1 CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VÀ DU LỊCH MẠO HIỂM
1.1 Lý luận về du lịch
1.1.1 Định nghĩa về Du lịch
Du lịch là một ngành “công nghiệp không khói” góp phần tăng thu nhập quốc gia và giải quyết
công ăn việc làm cho một bộ phận lớn lao động. Ngày nay nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt
Nam đã ưu tiên phát triển ngành du lịch như một ngành mũi nhọn quốc gia mình. Vì vậy trước tiên
để có thể khai thác hiệu quả ngành này chúng ta cần phải hiểu được bản chất của nó.
Theo liên hiệp Quốc các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of Official Travel
Oragnization: IUOTO): du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với điạ điểm cư
trú thường xuyên cuả mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề
hay một việc kiếm tiền sinh sống...tại hội nghị LHQ về du lịch họp tại Roma _ Italia ( 21/8 –
5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện
tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú cuả cá nhân hay tập thể ở
bên ngoài nơi ở thường xuyên cuả họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú
không phải là nơi làm việc cuả họ.
Theo các nhà du lịch Trung Quốc thì: họat động du lịch là tổng hoà hàng loạt quan hệ và hiện
tượng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội nhất định làm cơ sở, lấy chủ thể du lịch, khách thể
du lịch và trung gian du lịch làm điều kiện
Theo nhà kinh tế học người Áo Josep Stander nhìn từ góc độ du khách thì: khách du lịch là loại
khách đi theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thoả mãn sinh họat cao cấp mà không theo
đuổi mục đích kinh tế.
Theo quan niệm đầy đủ về góc độ kinh tế và kinh doanh của du lịch, Khoa Du lịch và khách sạn
(Trường ĐH Kinh tế quốc dân Hà Nội) đã đưa ra định nghĩa trên cơ sở tổng hợp những lý luận và
thực tiễn của hoạt động du lịch trên thế giới và Việt Nam trong những năm gần đây: “Du lịch là một
trong những ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi
Phân loại theo lứa tuổi du khách.
Phân loại theo hình thức tổ chức.
Xin xem chi tiết ở phần Phụ Lục
1.1.3 Khái niệm về sản phẩm dịch vụ du lịch
1.1.3.1 Khái niệm:
Sản phẩm du lịch là các dịch vụ và hàng hóa cung cấp cho du khách nhằm đáp ứng những nhu cầu
và mong muốn của khách du lịch nó được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự
nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một
vùng hay một quốc gia nào đó. Do vậy cần nắm vững được thị hiếu, tâm lý, thói quen, tập quán của
khách để đáp ứng một cách thích ứng nhất bằng cách đa dạng hoá các sản phẩm du lịch bởi sản
phẩm du lịch là một yếu tố cạnh tranh giữa các vùng miền.
3
1.1.3.2 Các yếu tố hợp thành sản phẩm du lịch:
Sản phẩm du lịch bao gồm yếu tố vô hình và yếu tố hữu hình. Yếu tố hữu hình là hàng hóa, yếu tố
vô hình là dịch vụ.
Xét theo quá trình tiêu dùng của khách du lịch trên chuyến hành trình du lịch thì chúng ta có thể
tổng hợp các thành phần của sản phẩm du lịch theo các nhóm cơ bản sau:
Dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống.
Dịch vụ tham quan, giải trí.
Hàng hóa tiêu dùng và đồ lưu niệm.
Các dịch vụ khác phục vụ khách du lịch.
1.1.4 Đặc điểm của sản phẩm du lịch.
Sản phẩm du lịch là một dịch vụ đặc biệt, là những sản phẩm dịch vụ mà bản thân chúng không hề
bị tiêu hủy. Sản phẩm du lịch về cơ bản là không cụ thể, không tồn tại dưới dạng vật thể. Thành
một phòng của khách sạn, một chỗ ngồi trên máy bay không bán được thì không thể cất giữ vào
kho. Do vậy, để tạo sự ăn khớp giữa sản xuất về tiêu dùng là rất khó khăn. Việc thu hút khách du
lịch nhằm tiêu thụ sản phẩm du lịch là vấn đề vô cùng quan trọng đối với các nhà kinh doanh du
lịch.
Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch thường không diễn ra đều đặn mà có thể chỉ tập trung vào những
thời gian nhất định trong ngày (đối với sản phẩm ở bộ phận nhà hàng), trong tuần (đối với sản phẩm
của thể loại du lịch cuối tuần), trong năm (đối với sản phẩm của một số loại hình như: du lịch nghỉ
biển, du lịch nghỉ núi…)
Vì vậy, trên thực tế, hoạt động kinh doanh du lịch thường mang tính mùa vụ. Sự dao động về thời
gian trong tiêu dùng du lịch gây khó khăn cho việc tổ chức hoạt động kinh doanh và từ đó ảnh
hưởng đến kết quả kinh doanh của nhà kinh doanh du lịch. Khắc phục tính mùa vụ trong kinh doanh
du lịch luôn là vấn đề trăn trở cả về mặt thực tiễn cũng như về mặt lý luận.
1.2 Lý luận về Du lịch mạo hiểm
1.2.1 Khái niệm về loại hình du lịch mạo hiểm.
Định nghĩa từ mạo hiểm: Theo từ điển điện tử baamboo http://tratu.baamboo.com/ mạo hiểm là
sự sự liều lĩnh làm một việc biết là nguy hiểm, có thể mang lại hậu quả rất tai hại có thể ảnh hưởng
đến tài sản thậm chí là tính mạng nhưng vẫn làm. Theo nhóm nghiên cứu, “Mạo hiểm” có nghĩa là
sự thử thách, sự tiềm ẩn khả năng rủi ro trong một hành động.
Xét về bản chất, du lịch mạo hiểm là sự kết hợp giữa các hoạt động khám phá thiên nhiên, tìm
hiểu văn hoá và lịch sử kết hợp với các hoạt động thể thao như leo núi, chèo thuyền băng
rừng…Cho nên muốn phát triển loại hình du lịch mạo hiểm trước hết phải dựa trên cơ sở của loại
hình du lịch sinh thái-văn hoá . Vì vậy việc vận động từ các loại hình du lịch sinh thái-văn hoá lên
loại hình du lịch mạo hiểm là một vận động tất yếu của quá trình đa dạng hóa sản phẩm du lịch.
Qua quá trình nghiên cứu từ nhiều nguồn tài liệu nhóm thuyết trình đưa ra khái niệm của mình về
loại hình du lịch như sau:
Loại hình du lịch mạo hiểm: là loại hình phát triển ở những vùng có điều kiện tự nhiên thích hợp
(có nhiều thác ghềnh, vách núi, biển…) và có cơ sở vật chất tương đối phát triển. Nó dựa trên nhu
cầu tự thể hiện mình, tự rèn luyện mình, tự khám phá bản thân của du khách thông qua các chương
trình do nhà khai thác đặt ra hay tự du khách yêu cầu. Loại hình này cần sự hỗ trợ rất nhiều của các
mạo hiểm như phải có các cánh rừng, thác nước, sông hổ…nhưng các địa điểm này đã được khảo
sát và đảm bảo về thời tiết cũng như địa hình.
Luật chơi:các nghị định của nhà nước ban hành về luật du lịch. Có các tiêu chí tối thiểu để đánh giá
tiêu chuẩn an toàn của nhà tổ chức.
Người tổ chức: các nhà cung ứng dịch vụ với các cơ sở vật chất đảm bảo tiêu chuẩn. Có các thiết bị
bảo hộ an toàn cho du khách đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng nhằm đảm bảo an toàn tính mạng cho
du khách tham gia. cần có những thông tin để du khách tham gia có thể lựa chọn được những tour 6
phù hợp cho du khách
1.2.3 Đặc điểm của loại hình du lịch mạo hiểm.
Loại hình du lịch mạo hiển là một trò chơi cảm giác mạnh có thể hoặc không kết hợp di chuyển từ
vùng này sang vùng khác theo lịch trình đòi hỏi phải có sự khảo sát kỹ lưỡng lịch trình các chyến đi
và khu chọn làm địa điểm đễ thực hiện chuyến đi cho tour, bởi trên nguyên tắc địa điểm được chọn
phải mang đầy đủ tính chất của một địa điểm phục vụ cho du lịch mạo hiểm như tạo được sự thử
thách cho du khách, phải gần gũi với thiên nhiên, gắn liền với văn hoá và phong tục của địa phương.
Du lịch mạo hiểm rất an toàn khi có sự hỗ trợ của các trang thiết bị hiện đại. Và tùy theo mức độ của
trò chơi mà việc trang bị các thiết bị là khác nhau.
Đội ngũ nhân viên trong các tour phải là những người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, không
những giỏi về nghiệp vụ mà còn phải có kiến thức về những vùng đoàn sẽ đi qua. Thông thường các
hướng dẫn viên trong tour mạo hiểm là các huấn luyện viên.
Tóm lại đặc điểm của du lịch mạo hiểm là một loại hình sử dụng nhiều không chỉ về tài chính
mà còn về nguồn nhân lực
1.2.4 Phân loại du lịch mạo hiểm
Hiện nay có rất nhiều sản phẩm du lich mạo hiểm nên có một số cách nhiều cách phân loại như:
Dựa vào tính chất và đặc điểm của du lịch mạo hiểm có thể phân du lịch mạo hiểm thành ba loại
+ Du lịch mạo hiểm trên cạn: bao gồm các môn leo vách núi, leo núi, đi bộ băng rừng..
+ Du lịch mạo hiểm dưới nước: Chèo thuyền vượt thác, lướt ván, khám phá đại dương, đua
gối và khuỷ tay, dù nhảy…tuỳ theo các hoạt động mà các thiết bị giống nhau được thiết kế khác
nhau ví dụ như nón bảo hiểm của leo núi khác với nón bảo hiểm các hoạt động dưới nước. Bất kỳ
loại hình nào của du lịch mạo hiểm cũng đều trang bị hộp y tế và thiết bị thông tin liên lạc đơn giản
nhất là bộ đàm. Bên cạnh đó là các trang thiết bị dùng để di
chuyển: như xe đạp địa hình, xe môtô phân khối lớn như minskhơ,
xe cào cào Ở bộ môn dưới nước có thuyền kayak, bè cao su cho
hai người, sáu người, tàu lượn…
Dịch vụ cơ sở lưu trú cho loại hình du lịch mạo hiểm cũng rất
phong phú khi tham gia này ngoài thiên nhiên ngoài các cơ sở lưu trú là các Thuyền Kayak cho
2 người
khách sạn đạt tiêu chuẩn thì tuỳ theo nội dung, và địa điểm có các dịch vụ lưu trú như nhà dân, nhà
tổ chim, cắm trại ngoài trời để phù hợp với các hình thức lưu trú của du khách.
Các dịch vụ bổ trợ đi kèm trong các tour mạo hiễm như khuâng vác, dẫn đường dành cho các loại
hình như đi bộ trong rừng, chèo thuyền dọc các con sông, leo núi bên cạnh đó dịch vụ nấu ăn luôn đi
kèm với các môn thể thao này ngoài ra dịch vụ cứu hộ phải luôn luôn đi kèm trong bất kỳ loại hình
nào của du lịch mạo hiểm. Ngoài ra còn có các dịch vụ bán và cho thuê trang thiết bị hỗ trợ cho du
lịch mạo hiểm.
Ngoài ra còn các dịch vụ giúp du khách di chuyển đến các địa điểm tổ chức các tour du lịch mạo
hiểm như dịch vụ cáp treo để chơi trò leo núi, cần trục để chơi trò bungy jump, xe khách đưa đón du
khách, trong những trường hợp các phương tiện xe khách không thể tiếp cận được điểm tổ chức thì 8
các dịch vụ như thuê xe gắn máy, đi xe bò, xe ngựa…Các dịch vụ này giúp tạo công ăn việc làm cho
các nguồn lao động tại chỗ và cải thiện cuộc sống của các dân cư sống ven các địa điểm tổ chức.
1.2.6 Đặc điểm của đối tượng khách tham gia du lịch mạo hiểm
Loại hình du lịch mạo hiểm thông thường không dành cho tất cả mọi người như các loại hình
khác, khách tham gia du lịch mạo hiểm đa phần là giới trẻ tuổi từ 18-35, có sức khoẻ tốt, ham mê
du khách đặc biệt là giới trẻ tham gia loại hình này. Bên cạnh đó cuộc sống của con người ngày
càng trở nên áp lực do vậy ngày càng nhiều người tìm đến du lịch mạo hiểm hơn để tìm lại cân bằng
trong cuộc sống. Với phong cách của một loại hình đòi hỏi nhiều yếu tố về thể chất lẫn tinh thần của
người tham gia do vậy nên du lịch mạo hiểm là một cách cho giới trẻ thề hiện phong cách của họ
qua chuyến đi.
Quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, dân số thế giới tăng nhanh làm cho nhiều đô thị mọc lên,
khiến cho các địa điểm tổ chức ngày càng thu hẹp dần bắt buộc các nhà khai thác phải tìm những
địa điểm mới cho việc tổ chức các tour du lịch mạo hiểm như ở Nam Cực, sa mạc thậm chí là ở
ngoài không gian
Tương lai các nhà khai thác sẽ đưa vào những tour du lịch mới hơn nữa bởi những khoảng cách địa
lý, những vùng miền đã được khám phá, nhu cầu của du khách ngày càng đòi hỏi phải đáp ứng thoả
mản tính hiếu kỳ của du khách Do đó trong tương lai sẽ phát triễn các môn du lịch ra bên ngoài
khoảng không vũ trụ với sự trợ giúp của khoa học kỹ thuật con người sẽ có những chuyến du lịch ra
ngoài vũ trụ, lên mặt trăng hay hành tình nào đó. Hiện nay loại hình team building là một dạng rất
được ưu chuộng và phát triễn đến các nước đang phát triễn, ở Việt Nam team building được các
doanh nghiệp sử dụng như một công cụ để liên kết với các cộng đồng trong công ty và thông qua
teambuilding là những bài học kinh nghiệm mà những người lảnh đạo muốn truyền cho nhân viên
của mình.
Với các tour đặt biệt như vậy, cộng với yếu tố nhàn rỗi của ngừơi dân ngày càng tăng khiến cho thời
lượng của các tour mạo hiểm ngày càng được kéo dãn ra. Một tour du lịch mạo hiểm gồm 3 môn
phối hợp phải tốn ít nhất là 1 tuần, các tour của khách nước ngoài phải tốn hơn một tháng và đặc
biệt là các tour di chuyển ra ngoài khoảng không vu trụ.
1.3 Kinh nghiệm tổ chức và khai thác du lịch mạo hiểm một số nước trên thế giới:
Trên cơ sở thực tiễn, nhóm đã thấy được một số nét tương đồng về điều kiện địa lý, tự nhiên… của
tỉnh Đăk Lăk với tỉnh Chiang Mai của Thái Lan, mặc khác Thái Lan là một cường quốc về du lịch
trong khu vực Đông Nam Á, người Thái Lan làm du lịch rất giỏi và sáng tạo các sản phẩm du lịch
mạo hiểm của họ đa dạng và phong phú, đội ngũ hướng dẫn viên chuyên nghiệp do vậy những tour
mạo hiểm của họ là một kinh nghiệm rất có ích để cho chúng ta có thể học hỏi cách tổ chức của họ.
Vì có giới hạn trong đề tài nên nhóm chỉ dẫn dắt được các sản phẩm chính của Thái Lan, một số
nhiệt đới tại thung lũng cũng là khu bảo tồn voi Mae Taeng (Chiang Mai): những chú voi lội trên
những khúc sông cạn, đưa du khách ngang qua những khu chăm sóc voi ngoài trời, ngắm nhìn
những chú voi con vui đùa, nghịch nước với mẹ..
Trò chơi gồm 12 chặng đường gian khổ: những con đường nhỏ quanh co ôm lấy sườn núi, một
bên là vực sâu, một bên là rừng và cuối cùng là đường độc đạo hướng thẳng lên đỉnh núi. Chặng 1-
5: làm quen với môtô. Chặng 6-10: một thách thức thực thụ: vượt đường lầy lội, chinh phục đỉnh
cao. Chặng 11-12: về đích khi trời chập choạng tối trên đường đèo quanh co.
Bungy jump : Du khách sẽ bắt gặp "hung thần" của chuyến là một cần cẩu cao 50m đưa họ lên đến
"đỉnh thế giới". Chân du khách được "băng bó" và đính chặt vào một dây cao su chuyên dụng.
Người điều khiển sẽ bày cho bạn cách nhảy, phải cắm đầu xuống trước và... rơi tự do. Đây là một
cảm giác giống như đứng ở ban công một tòa nhà 12-13 tầng và nhảy xuống! Đó là trò bungy jump,
trò mạo hiểm quen thuộc thường thấy trong spot quảng cáo "Một cảm giác rất Yomost!".
Ở Chiang Mai chỉ có một điểm duy nhất để chơi bungy jump, nơi có rất nhiều ngôi sao nổi tiếng của
Thái Lan và các nước đến chinh phục "hung thần". Trò chơi này đòi hỏi sự an toàn rất cao, và các
thiết bị hỗ trợ hiện đại vào cuộc. Mỗi người có một tấm bằng chứng nhận "cú nhảy thành công vào 11
ngày xx xx 20xx".
Bay dù lượn là tiết mục trong ngày thứ sáu của lịch trình. Sau các hiệu lệnh, chiếc dù lượn từ từ
tăng tốc trên đường băng rồi chợt vút lên cao. Nhà cửa, cây cối, đường sá nhỏ dần. Tay cầm cần
điều khiển độ cao, chân điều khiển hướng dù lượn, "phi công" báo cáo: "Độ cao 800 feet, sức gió
35mph, thời gian bay 15 phút, lộ trình bay vòng quanh ngoại ô Chiang Mai, qua đỉnh núi cao nhất
khu vực, qua hồ nước lớn và trở về sân bay. Báo cáo hết.
Leo vách núi du khách được trang bị những chiếc giày leo núi chuyên dụng, dây an toàn, nón bảo
hộ, bột làm khô tay, du khách từng bước, từng bước leo đến đỉnh cao nhất. Những thử thách đầu
tiên có vẻ dễ dàng nhưng càng lên cao càng khó. Có những vách đá không hề có chỗ bám và cách
duy nhất để chinh phục nó là phải miết 10 đầu ngón tay vào những khoảng lõm của đá để giữ, hai
chân luôn tìm chỗ để tì và tạo sức bật. Những giọt mồ hôi bắt đầu túa ra cho đến khi ướt đẫm áo.
2.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên.
Tài nguyên rừng:
Diện tích đất có rừng của Đăk Lăk là 608.886,2 ha, trong đó rừng tự nhiên là 594.488,9 ha, rừng
trồng là 14.397,3 ha. Độ che phủ rừng đạt 46,62% (năm 2004). Đăk Lăk có 4 rừng đặc dụng là:
Vườn quốc gia Chư Yang Sin huyện Krông Bông, Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar huyện Lắk và
Rừng lịch sử văn hóa môi trường Hồ Lắk huyện Lắk, Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô huyện Ea Kar
mỗi khu có diện tích từ 20 đến 60 nghìn ha, và những thảm thảm rừng đa sinh thái với hơn 3 nghìn
loài cây, 93 loài thú, 197 loài chim trong đó nhiều loại động vật quý hiếm được ghi trong sách đỏ
Việt Nam và thế giới.
Tài nguyên mặt nước:
Mặc dù là một tỉnh vùng cao nhưng mật độ bao phủ mặt nước của tỉnh là 47.000 ha mặt nước, với
một hệ thống sông suối trên địa bàn tỉnh khá dày và phong phú, phân bố tương đối đồng đều. Do địa
hình dốc nên khả năng trữ nước kém, những khe suối nhỏ hầu như không có nước trong mùa khô.
Đáng chú ý là sông Sêrêpôk với 2 nhánh sông chính là sông Krông Ana và Krông Nô, sông Krông
H’năng và sông Đồng Nai. Bên cạnh hệ thống sông suối khá phong phú, trên địa bàn tỉnh hiện nay
còn có rất nhiều hồ, có đến trên 500 hồ nước tự nhiên và nhân tạo lớn là một tỉnh nắm giữ kỉ lục
Việt Nam về tỉnh có nhiều hồ nhất bao gồm các hồ tự nhiên và hồ nhân tạo như hồ Lắk, Ea Kao,
Buôn Triết, Ea sô, … nhất đây là một tiềm năng không nhỏ về phát triển chăn nuôi thủy sản và phát
triển du lịch.
2.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn.
Dân tộc Việt Nam có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống và lao động, nhưng ở Đăk Lăk đã có hơn 44
dân tộc anh em trên địa bàn tỉnh tạo nên nét đặc trưng riêng cho nền văn hóa lâu đời của Đăk Lăk.
Người Êđê và người Mnông là hai dân tộc đại diện cho vùng đất Tây Nguyên với một bề dày lịch sử
và văn hóa. Bên cạnh đó Đắk Lắk còn có kho tàng sử thi phong phú nhất Việt Nam với 292 pho, đã
sưu tầm 77 pho (gồm 12 sử thi Êđê và 65 sử thi M’nông). Nổi tiếng nhất là Bài ca chàng Đam San
(Klei khan Y Đam San) của dân tộc Êđê. Đắk Lắk là một trong những cái nôi nuôi dưỡng Không
gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi
vật thể nhân loại. Chỉ một đội cồng chiêng nổi tiếng của người Đắk Lắk, vỏn vẹn chỉ có 8 nam và 3
địa hình thể hiện sự hòa hợp của những dòng sông xen lẫn núi đồi ao hồ, ghềnh thác và những khu
vực rừng nguyên sinh tạo nên những thác nước đẹp nổi tiếng, đầy thử thách quanh năm mịt mờ
sương khói như thác Thủy Tiên, Bảy Nhánh,… nhiều hồ lớn với diện tích hàng trăm héc ta như hồ
Lắk, Ea Đờn,… đặc biệt là hồ Ea Súp thượng với diện tích 1440 ha phù hợp cho việc tổ chức các
hoạt động du lịch mạo hiểm
Đắk Lắk còn nổi tiếng với nhiều khu vườn nguyên sinh, khu bảo tồn thiên nhiên đã được quy hoạch
như Vườn Quốc gia YokDon, Vườn Quốc gia Chư Yang Sin, khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô,…với 14
nhiều loài động thực vật như voi rừng, lợn rừng, hưu nai và đặc biệt là voi.
Thu hút và gây ấn tượng mạnh mẽ cho khách du lịch đến Đắk Lắk không chỉ là những cảnh quan
thiên nhiên kỳ thú mà còn bởi Đắk Lắk có một nền văn hóa truyền thống đặc sắc, phong phú, đậm
đà bản sắc dân tộc, đầy huyền thoại với những bản trường ca Đam San, Xinh Nhã,…những sản
phẩm làng nghề truyền thống: dệt thổ cẩm, đan lát điêu khắc, những lễ hội và phong tục độc đáo, âm
thanh vang vọng của các loại cồng chiêng, đàn đá, các nhạc cụ làm từ chất liệu của núi rừng, những
lời ca, điệu múa của cộng đồng 44 dân tộc anh em, thể hiện tâm hồn cao nguyên đầy trữ tình và
cháy bỏng khát vọng yêu cuộc sống.
2.2. Thực trạng du lịch của tỉnh Đăk Lăk trong những năm qua.
2.2.1 Cơ sở hạ tầng.
Cơ sở lưu trú:
Hệ thống cơ sở vật chất trong ngành du lịch cả nước nói chung và của tỉnh Đăk Lăk nói riêng trong
thời gian qua đã có một số tiến triển đáng kể, nhưng vẫn chưa sánh kịp so với các nước trong khu
vực và thế giới. Tổng cơ sở lưu trú cả nước đạt gần 9.000 cơ sở với 180.051 buồng. Trong đó 4.283
cơ sở lưu trú xếp hạng chuẩn từ 1 sao đến 5 sao chiếm 49.94%. Thực tế các khách sạn đạt tiêu chuẩn
quốc tế đặc biệt là khách sạn 5 sao còn quá ít và chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn nên dễ gây ra
tình trạng “cháy phòng” dẫn đến việc tăng giá cao và ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ.
Bảng 1 : Số liệu các cơ sở lưu trú tại Đăk Lăk
Và ngoài ra còn có 14 tỉnh lộ với tổng chiều dài 460 km, gần 70 % trong số đó đến cuối tháng 2 năm
2006 đã được rải nhựa. Đường giao thông nội tỉnh được đầu tư mở mới và nâng cấp thuận lợi có thể
thông thương đến biên giới Campuchia mặt khác các tuyến đường đến các khu du lịch đã được nhựa
hóa gần như là đến chân cổng các khu du lịch. Thêm vào đó cùng với việc Chính phủ đầu tư tuyến
đường Hồ Chí Minh, hàng loạt các công trình đầu tư nhằm khai thác lợi thế của tuyến giao thông
này. Điển hình là việc đầu tư xây dựng cửa khẩu quốc tế Bờ Y (Kon Tum) và các trục giao thông sẽ
hình thành nhánh của con dường xuyên Á bắt đầu từ Côn Minh (Trung Quốc) - Myanmar - Lào -
Thái Lan qua cửa khẩu Bờ Y tạo mối quan hệ thương mại quốc tế giữa các tỉnh Đông Bắc Thái Lan,
Nam Lào với các tỉnh Tây Nguyên, duyên hải miền Trung và Đông Nam Bộ.Với một vị trí thuận lợi
như vậy, trong tương lai Đắk Lắk sẽ là một trung tâm giao lưu hàng hoá giữa các vùng và tạo điều
kiện cho các ngành du lịch, dịch vụ phát triển trong những năm tới đây.
Đây cũng là điều kiện khá lý tưởng để thu hút khách du lịch các nước theo tuyến đường bộ này vào
Tây Nguyên - Đắk Lắk cũng như khuyến khích du khách Đắk Lắk đi du lịch nước ngoài. Thế nhưng
đường xá của tỉnh không được đảm bảo về chất lượng, trên các đoạn đường tỉnh lộ, những “ổ gà”
hay “ổ khủng long” nằm chiếm ngay trên đường (ảnh minh hoạ) gây ảnh hưởng xấu đến giao thông
và dễ xảy ra tai nạn, ngoài ra các đoạn đường vào điểm du lịch như thác Krông Kmar, khu du lịch
sinh thái-văn hoá Buôn Đôn …bị “lở loét” phần nào đã ảnh hưởng đến thời gian di chuyển, và tính
an toàn cho du khách. Các lái xe chạy trên các quốc lộ 14, 26, 27 ( là các quốc lộ có bề ngang hẹp)
thường phóng nhanh, vượt ẩu để tranh dành khách đã tạo nên ấn tượng xấu trong lòng khách du lịch.
Đường hàng không
Hàng ngày có các chuyến bay từ Buôn Ma Thuột đi Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và
ngược lại bằng máy bay cỡ trung A320.
Cụm cảng Hàng không Buôn Ma Thuột đang tiếp tục được đầu tư xây dựng hệ thống sân bãi và cơ
sở vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu giao thông trong tương lai. 16
17 0
50000
100000
150000
200000
250000
2005 2006 2007 2008 Quý I
2009
Lượt khách nội địa
Lượt khách quốc tế
(Nguồn: Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Đăk Lăk)
Qua biểu đồ cho ta thấy rằng lượng khách quốc tế trong những năm qua ở tỉnh có dấu hiệu đang
tăng lên, nhưng mức tăng trưởng không ổn định, tốc độ tăng trung bình đạt 15,94% (năm 2005-
2008) riêng năm 2007 lượt khách quốc tế đã giảm 3.128% so với năm 2006 . Nhưng dấu hiệu đáng
mừng ở đây là năm 2008 lượng khách quốc tế đến tỉnh Đăk Lăk lại tăng 14% so với năm 2007 mặc
dù năm 2008 là năm mà ngành du lịch quốc tế và trong nước gặp nhiều khó khăn. Lượt khách nội
địa năm 2007 tăng đáng kể 17,5% so với năm 2006 và có dấu hiệu chùn lại tăng 2,7% trong năm
2008. Trên đà đó trong quý I năm 2009 ngành du lịch của tỉnh tiếp tục duy trì tốc độ tăng
trưởng.Tổng số khách đón tiếp đạt 56.000 lượt khách đạt 18.67% kế hoạch năm 2009 tăng 2.26% so
với cùng kỳ năm 2008, trong đó khách quốc tế xấp xỉ 5.000 lượt khách, đạt 20% kế hoạch năm 2009
giảm 37.23% so với cùng kỳ năm 2008. Thực tế cho thấy rằng tác động của khủng hoảng kinh tế
toàn cầu dịch cúm gia cầm H5N1và mới đây là dịch cúm lợn H1N1 đã hạn chế lượng khách quốc tế
đến du lịch ở tỉnh, trong khi đó lượng khách du lịch nội địa tăng nhanh là do các đoàn khách trong
nước đến khảo sát, công tác và dự hội nghị, khách đến với mục đích du lịch thật sự còn ở mức thấp.
Nhìn chung du lịch của tỉnh Đăk Lăk hiện nay chỉ thu hút chủ yếu được lượng khách nội địa và một
lượng nhỏ khách nước ngoài. Xét cho cùng bởi vì các sản phẩm du lịch ở Đăk Lăk chủ yếu là các
phẩm du lịch sang trọng. Theo nhóm nghiên cứu thì du lịch tỉnh Đăk Lăk vẫn chưa tận dụng hết thế
mạnh của mình để thu hút mạnh mẽ lượng khách có mức chi tiêu trung bình, cũng như khách có
mức chi tiêu cao. Thiết nghĩ để phát triển du lịch bền vững cần phải tạo được nhiều công ăn việc
làm cho các đồng bào dân tộc tại chỗ và các cư dân sinh sống ven các khu du lịch cũng như phải
đảm bảo sinh thái môi trường, trong khi đó những khách có mức chi tiêu cao và những khách hạng
sang lại góp phần tạo nên đảm bảo điều đó. Vì vậy với chủ trương phát triển du lịch bền vững thì
ngành du lịch tỉnh Đăk Lăk cần phải chú trọng thu hút nhiều hơn thị trường du khách đầy tiềm năng
này.
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu chi tiêu của
khách du lịch khi đến Đăk Lăk
32%
46%
21.80%
Đi lại
Lưu trú
Ăn uống, mua hàng
hoá19
2.2.3 Thực trạng khai thác du lịch ở Đăk Lăk:
Đắk Lắk là một trong những tỉnh giàu tiềm năng về du lịch của Việt Nam với nhiều di tích, thắng
cảnh và truyền thống văn hóa đa dạng. Đặc biệt, Đắk Lắk có Bản Đôn là một địa danh đã được đưa
vào bản đồ du lịch thế giới vì truyền thống săn bắt, thuần dưỡng voi rừng và ở Đăk Lăk có nhiều
thắng cảnh đẹp và hoang sơ đang được đưa vào khai thác như khu dịch lịch sinh thái buôn đôn, khu
du lịch Lăk, thác KrôngKmar, thác Draysap, thác Gia Long, vườn quốc gia Yokdon, Chư Yang
Sing…bên cạnh đó còn có những khu du lịch văn hoá lịch sử như Bảo tàng dân tộc Đăk Lăk, hang
đá Đaktour, tháp chăm Yang Prong…Đặc biệt trong những năm gần đây ngành du lịch của tỉnh đã
đạt được một số thành tựu đáng khích lệ như tổ chức được nhiều sự kiện lớn, doanh thu tăng đều
20
Biều đồ 2.4 Tỉ trọng cơ cấu ngành ở
Đăk Lăk
66.50%
12.40%
21.10%
Nông - Lâm nghiệp
Công nghiệp
Dịch vụ
Tuy nhiên do xuất phát chủ yếu từ ngành nông nghiệp là chính tỷ trọng nông-lâm nghiệp chiếm
66.5%, tỷ trọng ngành công nghiệp là 12,4% và tỷ trọng ngành dịch vụ chiếm 21.1% nên ta thấy
đóng góp của ngành du lịch vào tổng thu nhâp của tỉnh là còn chưa cao. Thật sự ngành du lịch của
tỉnh có xuất phát điểm thấp chỉ mới bắt đầu đi vào hoạt động thực sự vào năm 1994, các hoạt động
du lịch còn tính chất còn bộc phát, nhiều khu du lịch sinh thái chủ yếu dựa vào các khu sinh thái có
sẵn, việc xây dựng và đầu tư chỉ mang tính chất sơ xài, thiếu đồng bộ.
(Nguồn: sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Đăk Lăk)
Các doanh nghiệp hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh chủ yếu là xây dựng cổng để thu tiền vé chứ
ít chú trọng việc phát triển cơ sở hạ tầng du lịch cũng như thay đổi nội dung chương trình hoạt động
dẫn đến tình trạng các tài nguyên thiên nhiên bị khai thác một cách lãng phí và kém hiệu quả. Một
số khu du lịch như Lăk, Buôn Đuôn.. bước đầu đã có đầu tư vào khu resort nhưng không đúng qui
cách làm mất đi cảnh quan vốn có của thiên nhiên, nhóm lấy ví dụ điển hình là ở khu du lịch Lăk