tài chính,
phòng kế hoạch, về các vấn đề kỹ thuật.
+ Các yếu tố mà khách hàng cân nhắc khi lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ này:
- Chất lượng dịch vụ và tính chuyên nghiệp: luôn đi kèm với uy tín của thương hiệu.
Do đó, một khi đã giành được khách hàng, giữ họ lại và biến họ thành khách hàng
trung thành là điều không mấy khó khăn đối với các doanh nghiệp đã có thương hiệu
và ấn tượng tốt.
- Quy mô của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ: điều này sẽ đảm bảo cho hàng hoá của
khách hàng luôn đến đúng giờ, được đóng gói và bảo quản tốt,… dựa trên hệ thống
trang thiết bị, kho bãi, phương tiện vận chuyển,… của doanh nghiệp.
- Giá dịch vụ: không phải là vấn đề quan trọng nhất đối với các khách hàng, do đặc
thù của dịch vụ là vận chuyển, giao nhận quốc tế, và là hàng hoá để triển lãm, nên
khách hàng sẵn sàng bỏ ra một khoản chi hợp lý nhằm đảm bảo cho hoạt động xúc
tiến thương mại diễn ra hiệu quả.
- Bảo hiểm cho hàng hoá: vấn đề này có thể do bên cung cấp dịch vụ logistics chịu
trách nhiệm hoặc khách hàng tự mua lấy bảo hiểm cho hàng hoá của mình, đề phòng
trường hợp hàng trong quá trình vận chuyển bị đổ, vỡ, hỏng , gẫy,…
+ Quá trình diễn ra quyết định mua của khách hàng
Diễn ra chủ yếu qua các bước sau:
- Bước 1: Xác định nhu cầu. Thông qua các kế hoạch kinh doanh, kế hoạch
marketing và xúc tiến hỗn hợp phát hiện ra sự cần thiết phải đưa sản phẩm đi triển
lãm và đồng thời với điều đó là nhu cầu về nhà cung cấp dịch vụ logistics cho
17
Triển lãm, hội chợ. Hoặc qua các thông báo mời tham dự triển lãm của các ban tổ
chức triển lãm, cũng như thư mời, quảng cáo của Offical Forwarder (các nhà giao
nhận chính thức) của các triển lãm giới thiệu về dịch vụ.
- Bước 2: Tìm kíêm thông tin: Các nhà giao nhận sẽ gửi hướng dẫn về vận chuyển
cho triển lãm cho doanh nghiệp (Shipping manual) trong đó có ghi rõ giá cả, thời

lập hiệp hội VIFFAS - hiệp hội Giao nhận kho vận Việt Nam.
Các dịch vụ cung cấp:
C Vận tải đường hàng không, đường biển, đường bộ đường sắt và vận tải
đa phương thức.
đ Giao nhận hàng công trình.
G Giao nhận hàng triển lãm.
G Giao nhận hành lý cá nhân.
G Hàng thu gom, hàng chia lẻ.
H Đại lý tàu biển & môi giới thuê tàu.
Đ Kinh doanh kho, kho ngoại quan.
K Dịch vụ thủ tục hải quan.
D Chuyển tải.
C Xuất nhập khẩu.
X Dịch vụ chuyển phát nhanh.
D Dịch vụ xây dựng.
D Khai thác cầu cảng.
K Dịch vụ giao hàng từ cửa tới cửa.
Một số số liệu về cơ sở vật chất và trang thiết bị của Vietrans:
Hệ thống kho của Vietrans
Thành Phố Kho Bãi
Hà Nội 10.000 m2 7.500 m2
Hải Phòng 120.000 m2 bao gồm 20.000 m2 kho 85.000 m2
19
ngoại quan
Nghệ An 1.500 m2 1.000 m2
Đà Nẵng 19.000 m2 bao gồm 5.000 m2 kho
ngoại quan
18.000 m2
Quy Nhơn 8.000 m2 18.000 m2
Hồ Chí Minh 9.200 m2 91.000 m2

Hiện đã được chia tách thành các công ty
Vinalink có vốn 36 tỷ, Vinafreight có vốn 27 tỷ, Vinatrans Hà Nội vốn 22 tỷ,
Vinatrans Đà Nẵng vốn 4,5 tỷ. Hiện nay mạng lưới VinaGroup đã rộng khắp toàn
quốc.
Vinatrans Hanoi sau khi trở thành thành viên chính thức của IATA năm 1998 đã
nhanh chóng mở rộng, phát triển dịch vụ của mình trong nước và quốc tế. Có hệ
thống kho bãi tại Hà Nội và văn phòng làm việc tại sân bay Nội Bài. Vận chuyển
phối hợp đường biển và hàng không, trung chuyển qua Singapore và Dubai. Là tổng
đại lý hàng hoá (GSA) của British Airway, Malaysia Airline, China Southern Airline.
Các dịch vụ cung cấp:
- Giao nhận từ kho chủ hàng hoặc sân bay đến sân bay hoặc kho người nhận với đa
dạng các mặt hàng: dày dép, may mặc thời trang, hàng máy móc thiết bị, hàng thủ
công mỹ nghệ, hàng rau quả.
- Vận chuyển kết hợp đường biển và đường hàng không
- Dịch vụ phát chuyển nhanh (chứng từ, hàng mẫu, hàng thương phẩm)
- Gom hàng lẻ xuất khẩu và chia lẻ hàng nhập khẩu
- Dịch vụ khai quan và giao nhận nội địa
- Dịch vụ đại lý hải quan
- Đại lý bán cước và hợp đồng vận chuyển với nhiều hãng hàng không lớn trên thế
giới cam kết tại Việt Nam : SQ, TG, VN, BA...
- Dịch vụ hậu cần cho triển lãm và dự án (Exhibition & Project handling)
- Trung chuyển cho Lào và Campuchia (cargo transit to Laos & Cambodia)
* Công ty SAFI (Sea & Air Freight International)
Số 39, đường Đoàn Như Hải, Quận 4, tp Hồ Chí Minh
http://www.safi.com.vn
http://www.safi-vn.com
21
Tel: 08 8253560
Fax: 08 8253610
Email: [email protected]

Đàu máy kéo 250 CV 20
Xe tải Lorry 20
Ô tô tải 40
Cẩu 60 TấnMobile crane 60 tonnes 01
Cẩu 45 TấnMobile crane 45 tonnes 01
Cẩu 25 tấn Mobile crane 25 tonnes 01
Cẩu 16 TấnMobile crane 16 tonnes 02
Tàu bốc dỡ 600 TấnBarge 500 tonnes 01
Tàu bốc dỡ 200 TấnBarge 200 tonnes 02
Tàu bốc dỡ 300 TấnBarge 300 tonnes 02
Jack 100 tonnes 12
Jack 70 tonnes 06
Jack 50 tonnes 06
Máy nâng 08
Máy lăn 100 tấnRoller 100 tonnes 06
Máy lăn 50 tấn Roller 50 tonnes 06
* Công ty Cổ phần Logistics Tân Thế Giới - Vinashin New World Logistics (từ đây
xin được viết tắt là VNW)
Là doanh nghiệp mới trong lĩnh vực logistics dành cho triển lãm và hội chợ tại Việt
Nam. Công ty được thành lập trực thuộc tập đoàn kinh tế Vinashin và nhằm khai thác
và củng cố thêm những lợi thế về tàu biển, kho bãi, hoạt động xuất nhập khẩu… sẵn
có của tập đoàn kinh tế. Logistics là một hướng đi quan trọng song song với nền công
nghiệp đóng tàu và các hoạt động kinh tế khác của tập đoàn Vinashin.
Năm 2008, VNW được chọn làm official forwarder cho triển lãm Vietship 2008 – là
triển lãm quốc tế lớn được tổ chức 2 năm một lần. Triển lãm diễn ra rất quy mô, giới
thiệu về các sản phẩm liên quan đến công nghệ đóng tàu, hàng hải, vận tải, thiết kế
nội thất tàu thuỷ, các thiết bị, hoá chất liên quan,… Việc trở thành nhà giao nhận
chính thức cho một triển lãm lớn đã giúp làm thay đổi vị thế của VNW trên thị
trường logistics dành cho hàng Triển lãm, hội chợ quốc tế tại Việt Nam hiện nay.
Các dịch vụ chính mà VNW tham gia

Tập đoàn Nissin (Nissin Corporation) là một trong 4 đơn vị kinh doanh trong lĩnh
vực giao nhận và logistics lớn nhất Nhật Bản. Có số vốn pháp định là 6.1 tỷ yen, 921
nhân viên và lao động, với trung bình 132.8 tỉ Yên doanh thu hàng năm. Có 281 chi
24
nhánh và văn phòng đại diện tại 23 quốc gia trên khắp thế giới. Được thành lập
14/12/1938 tại Onoe-cho, Naka-ku, thành phố Yokohama, hiện nay trụ sở chính của
tập đoàn tại số 5, Sanban-cho, Chioyada-ku, Tokyo.
Văn phòng đại diện tại Việt Nam (công ty Nissin Logistics VN) được thành lập
3/2006, với số vốn 500 000 USD. Mặc dù còn khá mới mẻ trên thị trường tuy nhiên
đã đảm nhận được nhiều hợp đồng từ phía công ty mẹ và một số triển lãm, sự kiện tổ
chức tại Việt Nam. Trong đó Nissin Logistics tham gia vào các triển lãm như Triển
lãm về các sản phẩm sinh thái, hay làm nhà vận chuyển, giao nhận chính cho triển
lãm của Toyota tại Việt Nam,…
Các dịch vụ mà Nissin Logistics VN cung cấp : xuất nhập khẩu hàng không, hàng
biển
Dịch vụ hải quan
Hậu cần cho Triển lãm, hội chợ
Dịch vụ chuyển nhà, chuyển văn phòng
Kho bãi và phân phối hàng hoá
Các dịch vụ vận chuyển, giao nhận bằng xe tải và container
Vận tải đa phương thức
Trụ sở công ty Nissin Logistics VN
Công ty NISSIN LOGISTICS (VN)
Phòng 403, toà nhà OCEAN PARK, số 1 Đào Duy Anh, Quận Đống Đa, Hà Nội
Ngoài ra, Nissin Logistic VN có chi nhánh tại Tp HCM
3.1.3. Kết luận chung về tình hình thị trường, khách hàng
Hiện nay, trên thị trường Việt Nam có khoảng 600 doanh nghiệp đăng ký hoạt động
kinh doanh các vấn đề liên quan tới logistics. Trong đó VIFFAS có 97 hội viên (77
chính thức và 20 hội viên liên kết). Thời gian hoạt động trung bình của các doanh
nghiệp là 5 năm với vốn đăng ký trung bình khoảng 1.5 tỷ đồng/doanh nghiệp, như


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status