Luận văn
Cho vay hợp vốn và một số giải
pháp phát triển và hoàn thiện
phương thức cho vay hợp vốn ở
Việt Nam
a. đặt vấn đề.
trong các hoạt động đầu tư hiện nay ở việt nam thì đầu tư
tín dụng là hoạt động đầu tư phức tạp, chứa đựng nhiều rủi ro và
cạnh tranh gay gắt nhất giữa các tổ chức tín dụng. trong hoạt
động tín dụng này, ngoài việc tổ chức tín dụng đơn phương cấp
tín dụng cho một dự án sản xuất kinh doanh hoặc toàn bộ dự án
của khách hàng, nhiều tổ chức tín dụng còn có thể cùng tham gia
đầu tư tín dụng cho một hoặc một phần dự án riêng rẽ theo hình
thức cho vay hợp vốn.
cho vay hợp vốn là phương thức cho vay còn khá mới mẻ với
thị trường tín dụng nước ta, nhưng ngày càng có vai trò to lớn
trong việc cung cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, các chương
trình kinh tế, đặc biệt là các chương trình kinh tế lớn và các tổng
công ty nhà nước góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế
đất nước. phương thức cho vay hợp vốn mở ra triển vọng khai
thác một hình thức đầu tư mới đối với nền kinh tế cho các tổ chức
tín dụng. cho vay hợp vốn không đơn thuần là một giải pháp
nghiệp vụ mà nó còn thể hiện sự phát triển cao về trình độ quản
lý vốn của các tổ chức tín dụng. cho vay hợp vốn không đơn giản
chỉ là cộng dồn vốn của các tổ chức tín dụng lại để đầu tư cho
một khách hàng mà thực sự nó là phương thức quản lý tiên tiến,
là môi trường cộng tác rất tốt để cho mỗi tổ chức tín dụng có thể
chủ động đối phó với với những nguy cơ rủi ro thường trực có
thể xảy ra bất cứ lúc nào. cho vay hợp vốn phát sinh trên nền tảng
cơ chế cạnh tranh. nó không thủ tiêu cạnh tranh mà ngược lại
nâng cao trình độ cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng. chính
- 3 -
i. cho vay hợp vốn
1. bản chất cho vay hợp vốn
1.1 bản chất
a. khái niệm: cho vay hợp vốn là khoản cho vay được thực hiện
bởi
ít nhất hai tổ chức cho vay với các điều khoản và điều kiện cam
kết chung được thể hiện trên cùng một văn bản ( hợp đồng hợp
vốn và hợp đồng tín dụng) và được thu xếp bởi một tổ chức đầu
mối thực hiện nghiệp vụ đại lý.
cho vay hợp vốn được thực hiện đối với nhu cầu vay vốn để đầu
tư cho các dự án theo các thời hạn: ngắn, trung, và dài hạn. các
bên tham gia góp vốn cho vay thống nhất phương thức thẩm định
dự án, có thể thành lập hội đồng thẩm định chung hoặc không
thành lập hội đồng thẩm định chung nhưng vẫn đảm bảo việc cho
vay được chặt chẽ thuận lợi đồng thời phải quản lý được dự án
sau khi cho vay nhằm kiểm tra thường xuyên, định kỳ đối với bên
vay để xử lý những vấn đề phát sinh.
các tổ chức tham gia góp vốn sẽ tự chọn ra một tổ chức tín dụng
làm đầu mối. tổ chức tín dụng đầu mối có thể là tổ chức tín dụng
hoặc là chi nhánh của tổ chức tín dụng mà doanh nghiệp có nhu
cầu vay vốn hoặc xin bảo lãnh mở tài khoản tiền gửi thanh toán.
mọi quan hệ tín dụng đều thông qua tổ chức tín dụng đầu mối.
b. bản chất:
các tổ chức tín dụng có thể lựa chọn hoặc đơn phương cho doanh
nghiệp vay từ nguồn vốn của mình hoặc hợp vốn để cho vay.
nhưng xuất phát từ nguyên tắc phân tán rủi ro để bảo toàn vốn
kinh doanh, các tổ chức tín dụng luôn tìm mọi cách để khoản vay
của mình mang lại lợi nhuận cao mà rủi ro có thể chấp nhận
Ph¹m §×nh Trinh Líp Tµi chÝnh c«ng 41A
- 5 -
khách hàng vượt quá 15% vốn tự có thì các tổ chức tín dụng chủ
động tìm các thành viên khác cùng góp vốn để cho vay. còn nếu
khách hàng có yêu cầu vay vốn từ nhiều nguồn thì mặc dù khả
năng nguồn vốn của một tổ chức tín dụng cũng có thể đủ để cho
vay nhưng vì yêu cầu của khách hàng phải tìm các thành viên để
cùng thực hiện cho vay theo yêu cầu của khách hàng.
b. nhu cầu phân tán rủi ro của các tổ chức tín dụng: nhìn
chung
những dự án lớn hàm chứa độ rủi ro cao. thông qua phương thức
cho vay hợp vốn các tổ chức tín dụng phân tán bớt rủi ro cho
nhau, cùng chia lãi nếu dự án đó đêm lại hiệu quả và cùng chia sẻ
rủi ro nếu tổn thất từ cho vay hợp vốn nảy sinh. như vậy đây là
nhu cầu hoàn toàn phụ thuộc vào tính chủ quan của các tổ chức
tín dụng.
c. khả năng nguồn vốn của một tổ chức tín dụng không đáp
ứng được nhu cầu vốn của dự án. tình trạng này xảy ra có thể là
do nhu cầu vốn huy động tổ chức tín dụng quá nhỏ hoặc tại thời
điểm đó có nhiều khách hàng đến vay vốn vì vậy cần thiết
phải cho vay hợp vốn.
1.3 rủi ro trong cho vay hợp vốn.
a. rủi ro liên kết.
rủi ro liên kết là loại rủi ro nảy sinh từ sự hợp tác kiên kết trong
hợp vốn không có hiệu quả.
rủi ro liên kết xuất phát từ những giai đoạn:
* giai đoạn mời gọi hợp vốn: rủi ro trong giai đoạn này bắt
nguồn từ phía ngân hàng mời hợp vốn. do không chọn kỹ đối tác
Ph¹m §×nh Trinh Líp Tµi chÝnh c«ng 41A
- 6 -
ngân hàng cho vay hợp vốn còn bị rủi ro ngay cả khi đơn vị kinh
tế có quan hệ tín dụng với ngân hàng bị rủi ro. khi các đơn vị
kinh tế vay vốn của ngân hàng gặp rủi ro dẫn đến làm ăn thua lỗ
và không có khả năng trả nợ vốn vay ngân hàng. như vậy ngân
hàng đã gặp rủi ro khi khách hàng của mình bị rủi ro. rõ ràng khả
năng gặp rủi ro của ngân hàng đã bị nhân lên gấp đôi.
thứ hai, khi đầu tư tín dụng có nghĩa là ngân hàng đã trao
quyền sử dụng sản phẩm của mình là tiền cho khách hàng. mà
khả năng kiểm soát quá trình sử dụng sản phẩm của ngân hàng là
rất khó khăn bởi tính phức tạp của việc sử dụng tiền vay. sự kiểm
soát của ngân hàng chỉ có giới hạn, yếu tố rủi ro luôn thường trực
đối với nghiệp vụ này.
thứ ba, tiền là sản phẩm của ngân hàng, khi thực hiện
nghiệp vụ tín dụng nó lại là mục đích của người vay vốn. một số
doanh nghiệp làm ăn không đúng đắn khi vay được vốn là thực
hiện được mục tiêu của mình, họ không những sử dụng quyền sử
dụng đồng tiền của ngân hàng mà họ còn muốn chiếm đoạt luôn
quyền sở hữu chúng. với loại doanh nghiệp này rủi ro phát sinh
ngay từ khi ngân hàng bắt đầu thực hiện nghiệp vụ tín dụng đối
với họ.
c. rủi ro lãi suất.
rủi ro lãi suất là rủi ro có liên hệ đến tính chất không chắc chắn
về biến động lãi suất và lợi tức. đây là loại rủi ro mang tính chất
xã hội. lãi suất trong hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung
cũng như trong cho vay hợp vốn nói riêng được xem như giá cả
của hàng hoá đặc biệt. cũng như mọi hàng hoá khác, loại rủi ro về
giá cả của hàng hoá đặc biệt này lên xuống bất thường trong việc
Ph¹m §×nh Trinh Líp Tµi chÝnh c«ng 41A
- 8 -
kinh doanh theo cơ chế thị trường là điều khó tránh khỏi. tuy
kinh tế đã làm thay đổi giá trị đồng tiền của mỗi nước và là
nguyên nhân chính thay đổi tỷ giá các đồng tiền. khi đó nếu các
ngân hàng cho vay hợp vốn bằng ngoại tệ thì chịu tác động của
rủi ro tỷ giá là rất lớn.
2. quy trình thực hiện cho vay hợp vốn.
quy trình cho vay giữa các tổ chức tín dụng và khách hàng:
đơn phương cho vay
Ph¹m §×nh Trinh Líp Tµi chÝnh c«ng 41A
- 10 -t i v n vayà ố
s nả
v n ch ố ủ
s h uở ữ
v n c a tctdố ủ
thực hiện cho vay
doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh
hợp vốn để cho vay
2.1 hợp vốn để cho vay
với tư cách là đại lý thu xếp, tổ chức tín dụng phải thực hiện các
bước cụ thể sau:
a. xác định nhu cầu người vay: tổ chức tín dụng đầu mối
phải chủ động tìm dự án và nhu cầu vay của khách hàng. bằng
các biện pháp tiếp thị và nghiệp vụ hợp lý để có được đề nghị vay
vốn của khách hàng. khi nhận được hồ sơ xin vay của khách hàng
Ph¹m §×nh Trinh Líp Tµi chÝnh c«ng 41A
khách hàng và dự án, tổ chức tín dụng đầu mối cung cấp mức
chào vốn hợp lý và hấp dẫn với người vay. thoả thuận để có được
uỷ nhiệm và thống nhất kế hoạch cho vay hợp vốn.
b.tiến hành quá trình hợp vốn: khi đã xem xet nhu cầu vay
vốn của khách hàng và thấy cần phải cho vay theo phương thức
cho vay hợp vốn. tổ chức tín dụng đầu mối tiến hành quá trình
hợp vốn bằng cách gửi giấy mời tham gia hợp vốn kèm theo dự
thảo hợp đồng hợp vốn để cho vay và văn bản thoả thuận với
người vay đến các tổ chức tín dụng khác.
tiến hành triệu tập các thành viên đồng ý tham gia hợp vốn đẻ
thoả thuận và xác định mức vốn góp của các tổ chức tín dụng.
c. chuẩn bị hợp đồng hợp vốn: tổ chức tín dụng đầu mối
chuẩn bị hợp đồng hợp vốn, trong đó xác định rõ quyền lợi và
nghĩa vụ của các bên tham gia hợp vốn, củ thể là: tổ chức tín
dụng đầu mối, các tổ chức tín dụng thành viên, mức vốn tham gia
cho vay của từng thành viên, thời hạn tham gia hợp vốn, phí cam
kết hợp vốn, phương pháp thẩm định( sư dụng kết quả thẩm định
đơn phương của tổ chức tín dụng đầu mối hay phối hợp thẩm
Ph¹m §×nh Trinh Líp Tµi chÝnh c«ng 41A
- 12 -
định chung), phương thức cho vay, biện pháp đảm bảo tiền vay
có thể được sử dụng, phương thức giải ngân và thu hồi nợ vay,
mức phí thu xếp hợp vốn để cho vay, xử lý rủi ro trong quá trình
hợp vốn.
d. ký kết hợp đồng hợp vốn và hợp đồng tín dụng: sau khi
dã thoả thuận , các bên tiến hành ký kết các hợp đồng hợp vốn và
hợp đồng tín dụng và chuyển các văn bản cần thiết lên các cơ
quan liên quan. tiến hành đàm phán lại với khách hàng để thực
hiện giải ngân.
2.2 phương thức cho vay:
- xử lý tranh chấp rủi ro
c.phương thức cho vay: phương thức cho vay trong cho
vay hợp vốn cũng giống như trường hợp đơn phương cho vay, tổ
chức tín dụng đầu mối và các thành viên có thể thoả thuận với
khách hàng để áp dụng một trong các phương thức cho vay sau:
- cho vay từng lần: phương thức cho vay này được tiến hành căn
cứ vào kế hoạch, phương án hoặc từng khâu, từng đối tượng củ
thể để xác định là một lần vay. phương thức này áp dụngvới
những khách hàng có nhu cầu vay, trả không thường xuyên, kinh
doanh theo từng mùa vụ. đặc điểm của phương thức cho vay
nàylà việc cho vay và thu nợ được được phân định ranh giới một
cách rõ ràng, dễ nhận biết được khi nào cho vay, khi nào thu nợ.
việc cho vay và thu nợ được thực hiện thông qua tài khoản cho
vay thông thường.
Ph¹m §×nh Trinh Líp Tµi chÝnh c«ng 41A
- 14 -
- cho vay theo hạn mức: các tổ chức tín dụng và khách hàng xây
dựng một hạn mức tín dụng duy trì trong thời hạn nhất định hoặc
theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh. phương thức này chỉ áp dụng
với những khách hàng có nhu cầu vay trả thường xuyên và có tín
nhiệm trong quan hệ tín dụng, vòng quay vốn nhanh. đặc điểm
của phương thức cho vay này là việc cho vay và thu nợ đan xen
nhau, không phân định ranh giới và thời điểm củ thể khi nào cho
vay, khi nào thu nợ. việc cho vay, thu nợ được thực hiện thông
qua tài khoản cho vay luân chuyển(bên nợ của tài khoản này
phản ánh các khoản tiền vay của khách hàng, bên có phản ánh
các khoản trả nợ của khách hàng)
- cho vay theo dự án: phương thức này được áp dụng khi các tổ
chức tín dụng hợp vốn cho khách hàng vay để thực hiện dự án
đầu tư phát triển sản
thì phải ký hợp đồng tín dụng. đơn xin vay là cơ sơ để tổ chức tín
dụng : kiểm tra khả năng vay và khả năng chi trả của người vay,
ký hợp đồng tín dụng, ký hợp đồng bảo đảm tín dụng.
khi kiểm tra khả năng vay, phải phát hiện xem khách hàng xin
vay có khả năng hoạt động và quyền hoạt động hay không. kiểm
tra khả năng vay là tiền đề để cho tất cả các hoạt động khác của
tổ chức tín dụng đối với khách hàng nào đó , trong đó kể cả kiểm
tra khả năng chi trả của họ. thực chất của việc kiểm tra trước hết
là xem khách hàng đó có thể trả nợ tiền vay, tiền lãi và các khoản
chi trả khác kịp thời hay không. tất cả những điều còn lại là đặc
trưng bên ngoài của hợp đồng tín dụng mà mục đích chính là thu
được lợi nhuận tối đa. tất nhiên, trong việc kiểm tra khả năng chi
Ph¹m §×nh Trinh Líp Tµi chÝnh c«ng 41A
- 16 -
trả của khách hàng vay số tiền nhỏ và khách hàng vay số tiền lớn
có những khác biệt to lớn. bắt đầu từ một số tiền vay nhất định,
tất cả các khách hàng đều phải giải trình các chỉ tiêu kinh tế của
mình. trước hết đó là xuất trình bảng cân đối kế toán hàng năm và
các chỉ tiêu hoạt động khác. trong bảng cân đối kế toán, khi cấp
tín dụng các tổ chức tín dụng chú ý nhất tới cân đối thương
nghiệp và cân đối thuế.
theo quan điểm của các tổ chức tín dụng, điều quan trọng nhất
để giải quyết vấn đề cấp tín dụng là việc phân tích các chỉ tiêu
sau: cơ cấu tài chính, các nguồn vốn thanh toán, kế hoạch tài
chính, báo cáo tài chính hàng năm của công ty.
sau khi việc kiểm tra khả năng chi trả của khách hàng được
kết thúc trên cơ sơ phân tích nhiều chứng từ của họ và có được
kết luận nghiệp vụ tín dụng đó sẽ có lợi , thì các tổ chức tín dụng
mới đồng ý cấp tín dụng cho khách hàng. sự đồng ý cho vay được
thể hiện bằng văn bản, đây là điều bắt buộc đối với khoản cho
chương ii. thực trạng cho vay hợp vốn ở việt nam.
1. cho vay hợp vốn ở việt nam chưa thực sự phát triển.
trong những năm cuối thế kỷ 20, cho vay hợp vốn là phương
thức tài trợ của ngân hàng được sử dụng phổ biến từ lâu ở các
nước phát triển, đã du nhập vào thị trường tín dụng nước ta. thực
ra phương thức cho vay hợp vốn đã du nhập vào nước ta từ
những năm 1990, nhưng cho đến nay hình thức cho vay nay ở thị
trường tín dụng nước ta chưa được các tổ chức tín dụng áp dụng
nhiều.
Ph¹m §×nh Trinh Líp Tµi chÝnh c«ng 41A
- 18 -
ngược dòng thời gian, từ những năm 1989- 1990, đã bắt đầu
hình thành những khoản cho vay hợp vốn ngắn hạn đầu tiên liên
kết giữa một số ngân hàng thương mại vùng đồng bằng sông cửu
long để chủ động tài trợ cho những hợp đồng xuất, nhập khẩu có
giá trị tương đối lớn với các nước đông âu ( cho vay của một hiệp
hội ngân hàng). nhưng phải đến khoảng những năm 1996-1997
thì mới có chiều hướng sinh sôi nảy nở với việc hình thành
những khoản cho vay hợp vốn thực sự, trong đó chỉ có những
khoản cho vay hợp vốn sau là đáng kể:
năm 1996, ngân hàng ngoại thương việt nam và ngân hàng
công thương việt nam hợp vốn cho vay dự án xây dựng khách sạn
hà nội của ubnd thành phố hà nội và các dự án cải tạo, đổi mới
thiết bị của công ty dệt 8/3. năm 1997, dưới sự chủ trì của nhnn
tỉnh đắclắc, các ngân hàng trên địa bàn tỉnh này đã góp vốn tài trợ
cho dự án phát triển cây trồng của địa phương và một số hợp
đồng về cà phê ở địa phương.
sau khi đúc rút kinh nghiệp về những khoản cho vay hợp
vốn có hiệu quả nói trên, nhnn đã ban hành quy chế đồng tài trợ
theo quyết định số 154 ngày 29/ 04/ 1998 của thống đốc nhnn,
nam vàngân hàng đầu tư và phát triển việt nam cho vay hợp vốn
dự án mở rộng cầu điên biên phủ 330 tỷ vnd.
tám ngân hàng thương mại, bao gồm các ngân hàng thương
mại quốc doanh, một số ngân hàng thương mại cổ phần và ngân
hàng thương mại liên doanh, cho vay hợp vốn cho tổng công ty
điện lực 100 triệu usd thực hiện dự án nhiệt điện phú mỹ 2-1,
trong đó ngân hàng ngaọi thương việt nam tham gia hợp vốn
45%.
Ph¹m §×nh Trinh Líp Tµi chÝnh c«ng 41A
- 20 -
như vậy, cho đến nay quan hệ cho vay hợp vốn đã có một
bước phát triển mới. tuy nhiên, so với tiềm năng và nhu cầu nền
kinh tế đất nước, cũng như lợi ích của các tổ chức tín dụng cho
vay hợp vốn thì những kết quả đạt được còn khá khiêm tốn. biểu
hiện sự chưa phát triển của cho vay hợp vốn ở nước ta đó là sức
dư nợ hàng năm về cho vay hợp vốn so với tổng dư nợ hàng năm.
nếu như ở các nước phát triển cho vay hợp vốn là hình thức đầu
tư tín dụng chủ yếu và chiếm tỷ lệ cao trong tổng dư nợ hàng
năm thì ở việt nam ngay như ở ngân hàng ngoại thương việt nam-
đơn vị đi đầu trong hầu hết các khoản cho vay hợp vốn với phần
vốn lớn nhất trong từng khoản mục, mặc dù tổng dư nợ trong cho
vay hợp vốn đã tăng nhưng nếu đem so sánh với tổng dư nợ hàng
năm thì chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ bé.
nguyên nhân chính có thể là do các tổ chức tín dụng gặp
một số vướng mắc về mặt kỹ thuật.
về nguồn vốn: nguồn vốn ngắn hạn tương đối sẵn sàng,
nhất là trong giai đoạn trước mắt đang có hiện tượng “đọng vốn”
tại nhiều ngân hàng thương mại. trái lại, nguồn vốn dài hạn lại
quá hiếm. trong những khoản cho vay trung, dài hạn riêng rẽ
cũng như cho vay hợp vốn, nguồn vốn hầu như đều thuộc loại
chóng thành công một khoản cho vay hợp vốn.
đối với khoản cho vay bằng ngoại tệ, tất nhiên phải áp dụng mức
lãi suất quốc tế. các tổ chức tín dụng có quan hệ ký thác ngaọi tệ
tại các ngân hàng nước ngoài ở những thị trường tài chính khác
nhau chỉ được căn cứ vao lãi suất sibor (singapo interbank
offered rates- lãi suất liên ngân hàng thị trường singapo) có khi
lại gây khó khăn cho một số tổ chức tín dụng. lại còn việc áp
dụng múc lãi suất nào, cố định, biến đổi hay điều chỉnhđể đề
Ph¹m §×nh Trinh Líp Tµi chÝnh c«ng 41A
- 22 -
phòng rủi ro khi lãi suất biến động cũng đòi hỏi những hiểu biết
và kinh nghiệm nhất định. những điều đó còn khá phức tạp, có
khi làm nản lòng một số tổ chức tín dụng chưa thật quen thuộc
hoạt động của các thị trường tài chính quốc tế.
về lệ phí: tại điều 11 của quy chế đồng tài trợ quy định chế
độ lệ phí chỉ đề cập đến “phí thu xếp” mà tổ chức tín dụng đầu
mối được hưởng có lẽ là chưa hợp lý. sau khi dàn dựng xong một
khoản cho vay hợp vốn, việc quản lý thực hiện hợp đồng tin
dụng, khá nhiều phức tạp, kéo dài, đòi hỏi nhiều công sức như
gom vốn để giải ngân theo kỳ hạn, thu, chia lãi phí thu hồi nợ
theo dõi việc thực hiện hợp đồng tín dụng, nên cần có mức thù
loa thoả đáng cho tổ chức tín dụng đảm nhiệm công đoạn này.
về cơ chế: ngân hàng nhà nước ban hành quyết định 154
ngày29/04/ 1998 về quy chế đồng tài trợ đã vạch ra những những
quy định và hướng dẫn các tổ chức tín dụng thực hiện cho vay
hợp vốn. nhưng còn có một số điều chưa khiến cho các tổ chức
tín dụng mặn mà với phương thức cho vay mới.
2. nhiều tổ chức tín dụng cùng cho vay một khách hàng,
nhưng không đảm bảo cho vay hợp vốn.
hiện nay ở nước ta nhiều tổ chức tín dụng cùng cho một
tệ ngoại tệ) ở rất nhiều ngân hàng mà có khi các ngân hàng không
hề biết hoặc biết cũng làm như không bởi nhiều lý do, nguyên
nhân khác nhau. có thể kể đến như: do nguồn lợi trước mắt, đó là
dư nợ tăng, có thu lãi hàng tháng mà việc cho vay xem ra chẳng
có gì vi phạm chế độ quy định và khả năng thu nợ trước mắt vẫn
đảm bảo vì doanh nghiệp đã mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại
ngân hàng mình. hơn nữa, các khách hàng đó chủ yếu là các
doanh nghiệp nhà nước nên các ngân hàng cũng yên tâm hơn.
Ph¹m §×nh Trinh Líp Tµi chÝnh c«ng 41A
- 24 -
nhưng trên thực tế, khả năng thanh toán của một số doanh nghiệp
là rất mong manh vì với một khối lượng dư nợ lớn, kinh doanh
không hiệu quả, có khi phải đảo nợ từ ngân hàng này sang ngân
hàng khác lại được dựa trên vốn tự có rất nhỏ, đến lúc đó rủi ro là
tất yếu.
về thực trạng này theo em là do một số nguyên nhân sau:
quan hệ giữa doanh nghiệp và ngân hàng chưa được cải
thiện theo chiều hướng quan hệ đôí tác lành mạnh, tin nhau
cậy lẫn nhau. ngân hàng có tâm lý sợ khách hàng bỏ rơi, nên
nhiều khi bỏ qua hoặc hạ thấp tiêu chuẩn tín dụng, hậu quả thật
khó lường. khách hàng chưa thật lòng với ngân hàng, tình trạng
vay ngân hàng này trả ngân hàng kia. như vậy, vô tình giữa các
ngân hàng đã có sự đồng tài trợ một cách tự phát, gây phương hại
lẫn nhau. hiện nay, có nhiều ngân hàng vì lý do an toàn của mình,
đã đưa ra hạn mức tín dụng nhằm khống chế mức vay vốn của
doanh nghiệp, khiến cho các doanh nghiệp gặp khó khăn hơn về
vốn, phải chuyển sang quan hệ với ngân hàng khác để tìm nguồn
tín dụng bổ sung.
chưa có sự liên kết hợp tác thống nhất giữa các tổ chức
tín dụng: