Một số giải pháp phát triển loại hình du lịch mạo hiểm tại tỉnh Đăk Lăk - Pdf 85


TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Đề tài nghiên cứu “Chiến lược phát triển du lòch sinh thái Cần Thơ” gồm 50 trang và
17 bảng, 4 biểu đồ, 5 bản đồ và 14 trang hình, được chia làm 3 chương ngoài ra còn có
lời mở đầu và kết luận. Ngoài ra còn có18 phụ lục, 20 danh mục.
Mở đầu: gồm 2 trang, nêu rõ ý nghóa, mục đích, phương pháp, đối tượng –
phạm vi nghiên cứu và tính mới của đề tài

Chương 1: được trình bày từ trang 1 đến trang thứ 5 trên cơ sở tổng hợp các tài
liệu, số liệu nhóm nghiên cứu đã tổng hợp và trình bày những vấn đề cơ bản sau đây:
- Lý luận quản trò chiến lược
- Lý luận về du lòch
Và đây là cơ sở, lý luân để nhóm nghiên cứu phân tích về du lòch Cần Thơ ở chương 2
và đưa ra những giải pháp cho Cần Thơ ở chương 3.

Chương 2: được trình bày từ trang thứ 6 đến trang thứ 38. Trên cơ sở thu thập
công phu từ các nguồn và đặc biệt là nhóm nghiên cứu đã tiến hành điều tra xã hội
học vô cùng công phu và được chia làm ba giai đoạn như sau:
 Giai đoạn 1: Nhóm nghiên cứu đã nghiên cứu tổng quát bằng cách lập
bảng câu hỏi gồm 18 câu (bảng câu hỏi xem ở phụ lục 1 và phụ lục 2).

 Giai đoạn 2: Nhóm đề tài đã tiến hành điều tra xã hội học từ tháng 4
đến tháng 6 bằng nhiều phương pháp như: nhờ người thân, bạn bè, phỏng vấn trực
tiếp, gửi qua mail qua internet,… Chúng tôi đã phát 200 bảng câu hỏi nhưng vì nhiều
lý do như: du khách không tiện trả lời trực tiếp, không nhận được mail, … do đó, nhóm
nghiên cứu chỉ thu vềà được 150 bảng, trong đó chỉ có 100 bảng là sử dụng được, 50
bảng còn lại không thể sử dụng trong nghiên cứu được (danh sách các đáp viên xin
xem ở phụ lục 2).

 Giai đoạn 3: Nhóm nghiên cứu đã dùng phương pháp tính toán bằng


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHIẾN LƯC VÀ QUẢN TRỊ CHIẾN
LƯC
trang
1.1. Lý luận về quản trò chiến lược .................................................................................. 1
1.1.1. Chiến lược là gì? .................................................................................................... 1
1.1.2. Quản trò chiến lược ................................................................................................. 1
1.1.2.1. Hình thành chiến lược ......................................................................................... 1
1.1.2.2. Thực thi chiến lược .............................................................................................. 2
1.1.2.3. Đánh giá chiến lược ............................................................................................ 2
1.1.2.4. Lợi ích của quản trò chiến lược ............................................................................ 3
1.2. Lý luận về du lòch...................................................................................................... 3
1.2.1. Các đònh nghóa về du lòch ....................................................................................... 3
1.2.2. Bản chất du lòch ...................................................................................................... 3
1.2.2.1. Nhìn từ góc độ nhu cầu của du khách ................................................................. 3
1.2.2.2. Xét từ góc độ các quốc sách phát triển du lòch ................................................... 3
1.2.2.3 Xét từ góc độ sản phẩm du lòch ............................................................................ 3
1.2.2.4. Xét từ góc độ thò trường du lòch ........................................................................... 4
1.2.3. Các yếu tố cấu thành công nghệ du lòch ................................................................ 4
1.2.4. Các dạng du lòch ..................................................................................................... 4

3.4.3. Phát triển du lòch nghỉ dưỡng.................................................................................. 42
3.4.4. Phát triển du lòch MICE .......................................................................................... 43
3.4.5. Phát triển du lòch tàu biển ...................................................................................... 45
3.4.6. Phát triển các sản phẩm mới cho du lòch Cần Thơ ................................................. 45
3.5. Các kiến nghò ............................................................................................................ 49
3.5.1. Các giải pháp về đầu tư phát triển du lòch – hoàn thiện cơ sở vật chất ................. 49
3.5.2. Các kiến nghò xúc tiến du lòch ................................................................................ 49
3.5.3. Các kiến nghò về đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ và hợp
tác quốc tế ............................................................................................................... 49
3.5.4. Kiến nghò đào tạo và phát triển nguồn nhân lực .................................................... 50
3.5.5. Các kiến nghò về nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về du lòch .......................... 50
3.5.6. Các kiến nghò về bảo vệ tài nguyên, môi trường du lòch. ...................................... 50

KẾT LUẬN
PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
LỜI MỞ ĐẦU

1) Ý nghóa của đề tài:
_Du lòch Việt Nam ngày càng phát triển, doanh thu năm sau luôn cao hơn năm trước,
khách du lòch nước ngoài đến nước ta ngày càng đông , cộng thêm nhu cầu du lòch
trong nước ngày càng cao. Thêm vào đó, ngày 7/11/2006 Việt Nam đã chính thức trở
thành thành viên thứ 150 của WTO,hơn bao giờ hết Việt Nam đang đứng trước một
vận hội lớn ,mở ra nhiều cơ hội đầu tư để du lòch Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Tuy

thông lại nằm bên con sông Hậu hiền hòa.
_ Phân tích cơ hội-nguy cơ- điểm mạnh- điểm yếu của du lòch Cần Thơ.

Từ đó nhóm nghiên cứu chúng tôi đóng góp những chiến lược, giải pháp cho công
cuộc phát triển du lòch nơi đây. Tiêu chí của nhóm nghiên cứu là tạo cho du lòch Cần
Thơ hình ảnh xanh, sạch, đẹp, hiện đại và đậm chất văn minh sông nước miệt vườn
,xứng đáng là đầu tàu cho sự phát triển của cả vùng đồng bằng Sông Cửu Long.
3) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Bài nghiên cứu này chủ yếu nghiên cứu về du lòch Cần Thơ và các tỉnh phụ cận. Do
hạn chế về thời gian và tài chính nên nhóm chúng tôi tập trung nghiên cứu qua các
năm gần đây (chủ yếu là năm 2004, 2005, 2006 và 2007).
4) Phương pháp nghiên cứu:
Trong bài nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
+ phương pháp mô tả,
+phương pháp phân tích,
+phương pháp so sánh và
+phương pháp điều tra dân số học :phỏng vấn trực tiếp 100 người chủ yếu là khách du
lòch nước ngoài.
nhằm làm rõ và phân tích vấn đề.
5) Tính mới:
Dựa trên việc tham khảo những tài liệu về phát triển du lòch của sở du lòch Cần Thơ
tới năm 2010 và các dự báo tăng trưởng du lòch của viện nghiên cứu phát triển du lòch
làm cơ sở cho chúng tôi xây dựng chiến lược phát triển du lòch Cần Thơ tới năm 2020
với tính hiện đại và toàn diện, bền vững mà các đề tài trước chưa đề cập đến.
6) Bố cục đề tài:
Đề tài bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chiến lược và quản trò chiến lược du lòch.
Chương 2: Tiềm năng- Thực trạng- Các nhân tố ảnh hưởng đến du lòch Cần Thơ.
Chương 3: Các chiến lược phát triển du lòch Cần Thơ.
1
1.1. Lý luận về quản trò chiến lược:
1.1.1. Chiến lược là gì?
Chiến lược: là tập hợp các qui đònh (đường hướng, chính sách, phương thức,…) hành động để hướng
tới mục tiêu dài hạn, để phát huy những điểm mạnh - khắc phục những điểm yếu của tổ chức, giúp tổ
chức đón nhận những cơ hội _ vượt qua nguy cơ từ bên ngoài một cách tốt nhất.
Tầm nhìn  Sứ mệnh/Nhiệm vụ  Chiến lược  Kế hoạch hành động
1.1.2. Quản trò chiến lược:
Theo Fred David “Quản trò chiến lược có thể được đònh nghóa như là một nghệ thuật và khoa học
thiết lập, thực hiện và đánh giá các quyết đònh liên quan đến nhiều chức năng cho phép một tổ chức,
quản trò chiến lược tập trung vào việc hợp nhất việc quản trò tiếp thò, tài chính, kế toán, sản xuất, nghiên
cứu phát triển và các hệ thống thông tin, các lónh vực kinh doanh để đạt được thành công của tổ chức”
Theo chúng tôi, Quản trò chiến lược là một khoa học, đồng thời là một nghệ thuật về thiết lập, thực
hiện và đánh giá các chiến lược.
Quản trò chiến lược gồm 3 giai đọan: hình thành chiến lược, thực hiện chiến lược, đánh giá chiến
lược.
1.1.2.1. Hình thành chiến lược:
Hình thành chiến lược là quá trình thiết lập nhiệm vụ kinh doanh, thực hiện điều tra nghiên cứu để
xác đònh các yếu tố khuyết điểm bên trong và bên ngoài, đề ra các mục tiêu dài hạn và lựa chọn giữa
những chiến lược thay thế.
1.1.2.1.1. Đánh giá các yếu tố bên ngoài:
Các ảnh hưởng của môi trường có thể chia thành 5 loại chủ yếu:
 Ảnh hưởng kinh tế.
 Ảnh hưởng về văn hóa, xã hội, đòa lý và nhân khẩu
 Ảnh hưởng của luật pháp, chính phủ và chính trò.
 Ảnh hưởng công nghệ.

S W
O
SO
sử dụng những điểm mạnh bên trong
của công ty để tận dụng những cơ hội
bên ngoài.
WO
nhằm cải thiện những điểm yếu bên
trong bằng cách tận dụng những cơ
hội bên ngoài

T
ST
sử dụng các điểm mạnh của 1 công ty
để tránh khỏi hay giảm đi ảnh hưởng
của những mối đe dọa bên ngoài

WT
là những chiến thuật phòng thủ nhằm
làm giảm đi những điểm yếu bên
trong và tránh khỏi những mối đe dọa
của môi trường bên ngoài

1.1.2.2. Thực thi chiến lược:
Thực thi chiến lược là giai đoạn hành động của quản trò chiến lược. Thực thi có nghóa là huy động
quản trò viên và nhân viên để thực hiện các chiến lược đã được lập ra. Ba hoạt động cơ bản của thực thi
chiến lược là thiết lập các mục tiêu hàng năm, đưa ra các chính sách, và phân phối các nguồn tài
nguyên.
1.1.2.3. Đánh giá chiến lược:
Giai đoạn cuối của quản trò chiến lược là đánh giá chiến lược.

1.2.1.4. Theo luật du lòch 2005 thì : du lòch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người
ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng
trong một thời gian nhất đònh.
Hoạt động du lòch là hoạt động của khách du lòch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lòch, cộng đồng dân
cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lòch.
1.2.2. Bản chất du lòch:
1.2.2.1. Nhìn từ góc độ nhu cầu của du khách:
Du lòch là một sản phẩm tất yếy của sự phát triển kinh tế-xã hội của loài người đến một giai đoạn
phát triển nhất đònh. Chỉ trong hoàn cảnh kinh tế thò trường phát triển, gia tăng thu nhập bình quân đầu
người, tăng thời gian rỗi do tiến bộ khoa học- công nghệ, phương tiện giao thông và thông tin ngày càng
phát triển, làm phát sinh nhu cầu nghỉ ngơi, tham quan du lòch của con người. Bản chất đích thực của du
lòch là du ngoạn để cảm nhận những giá trò vật chất và tinh thần có tính văn hoá cao.
1.2.2.2. Xét từ góc độ các quốc sách phát triển du lòch:
Dựa trên nền tảng của tài nguyên du lòch để hoạch đònh chiến lược phát triển du lòch, đònh hướng các
kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn. Lựa chọn các sản phẩm du lòch độc đáo và đặc trưng từ nguồn
nguyên liệu trên, đồng thời xác đònh phương hướng qui hoạch xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật và cơ sở
hạ tầng dòch vụ du lòch tươnh ứng.
1.2.2.3. Xét từ góc độ sản phẩm du lòch:
4
Sản phẩm đặc trưng của du lòch là các chương trình du lòch, nội dung chủ yếu của nó là sự liên kết
những di tích lòch sử, di tích văn hoá và cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng cùng cơ sở vật chất- kỹ thuật như
cơ sở lưu trú, ăn uống, vận chuyển.
1.2.2.4. Xét từ góc độ thò trường du lòch:
Mục đích chủ yếu của các nhà tiếp thò du lòch là tìm kiếm thò trường du lòch, tìm kiếm nhu cầu của du
khách để “ mua chương trình du lòch”
1.2.3. Các yếu tố cấu thành của công nghệ du lòch:
Một ngành công nghiệp được hiểu là bao gồm nhiều đơn vò cung cấp các sản phẩm và dòch vụ có
những nét tương đồng hay đặc tính gần giống nhau, các đơn vò này cung cấp sản phẩm hay dòch vụ nhằm
đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng cuối cùng. Ví dụ: các hãng hàng không tạo thành một thành phần
công nghệ, những cơ sở lưu trú tạo thành các thành phần khác.

 Thế kỉ 13- Thời kì của các cuộc du hành tới trường đại học của Y.Ù
5
 Năm 1271- Cuộc viễn du của Marco Polo đến Nguyên Mông ( Trung Quốc cổ) theo Con đường tơ
lụa.
 Năm 1336- Cuộc thám hiểm của Francesco Petrarka vào rặng núi Alps Provence.
 Năm 1492- Cuộc thám hiểm của Columbus với việc phát hiện ra Châu Mỹ.
 Năm 1550- Cuốn sách đầu tiên hướng dẫn du lòch tại Ý: “ Giới thiệu về Ý”
 Thế kỷ 18- Những cuộc du hành đầu tiên trong mùa đông.
 Năm 1825- Xây dựng tuyến đường sắt đầu tiên trên thế giới.
 Năm 1841- Khai trương công ty du hành đầu tiên mang tên “ Thomas Cook”, và chuyến du hành
đầu tiên bằng tàu hỏa.
 Năm 1882- Mở những hiệp hội chủ khách sạn đầu tiên tại Thụy Só.
 Năm 1904- Mở lộ trượt tuyết đầu tiên
 Năm 1924- Thực hiện Olympic mùa đông lần đầu tiên: xây xa lộ đầu tiên tại Ý
 Năm 1934- Thành lập Hội các tổ chức du lòch chính thề (UIOOPT)

Quản trò chiến lược trong du lòch quả thật không đơn giản nhưng nếu không thực hiện chúng ta sẽ
không nhận diện được chính xác vấn đề và đưa ra giải pháp hiệu quả. Nhận thấy đựơc tầm quan trọng
này nhóm nghiên cứu đã ứng dụng các lý luận của quản trò chiến lược của Fred David vào bài nghiên
cứu về du lòch Cần Thơ. Chương sau sẽ trình bày những phân tích của nhóm nghiên cứu theo các bước
của quản trò chiến lược.

CHƯƠNG 2 :


mạnh nhất vùng. Cần Thơ là vùng đất có nhiều di tích, nổi tiếng, và những danh nhân ưu tú: Thủ Khoa
Bùi Hữu Nghóa, Phan Văn Trò, Bà đồ Nguyễn Thò Nguyệt, Châu Văn Liêm, Nguyễn Thần Hiến, Lưu
Hữu Phước... Ngoài những di tích tôn giáo như: đền, chùa, đình, miếu, nhà thờ, thánh thất, Cần Thơ là
một thành phố đẹp trải dài 65km theo sông Hậu, có nhiều cảnh quan thiên nhiên hoang sơ chưa được
khai phá. Cầu dây văng Cần Thơ là chiếc cầu đẹp nhất nước, có chiều dài hơn 15 km sẽ được bắc qua
sông Hậu nối liền Cần Thơ và tỉnh Vónh Long tạo thuận lợi cho vận chuyển và du lòch. Các khu du lòch
Cồn Ấu, Cồn Khương, Cồn Cái Khế, đang xúc tiến đầu tư chắc chắn sẽ làm phong phú thêm cho du lòch
sinh thái của Cần Thơ. Thành phố Cần Thơ là thành phố trực thuộc Trung ương. Trong tương lai sẽ còn
tiếp tục phát triển hơn nữa để trở thành một đô thò sinh thái sông nước, có nhiều công trình tổ hợp đẹp,
gắn với cảnh quan thiên nhiên, cây xanh hài hòa, có nhiều quãng trường lớn, điểm hẹn sông nước. mà
các nơi khác không có được. Cần Thơ sẽ là một đô thò hiện đại, thắm đậm lòng người mang đậm dấu ấn
đồng bằng, hứa hẹn sẽ là điểm đến du lòch trong tương lai.

Đường đến Cần Thơ
 Đường bộ: Thành phố Cần Thơ nằm trên tuyến quốc lộ 1A, cách Thành Phố Hồ Chí Minh 170 km
về hướng Tây Nam. Các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đi đến Cần Thơ bằng hệ thống đường bộ rất
thuận tiện như An Giang, Kiên Giang đến Cần Thơ bằng quốc lộ 91, các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc
Trăng, Hậu Giang đến Cần Thơ bằng quốc lộ 1A.
 Đường thủy: Thành phố Cần Thơ nằm bên bờ sông Hậu, một nhánh của sông Mêkông. Tàu trọng
tải lớn vài ngàn tấn từ biển Đông đi qua cửa Đònh An có thể đến Cần Thơ dễ dàng và tiếp tục đến
Campuchia và ngược lại. Ngoài ra tuyến Cần Thơ - Xà No - Cái Tư là hệ thống thủy nội quan trọng nối
kết Thành phố Cần Thơ và Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Hậu Giang, Cà Mau và các tỉnh khác.
 Đường hàng không: Thành phố Cần Thơ có sân bay Trà Nóc lớn nhất khu vực đồng bằng được
xây dựng trước năm 1975 đang được nâng cấp và mở rộng để trở thành sân bay quốc tế.
Du lòch Cần Thơ nổi lên vai trò đầu mối trung chuyển khách du lòch của đồng bằng sông Cửu Long.
Hệ thống các siêu thò như Metro, Co-op Mart, City Mart, trung tâm thương mại Cái Khế, chợ gạo
Thốt Nốt, trung tâm hội chợ triển lãm quốc tế, trung tâm hội thảo quốc tế và cấp vùng, công viên nước,
đã đáp ứng nhu cầu mua sắm, vui chơi giải trí cho nhân dân và du khách.
Tổng số khách sạn hiện có trên đòa bàn lên 120 với 3.000 phòng, trong đó có 24 khách sạn từ 1 đến 4
sao với 1.031 phòng. Với hệ thống khách sạn lớn, các phòng họp đủ tiêu chuẩn trang bò máy móc hiện

Diện tích đất của Cần Thơ (tại thời điểm 1/1/2006) có 140.160 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp:
113.800ha; đất lâm nghiệp: 200ha; đất chuyên dùng: 10.700ha; đất ở: 6.100ha(xem biểu đồ 1 - phụ lục 8)
 •Nước:
Mức nước ngầm mạch nông dưới 0,4 - 0,6 m. Mực nước ngầm ở độ sâu 50 đến 100 m, chất lượng sử
dụng tốt, lưu lượng giếng khoan khoảng 22,7 m3/h, trừ một vài nơi nước lợ. Nước ngầm dùng chủ yếu
cho cấp nước sinh hoạt đô thò và nông thôn, chủ yếu cho các vùng nông thôn và thò trấn không có nước
mặt. Chưa có khả năng sử dụng nước ngầm cho sản xuất.
 •Sông ngòi:
Cần Thơ là một tỉnh có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chòt với tổng chiều dài khoảng 4.300Km
gồm:
_ Sông Hậu: Là một nhánh của sông Mê-kông chảy qua tỉnh Cần Thơ từ xã Thới Thuận (Thốt Nốt)
đến xã Phú Hữu (Châu Thành) dài khoảng 65km.
_ Sông Cần Thơ: chảy qua Ô Môn, Châu Thành, thành phố Cần Thơ và đổ ra sông Hậu.
8
_ Sông Cái Lớn: Nối các kênh Xà No, Ô Môn, Quản Lộ – Phụng Hiệp, Nàng Mau, Lái Hiếu với Biển
Tây.
_ Sông Cái Bé: Nối các kênh Thốt Nốt, Thò Đội với biển Tây.
Ngoài ra, Cần Thơ còn có một hệ thống kênh đào khá lớn, với tổng chiều dài khoảng 4.000km.
Hệ thống sông ngòi chằng chòt quanh năm bồi đắp phù sa màu mỡ cho những cánh đồng lúa tốt tươi
và những miệt vườn tróu nặng hoa trái. Mạng lưới sông ngòi dày đặc này đã hình thành tuyến giao thông
quan trọng góp phần thúc đẩy kinh tế - văn hoá xã hội của đòa phương phát triển.
Cần Thơ có vò trí đòa lí đặc biệt và được thiên nhiên ưu đãi có những điều kiện tự nhiên lí tưởng thuận
lợi cho việc phát triển du lòch tại đây. Với hệ thống sông, kênh, rạch tạo thành một mạng lưới liên kết
các tỉnh và các khu vực.
Từ Cần Thơ có thể đi các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Campuchia và ra biển Đông bằng các
tuyến sau:
- Đi Thành phố Hồ Chí Minh: theo sông Hậu, sông Măng Thít, sông Tiền, Kênh chợ Gạo Vân Cỏ –
thành phố Hồ Chí Minh.
- Đi Cà Mau: theo sông Hậu, kênh Phùng Hiệp.
- Đi Rạch Giá: theo sông Hậu, kênh Rạch Sỏi.

được đặt tên bằng một trận đánh của nghóa quân Lam Sơn là Ninh Kiều.
Đứng trên bến Ninh Kiều mắt ta nhìn sang Xóm Chài và hướng Cồn Ấu ở đầu vàm sẽ
thấy một dải cù lao mập mờ cây lá, tạo cho ta niềm rung cảm dạt dào. Ngược lại nếu đứng
từ bên kia Xóm Chài nhìn sang sẽ thấy toàn cảnh Ninh Kiều và phố sá rực rỡ ánh đèn soi
bóng xuống mặt nước phù sa lấp lánh như rắc ánh vàng thật lung linh tuyệt đẹp giữa trời
nước bao la, không khí trong lành nhờ cơn gió từ dòng Hậu Giang đưa vào.
Công viên Ninh Kiều với nhiều loại cây kiểng quý, hoa đẹp kéo dài từ vàm rạch Cái Khế đến tận
nhà lồng chợ cổ vừa mới trùng tu.Trên bến sông suốt ngày tấp nập tàu, thuyền xuôi ngược chở đầy
những sản vật vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Bên bến Ninh Kiều là cảng Cần Thơ tàu thuyền tấp nập
ra, vào. Gần bến Ninh Kiều có chợ Cần Thơ - một trung tâm buôn bán lớn ở miền Tây Nam Bộ. Nơi đây,
hấp dẫn khách du lòch là nhà hàng nổi trên sông, bạn có thể vừa thưởng thức các món ăn đặc sản, vừa
ngắm cảnh sông nước.
Đến bến Ninh Kiều, du khách còn có thể tham quan các nhà hàng thuỷ tạ, chợ nổi trên
sông, vừa thưởng thức các món ăn đặc sản, vừa ngắm dòng sông Hậu hiền hòa, thơ mộng.

o Chợ nổi
Là nét sinh hoạt độc đáo của cư dân đồng bằng sông Cửu Long. Bạn sẽ ấn tượng trước bức tranh sống
động tuyệt vời của sông nước và con người nơi đây. Mỗi ngày từ lúc mặt trời chưa mọc đã có hàng trăm
ghe thuyền từ Cà Mau, Vónh Châu, Rạch Giá, Vónh Long đưa rau quả, trái cây về đây mua bán. Bên
cạnh những nông sản, cây trái trong vườn là những động vật đánh bắt được trong ruộng, vườn như chim
đồng, tôm cá, rùa rắn. Lâu dần, chợ nổi không chỉ là nơi trao đổi những sản phẩm nuôi trồng trong vườn
và những thứ cần dùng, mà có cả những hàng quán ăn uống như chè, cháo, cà phê... Gần đây ta còn dễ
dàng bắt gặp ở những chợ nổi người ta còn có thể hớt tóc, hay đến may đo quần áo, sửa đồng hồ, radio,
tivi... Đến khi mặt trời lên cao, từng lúc, từng nhóm ghe thuyền tản ra ngược xuôi về lại chốn cũ để
chuẩn bò cho phiên chợ nổi hôm sau...
Độc đáo nhất của chợ nổi Cần Thơ là những cây "bẹo" (cây sào tre cắm ở mũi ghe, treo các sản vật
miệt vườn như cam, xoài, quýt, bưởi v.v...), bạn chỉ cần nhìn những thứ treo trên bẹo là biết xuồng ghe
đó mua bán những thứ gì! Hiện nay, ở chợ nổi có những hình thức “bẹo hàng” hiện đại hơn như những
bảng hiệu, hộp đèn, áp phích, băng rôn của các ghe hàng, các cửa hàng nổi...
Từ cái tên chợ nổi cũng đã thể hiện sự mộc mạc, chân chất của con người phương Nam. Thông

ghe trọng tải lớn thì Phong Điền tập trung nhiều ghe tam bảng. Hình ảnh những chiếc ghe tam bảng đầy
ắp những hàng hóa nơi đây tạo ra một bức tranh sinh động đầy màu sắc như câu hò :
"Phong Điền chợ nổi ven sông
Bồng bềnh mặt nước chợ đông sớm chiều."

o Vườn du lòch:
Trong những năm gần đây, nhiều vườn du lòch xanh tươi đã được hình thành trên những tuyến lộ Cần
Thơ, thu hút ngày càng đông du khách trong và ngoài nước đến tham quan. Du khách được hòa cùng
cuộc sống bình dò nhưng ấm nồng tình làng nghóa xóm của bà con nông dân ở các xã Nhơn Ái, Nhơn
Nghóa, Tân Thới, Trường Lạc... là vùng kinh tế vườn nổi tiếng từ xưa đến nay.
"Hò ơ...
Trai nào bảnh bằng trai Nhơn Ái
Đầu thì hớt chải tóc tém bảy ba
Mặc piyama khăn rằn quấn cổ
Thấy cô em gái Ba Xuyên ngồ ngộ
Muốn cùng em thố lộ đôi lời
Cấy cày cực lắm em ơi
Theo anh về vườn ăn trái một đời ấm no”.
Có thể kể đến các vườn du lòch như :Vườn du lòch Mỹ Khánh, vườn nhà ông Sáu Dương, vườn lan
Bình Thuỷ, vườn vòng cung, trên các tuyến sông Phong Điền, Phụng Hiệp và nhiều vườn du lòch gia
đình.
11
Vườn du lòch Mỹ Khánh
Quốc lộ 1A về hướng Sóc Trăng, qua cầu Đầu Sáu, đến gần cầu Cái Răng rẽ phải khoảng 6km là
đến vườn du lòch Mỹ Khánh. Vườn Mỹ Khánh rộng 2,2ha với hơn 20 loại cây trái, hoa kiểng và nhiều
loại động vật như chim các rùa, rắn, cua, tôm ...
Du khách đi dạo trong vườn hít thở không khí trong lành mát mẻ và được nếm các loại trái cây chín
và những món ăn đặc sản miệt vườn. Dưới bóng cây xanh thấp thoáng ẩn hiện những ngôi nhà rông nhỏ
xinh là nơi khách nghỉ đêm.
Khu du lòch Ba Láng

đònh cư luôn tại đây và sinh sôi nảy nở đông hơn. (theo tuoitre.com.vn)
Khu vườn nay đã rộng 15 công và tất cả những bụi tre, ô môi trong vườn từ lâu đã là nhà của chúng.
Loài cò nhỏ có: cò ngà mỏ vàng, cò quắm, cò cá mỏ đen - loại có biệt tài bắt cá. Nhìn chung những loài
12
này chỉ nặng chừng vài trăm gam. Lớn hơn có cò ma, cò rằn, cò xanh, cò ruồi mỏ vàng - loại cò hay đậu
trên lưng trâu bắt ruồi.
Trong vườn hiện còn có một số loại cò có kích thước lớn hơn: còng cọc đen tuyền chân vòt, bạc má
cũng mầu đen nhưng lớn hơn, còng cọc chân cao mỏ dài. Những loài cò lớn những năm gần đây bắt đầu
xuất hiện và nhập chung bầy đàn như: vạc lông rằn, diệc móc, diệc lửa... có con nặng tới ba kg. Đặc biệt,
một loài chim thuộc hàng quý hiếm đang bò săn lùng ráo riết để làm thuốc - bìm bòp cũng hiện diện
thường xuyên tại vườn với hai loài: bìm bòp bà và bìm bòp cóc. 6 - 7h sáng từng đàn cò rời khỏi những
ngọn cây bay trắng cả một vùng tỏa đi khắp nơi và đến chiều khoảng 17 - 18h chúng lại bay về tổ làm
xáo động cả khu vườn.
Vườn đom đóm Cái Sâu
Đi đò chạy dọc vào miệt Cái Nai, Cái Da rồi qua rạch Cái Sâu. Đò chạy chầm chậm len lỏi vào các
rạch nhỏ vừa lúc màn đêm buông xuống,những vòm cây đang lập lòe ánh sáng vàng xanh mát dòu.
Tuy đom đóm trưởng thành vào mùa hè, nhưng ở miệt Cái Sâu mùa nào cũng có đom đóm phát sáng.
Đây là một lợi thế mà thiên nhiên đã ưu đãi ban cho Cái Sâu. Một loại hình tham quan lý tưởng cho du
lòch sinh thái, phù hợp với nhu cầu sở thích của du khách, đặc biệt là du khách Nhật do ở đất nước Nhật,
loài đom đóm đang gặp nguy cơ tuyệt chủng, nên người Nhật rất quý và tìm cách bảo vệ chúng.
Viện lúa ĐBSCL (CLRRI)
Đòa điểm ở huyện Ô Môn nơi được đầu tư và ứng dụng Công nghệ sinh học sớm nhất khu vực
ĐBSCL, có Ngân hàng gien lưu trữ hơn 100 giống lúa cùng dự án bảo tồn gien của các loại tôm cá nước
ngọt vùng ĐBSCL.
Vườn xương rồng
Số 10/6 Nguyễn Thò Minh Khai, thành phố Cần Thơ là nơi cung ứng, trao đổi hơn 1.500 loại giống
xương rồng cho nhiều người ưa thích trong nước với nhiều loại quý hiếm từ Châu Âu, Châu Á... và những
giống mới nhất từ Châu Mỹ. Gần đây, Cần Thơ đã trở thành trung tâm xương rồng lớn nhất nước sẵn
sàng mở cửa hợp tác, liên kết trao đổi với các nơi có cùng ý thích.
Lộ vòng cung

vạn thọ Pháp, Xương rồng Thái, hướng dương, lan… và đặc biệt là mai ghép các loại.
Làng đan lưới Thơm Rơm
Ở xã Thạnh Hưng - Thốt Nốt có trên 70 hộ gia đình làm nghề đan lưới mỗi mùa nước đến, làng đan
lưới tập trung huy động hàng ngàn người làm việc. Đan tay, dệt máy, kết lưới bắt viền, cột phao, công
việc luôn luôn nhộn nhòp. Có nhiều loại sản phẩm như loại lưới mắt nhỏ dùng để bắt cá linh, cá rô; Lưới
mắt lớn hoặc lưới ba màn để bắt cá mè vinh và các loại cá lớn.
Làng đan lọp Thới Long
Tại xã Thới Long (Ô Môn - Cần Thơ) có làng đan lọp bắt tép (dụng cụ bắt con tép), là phương tiện
kiếm sống trên sông nước không thể thiếu của hàng trăm ngàn người dân vùng lũ đồng bằng sông Cửu
Long trong mùa nước nổi hàng năm.
Làng nghề có trên 300 hộ hoạt động nhộn nhòp từ tháng 5 đến tháng 9 âm lòch hàng năm. Du khách
sẽ được tận mắt nhìn thấy sự tinh tế, tỉ mỉ, của người thợ trong từng công đoạn đan lọp tép từ khâu đập
vành, chẻ nan, bện hom, dệt khung cho đến câu mình, ráp thành cái lọp hoàn chỉnh.
Du thuyền
Những ngày đẹp trời ngồi trên du thuyền xuôi theo dòng nước, du khách nhấm nháp ly rượu đế (rượu
này từ nếp hoặc gạo) với những món ăn đặc sản quê hương, vừa ngắm cảnh hoang sơ, mộc mạc của dòng
sông hiền hòa mến khách vừa nghe ca vọng cổ Nam bộ, bài hát thắm đượm tình yêu thương con người và
đất nước mến yêu.
Ngoài những du thuyền lớn, còn có những du thuyền nhỏ, xinh xắn sẽ đưa du khách len lõi vào những
kênh rạch chằng chòt phủ trùm bóng mát, ríu rít tiếng chim kêu. Ghé thăm vườn cây trái hoặc thẳng đến
phiên chợ nổi ghe thuyền tấp nập để du khách thưởng thức khung cảnh thanh bình của miền quê sông
nước.
Chèo xuồng kayak ở Cần Thơ
Khách sạn liên doanh Victoria Cần Thơ hiện có tour khám phá bằng xuồng kayak. Khách đi tour,
chèo xuồng ngang bến Ninh Kiều, vào sâu con rạch phường Hưng Phú, đổ ra Bùng Binh sông Cần Thơ,
ngoằn ngoèo qua các con rạch mọc đầy những cây bần cổ thụ của cồn Ấu.
Trong không khí hoang sơ, bạn được thưởng thức bữa ăn thời khẩn hoang với ếch nướng mọi, tôm nướng
lửa than chấm muối ớt; gà xé phay, thêm chút cháo gà dằn bụng với rượu trái cây trong tiếng nhạc lời ca
của loại hình đờn ca tài tử...
14

Chợ này có một nét rất riêng, rất độc đáo của đồng bằng châu thổ là đêm đêm ghe chở sản vật từ vùng
sâu ra, treo đèn trước mũi lấp lánh cả một khúc sông. Gần đây, Thành phố Cần Thơ đã có dự án quy
hoạch lại khu chợ cổ Cần Thơ với bến tàu du lòch, nhà chờ, gian hàng lưu niệm để du khách dễ mua, bán.
Ca nhạc tài tử ở vùng đất Tây Đô
Cần Thơ gạo trắng nước trong; ai đi đến đó thì không muốn về" - câu ca dao lưu truyền từ bao đời đã
làm lay động lòng người mỗi khi có dòp dừng chân ghé thăm vùng đất Tây Đô ở cực nam tổ quốc.
Đến Cần Thơ, ngoài tận hưởng đặc sản nổi tiếng mang đậm hương vò quê nhà, ăn cơm sốt dẻo nấu
bằng gạo Tài Nguyên thơm phức với mắm cá lóc, kèm bát canh cua đồng nấu với bông so đũa vàng ươm,
bạn đừng quên một nét đẹp văn hoá truyền thống ít nơi nào có được: Đó là đi du thuyền nghe ca nhạc tài
tử.
Khi “Tây đô” lên đèn, thì chiếc du thuyền cũng tách bến Ninh Kiều, lướt sóng ra dòng sông Hậu và
cứ mỗi tour như thế một giờ đồng hồ. Mỗi tối 2 tour, từ 19 giờ 30 đến 20 giờ 30 và 21 giờ đến 22 giờ.
15
Chiếc thuyền ấy rộng lớn, trọng tải 100 tấn, sức chứa 40 đến 60 người/tour. Đây là chiếc “du thuyền
sông Hậu” thuộc Công ty Du lòch tỉnh Cần Thơ, đưa du khách ra sông Hậu hứng mát, giải trí và thưởng
thức chương trình đờn ca tài tử trên thuyền trong một tiếng đồng hồ.
Dù kê
“Dù kê của người Khmer giống như cải lương của người Nam bộ, tức là cũng có tuồng tích nhưng ngoài
lực lượng diễn viên thuộc tuồng bụng, người xem nếu ngẫu hứng cũng có thể tham gia bằng các điệu
múa dân gian”.

o Di tích lòch sử văn hóa
Bảo tàng Cần Thơ
Bảo tàng Cần Thơ được thành lập vào năm 1976, qua nhiều lần thay đổi đến năm 1992 chính thức
mang tên Bảo tàng Cần Thơ. Nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ quần chúng và nghiên cứu khoa học,
năm 1998 Bảo tàng Cần Thơ khởi công xây dựng mới và thay đổi nội dung trưng bày. Đến ngày
31/8/2001 Bảo tàng Cần Thơ khánh thành và đưa vào hoạt động với các nội dung trưng bày chủ yếu:
 Gian long trọng: Giới thiệu khái quát về những đặc điểm tự nhiên và xã hội của Cần Thơ.
 Gian Cần Thơ – Đất nước – Con người: Giới thiệu Vò trí đòa lý; Đất đai, khí hậu, động thực vật,
cảnh quan; Văn hóa Óc Eo; Văn hóa 3 dân tộc: Việt – Hoa – Khmer.

nước ta từng lưu diễn khắp lục tỉnh, trên cả ba miền và cũng là vở tuồng đầu tiên của nùc nhà được dòch
ra tiếng Pháp.
Trong hai cuộc chiến khốc liệt giành độc lập dân tộc, người dân Long Tuyền luôn thể hiện nghóa khí
truyền đời "Anh hùng sáu tỉnh thiếu chi đây..." của cụ Thủ khoa ngày trước. Là một xã nằm trên tuyến lộ
vòng cung oai hùng "Đạn chen đầu đạn, bom cài hố bom" khốc liệt năm xưa, tấm lòng trung trinh vì cách
mạng của người dân Long Tuyền thật vô cùng. Xã có đến 409 gia đình liệt só, 16 Bà mẹ Việt Nam Anh
hùng... Danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" mà Đảng, Nhà nước phong tặng xã Long
Tuyền là một minh chứng cụ thể cho phẩm chất đó.
Đã đến Cần Thơ, du khách thường tìm đến Long Tuyền bởi nơi đây ngoài cảnh sông nước hữu tình,
còn có đến sáu di tích cấp quốc gia, chiếm gần một phần ba số di tích quốc gia cả tỉnh Cần Thơ. Đình
Bình Thủy( tức Long Miếu cổ tự), chùa Nam Nhã (nơi từng lưu dấu chân của Phan Bội Châu, Cường Để
và sau này là nhà cách mạng Ngô Gia Tự), Hội Linh cổ tự, Long Quang cổ tự, mộ Thủ khoa Bùi Hữu
Nghóa, trụ sở An Nam Cộng sản Đảng...và cũng không thể bỏ qua thắng cảnh vườn lan, nhà cổ Bình
Thủy (26/1A đường Bình Thủy, thành phố Cần Thơ).
Phong khí văn hóa Long Tuyền là sự hòa quyện của đất, nước và con người nơi đây; là sự nở hoa của
quá khứ trong lòng hiện tại; là sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại. Long Tuyền tuy tiếp xúc với
nhiều nền văn hóa (Hoa, Khmer, Pháp, Nhật, Mỹ...) nhưng vẫn tạo ra, giữ gìn được bản sắc "văn minh
miệt vườn sông nước" rất riêng, rất độc đáo và đó chính là nội lực, là cội nguồn sức mạnh giúp Long
Tuyền đứng vững, phát triển trên vùng đất mới đầy biến động.
Đình Bình thủy
Từ trung tâm Tp. Cần Thơ du khách đi khoảng 5km theo đường Nguyễn Trãi qua đường Cách Mạng
Tháng Tám và Lê Hồng Phong là tới đình.
Đình được dựng vào năm 1844, khi đó bằng tranh tre. Năm 1852 đình được vua Tự Đức phong sắc.
Năm 1909 đình được xây lại, mái lợp ngói, gồm hai khu: khu đình chính và khu "lục ấp". Khu đình chính
có năm ngôi nhà. Hai nhà vuông là tiền đình và chính điện, ba nhà nối hai nhà vuông với nhau. Khu "lục
ấp" gồm một nhà hát và khu nhà chuẩn bò đồ cúng lễ. Bên ngoài đình có hai miếu lớn thờ thần Nông và
thần Hổ, gần cổng có hai miếu thờ thần Rừng và thần Khai kênh dẫn nước.
Đình có kiến trúc khác với các đình ngoài Bắc: ngôi tiền đình và chính điện hình vuông, mỗi chiều có
6 hàng cột, mỗi hàng 6 cột. Các cột trong chính điện được chạm khắc hình rồng, hoa mẫu đơn quấn
quanh. Chánh điện có ba mái chồng lên nhau theo kiểu kiến trúc "thượng lầu hạ hiên". Trên nóc có gắn

Tự". Chùa còn là nơi bảo vệ cán bộ cách mạng đòa phương .Chùa Hội Linh Cổ Tự còn giữ những tác
phẩm điêu khắc gỗ có giá trò như bức tượng Giám Trai, chuông đồng mõ, bộ binh khí (16 cái) và hàng
chục bức tượng bằng gỗ, xi măng, thạch cao và đồng.
Long Quang cổ tự
Tọa lạc tại số 155, tổ 6, khu vực Bình Nhựt B, phường Long Hoà, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
Chùa Long Quang là một trong những ngôi chùa cổ ở Cần Thơ. Tính đến năm 2005 đã trải qua 180 năm.
Chùa có từ thời Minh Mạng thứ 5 (1825) với tên gọi ban đầu là “Long Quang Trường Tự” hay “Long
Quang Tự”.
Thû xưa, Long Quang Cổ Tự là một cái am nhỏ do nhà sư Võ Văn Quyền tự lập, đến năm 1853 phát
triển thành ngôi chùa. Sau đó, nhà sư Võ Văn Quyền ra đời, hòa thượng Quảng Hiền về chủ trì, chùa
được xây dựng lại và đổi tên là “Long Quang Tự”.
Năm 1966, nhà sư Nguyễn Văn Phước, pháp danh Thiện Chiến trùng tu lại ngôi chùa sau những năm
chiến tranh, ông đổi tên là “Long Quang Cổ Tự”. Long Quang Cổ Tự là một công trình kiến trúc nghệ
thuật tôn giáo với 50 tượng thờ được chạm trổ từ cây giáng hương cách đây hàng trăm năm, tiêu biểu là
nhóm tượng 18 vò La Hán.
Ngoài ra, về mặt lòch sử Long Quang Cổ Tự trong kháng chiến chống Pháp, Mỹ là nơi ở, điểm liên lạc
của nhiều cán bộ hoạt động ở vùng ven và nội thành Cần Thơ. Ngày 21/06/1993, chùa được Bộ Văn hoá
– Thông tin ra quyết đònh số 774/QĐ.BT công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật.
Chùa Munir Ansây

Trích đoạn Phát triển du lịch nghỉ dưỡng Phát triển du lịch MICE Phát triển du lịch tàu biển Các kiến nghị về đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ và hợp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status