Một số giải pháp phát triển loại hình thẻ connect 24 tại ngân hàng ngoại thương việt nam - chương 3 - Pdf 31

Chơng III Giải pháp phát triển loại hình thẻ Connect 24 tại Vietcombank
Chơng III
Giải pháp phát triển loại hình thẻ CONNECT 24
tại Vietcombank trong thời gian tới
Với dân số hơn 80 triệu ngời, trong đó khoảng 20 triệu sống ở thành thị, Việt Nam là
một thị trờng tiềm năng cho việc phát triển thẻ ghi nợ nói chung và thẻ CONNECT 24
nói riêng. Tuy nhiên, để tiềm năng đó trở thành hiện thực, còn cần rất nhiều nỗ lực của
không chỉ từ phía Vietcombank, mà cả từ phía Nhà nớc và toàn hệ thống ngân hàng th-
ơng mại.
I. Triển vọng phát triển thị trờng thẻ ghi nợ ở Việt Nam
1. Triển vọng phát triển của thẻ ghi nợ ở Việt Nam
Qua nghiên cứu thực tế tình hình phát hành thẻ của các ngân hàng thơng mại, ở Việt
Nam hiện nay, hầu nh chỉ có thẻ tín dụng quốc tế đợc phát hành (chiếm hơn 80% số
thẻ phát hành) và số lợng các chủ thẻ cũng chủ yếu tập trung vào đối tợng ngời nớc
ngoài ở Việt Nam (chiếm tới 75% số ngời sử dụng). Tuy nhiên, nếu căn cứ vào điều
kiện thu nhập, tâm lý tiêu dùng ngời Việt, cũng nh xu thế chung của thế giới, đã đến
lúc các ngân hàng Việt Nam cần chú trọng hơn nữa để phát triển thị trờng thẻ ghi nợ
nội địa, một mảng thị trờng rất giàu tiềm năng vẫn đang còn bỏ ngỏ.
Thẻ tín dụng mặc dù rất có lợi, ngời sử dụng đợc mặc nhiên chiếm dụng vốn của ngân
hàng trong khoảng 15-45 ngày mà không phải trả lãi, tuy nhiên, xu thế gần đây cho
thấy số lợng thẻ tín dụng đã giảm do công chúng thích sử dụng thẻ ghi nợ hơn vì thủ
tục gia nhập đơn giản, không phải chứng minh tài chính, không phải cầm cố, thế chấp,
không bị giới hạn mức chi tiêu. Trên thực tế, sự a thích thẻ ghi nợ so với thẻ tín dụng
của công chúng còn xuất phát từ một nguyên nhân khác mang tính chất tâm lý, đó là:
không phải lo lắng về trách nhiệm tài chính. Hầu hết ngời Việt Nam cha có thói quen
với việc quản lý chi tiêu và có trách nhiệm thanh toán d nợ hàng tháng đúng ngày quy
định. Nhiều ngời đã tỏ ra ngần ngại trớc việc sử dụng thẻ tín dụng bởi vì họ sợ phải th-
ờng trực nỗi lo về việc chi trả các khoản tín dụng đáo hạn theo từng tháng. Chính vì
63
Chơng III Giải pháp phát triển loại hình thẻ Connect 24 tại Vietcombank
tâm lý này, mà không chỉ ngời Việt, mà cả đối với nhiều ngời á Đông nói chung, đều

hơn 60% dân số, trong vòng 5-10 năm nữa sẽ có những thay đổi đáng kể về mặt cơ cấu
độ tuổi theo hớng thuận lợi cho việc ứng dụng sản phẩm mang tính định hớng công
nghệ nh dịch vụ thẻ thanh toán. Đó là, trong khoảng 24% dân số thành thị, có khoảng
30% những ngời đang học tập và công tác ở độ tuổi 15 đến 30 có những kiến thức cơ
bản về tin học và có khả năng tiếp nhận dịch vụ mới dựa trên nền tảng công nghệ. Nh
vậy sau 5-10 năm nữa, đối tợng có khả năng tiếp nhận sản phẩm mới sẽ đợc mở rộng ra
lứa tuổi trong khoảng 20-40 tuổi và sẽ chiếm tỷ trọng lớn những ngời trong độ tuổi lao
động ở thành thị. Khả năng tiếp thu những tiến bộ mới của khoa học công nghệ và sự
tăng lên của mức thu nhập khả dụng sẽ là những nhân tố tạo điều kiện cho tầng lớp dân
c này dễ dàng chấp nhận sử dụng những dịch vụ ngân hàng và phơng tiện thanh toán
mới.
Nếu các ngân hàng có thể khai thác đợc việc sử dụng một số lợng 3-4 triệu thẻ đó
trong lu thông, các ngân hàng đã có một dịch vụ phát hành thẻ tơng đối lớn và hiệu
quả.
b) Thị trờng thanh toán
Hiện nay, mạng lới đơn vị chấp nhận thẻ cha rộng và cha đa dạng phục vụ cho nhu cầu
sinh hoạt hàng ngày của ngời Việt Nam. Tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt trong
chi tiêu dùng cá nhân của ngời dân Việt Nam còn rất thấp. Cùng với việc phát triển
mạnh sử dụng thẻ ghi nợ của ngời dân Việt Nam và trên cơ sở tăng tỷ trọng chi tiêu cá
nhân bằng thẻ, các ngân hàng có thể đạt đợc một doanh số thanh toán khổng lồ. Với
mức chi tiêu sinh hoạt cá nhân tối thiểu 500.000 đến 1000.000 VND/tháng tính trên 4
triệu thẻ ghi nợ, các ngân hàng có tổng doanh số sử dụng và thanh toán thẻ nội địa từ
2000 đến 4000 tỷ VND/tháng. Đây quả thực là một con số không nhỏ, và rất đáng để
các ngân hàng thơng mại Việt Nam quan tâm.
Tuy nhiên, với xuất phát điểm nh hiện nay, thị trờng Việt Nam phải giải quyết đợc vấn
đề con gà, quả trứng, đó là việc phát hành thẻ và việc mở rộng mạng lới chấp nhận
thanh toán thẻ. Đây là hai công việc phụ thuộc và tác động lẫn nhau. Phát triển phát
hành thẻ sẽ thúc đẩy việc mở rộng mạng lới chấp nhận thẻ ; ngợc lại, việc mở rộng
65
Chơng III Giải pháp phát triển loại hình thẻ Connect 24 tại Vietcombank

Chỉ tiêu
Năm
2003 2004 2005
Số máy ATM 150 200 250
Số thẻ CONNECT 24 phát hành 75.000 180.000 250.000
Số thẻ ghi nợ quốc tế phát hành 5.000 20.000 50.000
Tổng doanh số sử dụng thẻ (tỷ VND) 800 1.500 2500
Nguồn : Phòng quản lý thẻ Vietcombank, 2001
Với các chỉ tiêu đặt ra này, Vietcombank khẳng định kinh doanh thẻ ghi nợ là một dịch
vụ quan trọng trong chiến lợc phát triển của mình. Phấn đấu đến năm 2005, thẻ ghi nợ
phải trở thành phơng tiện thanh toán tơng đối phổ biến trong một bộ phận dân c ở
thành phố và khu công nghiệp.
Cho đến nay, đối với loại hình thẻ CONNECT 24, trong 3 quý đầu năm 2003, số lợng
thẻ CONNECT 24 phát hành đã vợt quá 70.000 thẻ, nh vậy khả năng vợt chỉ tiêu
75.000 thẻ đề ra cho cả năm, nh đã nói, hoàn toàn có khả năng đạt đợc. Mục tiêu phát
hành 180.000 thẻ năm 2004 và 250.000 thẻ năm 2005 dờng nh có vẻ hơi thấp, nếu nh
căn cứ vào tốc độ tăng trởng của số lợng thẻ CONNECT 24 phát hành hiện nay.
Đối với loại hình thẻ ghi nợ quốc tế, Vietcombank đã có đàm phán và sẽ phát hành thẻ
ghi nợ quốc tế mang thơng hiệu VISA-Electron trong năm tới. Đây cũng sẽ là một sản
phẩm rất triển vọng, nhằm vào đối tợng là các du học sinh Việt Nam ở nớc ngoài, ngời
Việt Nam thờng xuyên đi công tác nớc ngoài, và ngời nớc ngoài sinh sống, làm việc tại
Việt Nam.
III. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển loại hình thẻ CONNECT 24
tại Vietcombank trong thời gian tới
1. Một số kiến nghị vĩ mô
Qua những phần trớc, ta có thể khẳng định rằng thẻ ghi nợ là một phơng tiện thanh
toán hiện đại, có thể sử dụng không chỉ trên thị trờng nội địa mà còn cả trên thị trờng
quốc tế. Về mặt hình thức, thẻ ghi nợ đã du nhập vào Việt Nam từ năm 90 song trên
thực tế cho đến giờ, thẻ ghi nợ vẫn còn khá mới mẻ với đa số ngời tiêu dùng Việt Nam.
Vậy, làm cách nào để phát triển thị trờng thẻ thanh toán Việt Nam, một thị trờng đã từ

Chơng III Giải pháp phát triển loại hình thẻ Connect 24 tại Vietcombank
Nhà nớc cần khuyến khích việc đầu t, mở rộng dịch vụ thẻ thanh toán, bằng việc đa ra
chính sách miễn giảm các mức thuế liên quan đến việc nhập khẩu công nghệ thẻ và các
mức thuế liên quan đến thanh toán thẻ.
Về việc nhập khẩu công nghệ thẻ, hiện nay, các ngân hàng thơng mại vẫn đang phải
nhập khẩu toàn bộ các máy móc, thiết bị, và toàn bộ các phụ tùng thay thế từ nớc ngoài
với mức thuế nhập khẩu rất cao. Thêm vào đó, các chi phí nh lắp đặt, vận hành, và bảo
dỡng cũng rất tốn kém, tạo nên một khoản chi phí đầu vào quá lớn. Vì vậy, nhà nớc
cần xem xét giảm thuế nhập khẩu cho những máy móc phục vụ cho công nghệ thẻ ở
Việt Nam, hay ít ra cũng có thể tạo điều kiện cho hoạt động nhập khẩu này.
Về việc thanh toán thẻ, thanh toán thẻ là một hình thức thanh toán có lợi cho toàn xã
hội về nhiều mặt, rất cần đợc khuyến khích phát triển. Hiện nay mức thuế VAT đợc áp
dụng cho thanh toán thẻ là 10%, nh bao hàng hóa, dịch vụ thông thờng khác. Để nâng
đỡ sự phát triển cho nghành kinh doanh mới mẻ và tốn kém này, trong thời gian tới,
Nhà nớc cần xem xét việc đa ra mức thuế VAT u đãi hơn, nhằm khuyến khích việc sử
dụng thẻ trong toàn xã hội.
1.3. Hoạch định chiến lợc về thẻ cho toàn hệ thống ngân hàng thơng mại
Ngoài NHNN, hiện nay có một cơ quan quản lý nhà nớc khác là Hiệp hội Các ngân
hàng thanh toán thẻ Việt Nam, cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc hoạch định
các chiến lợc nhằm tạo lập một môi trờng thống nhất về quản lý, bình đẳng về cạnh
tranh giữa các ngân hàng phát hành và thanh toán thẻ trong cả nớc.
Hiệp hội Các ngân hàng thanh toán thẻ thờng xuyên làm việc với NHNN và duy trì
mối quan hệ chặt chẽ với các tổ chức thẻ quốc tế nhằm đẩy mạnh hơn nữa việc phát
triển nghiệp vụ thẻ ở Việt Nam. Hiệp hội cũng đã thu hút gần hết các ngân hàng thực
hiện dịch vụ thẻ ở Việt Nam tham gia, thống nhất chính sách chung nhằm mục đích
đảm bảo lợi nhuận cho tất cả các ngân hàng và thị trởng thẻ cạnh tranh lành mạnh.
Tuy vậy, trong thời gian tới, hoạt động của Hiệp hội cần mạnh mẽ và có hiệu quả hơn,
cần có những quy định nghiêm khắc về chế tài, đóng góp tích cực hơn cho sự phát triển
dịch vụ thẻ tại Việt Nam. Hiệp hội cần nắm bắt tốt hơn nữa những khó khăn, thuận lợi
của các ngân hàng trong Hiệp hội về phát hành và thanh toán thẻ để cùng nhau đề ra

Cổ phần Chuyển mạch Tài chính Quốc gia BankNet, do 4 đơn vị là Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Chính sách, Ngân hàng Đầu t và Phát triển
và Công ty tin học CFTD - Hà Nội đứng ra làm sáng lập viên. BankNet ra đời nhằm
70
Chơng III Giải pháp phát triển loại hình thẻ Connect 24 tại Vietcombank
mục tiêu thiết lập một mạng lới rộng khắp các thẻ đợc chấp nhận cũng nh các điểm
chấp nhận thẻ. Tuy nhiên, dự án này vẫn cha nhận đợc sự hởng ứng của tất cả các ngân
hàng thơng mại (trong đó có Vietcombank).
Vấn đề thành lập một Trung tâm thanh toán và chuyển mạch liên ngân hàng là một nhu
cầu tất yếu và là một việc làm cần thiết. Trong tơng lai, nh vậy, có thể sẽ tồn tại nhiều
hơn một công ty chuyển mạch thẻ tại Việt Nam. Với vai trò của một ngời trung gian,
hoạch định các chính sách, NHNN trong thời gian tới cần đóng vai trò tích cực hơn nữa
để tháo gỡ tồn tại này giữa các ngân hàng thơng mại, nhằm tạo lập một môi trờng thẻ
phát triển lành mạnh, vì lợi ích của toàn xã hội.
2. Một số giải pháp vi mô
Một nhà sản xuất, khi tung bất kỳ một sản phẩm nào ra thị trờng, đều phải xác định đ-
ợc 4 phần tử cơ bản (4P) tạo nên cấu trúc marketing của sản phẩm đó. Các phần tử đó
bao gồm: sản phẩm hay dịch vụ (product), giá (price), phân phối (place), xúc tiến và hỗ
trợ kinh doanh (promotion). Đối với sản phẩm thẻ CONNECT 24 cũng vậy, để phát
triển đợc sản phẩm này, Vietcombank cũng cần phải xác định đợc 4 yếu tố cơ bản trên.
Từ những yếu tố cơ bản đó, doanh nghiệp bắt đầu xây dựng những chính sách kinh
doanh phù hợp với thị trờng đợc lựa chọn nh:
- Chính sách sản phẩm
- Chính sách giá cả
- Chính sách phân phối
- Chính sách xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh
Sự kết hợp cụ thể các thành phần cơ bản của marketing nhằm đạt đợc những mục tiêu
đặt ra và đáp ứng đợc những đòi hỏi của thị trờng đợc lựa chọn gọi là marketing hỗn
hợp (marketing mix). Trong phần giải pháp vi mô để phát triển loại hình thẻ
CONNECT 24 ở Vietcombank, chúng ta sẽ đa ra một số giải pháp dựa trên mô hình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status