TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
KINH TẾ THƯƠNG MẠI
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
THỦY SẢN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN HẢI VIỆT
(HAVICO)
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thanh Phong
Sinh viên thực hiện : TRẦN THỊ THÚY NGÂN
Mã số sinh viên : 09407081
Lớp : QTKDTM K2009
Học tại : Trường Đại học Tây Nguyên
Buôn Ma Thuột, tháng 05 năm 2012
LỜI CAM ĐOAN
Đề án môn học được hoàn thành trên cơ sở nghiên cứu của bản thân em
dựa trên tài liệu, số liệu thu thập thực tế và các nguồn có liên quan, không sao
chép nguyên văn từ các chuyên đề, luận văn và các bài viết khác.
Em xin chịu trách nhiệm trước Nhà trường về cam đoan này.
Sinh viên thực hiện
TRẦN THỊ THÚY NGÂN
MỤC LỤC
&
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN HẢI VIỆT
(HAVICO) 3
1.1. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÔNG TY 3
1.2. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY 4
1.3. CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY 5
1.3.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty 5
3.2.4. Giải pháp về nhân sự 39
3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỚI NHÀ NƯỚC 40
KẾT LUẬN 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, với xu hướng hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới. Việt
Nam đang trên đà đẩy mạnh các hoạt động kinh tế - chính trị và nhằm tìm
kiếm cho mình một chỗ đứng vững chắc trên trường quốc tế. Hoạt động xuất
khẩu hiện nay đang được đặc biệt chú trọng bởi nó mang lại cho nền kinh tế
xã hội những bước chuyển mới với hiệu quả rõ rệt, là động lực để thúc đẩy và
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư, mở rộng sản xuất, tạo nguồn thu
nhập cho cộng đồng và xã hội… Giống như nhiều quốc gia đang phát triển
khác, Việt Nam rất coi trọng xuất khẩu, lấy xuất khẩu làm nền tảng, thu ngoại
tệ nhằm phát triển nền kinh tế trong nước, kiến thiết và xây dựng cơ sở hạ
tầng. Tuy nhiên do kinh tế còn lạc hậu, trình độ kỹ thuật còn non kém nên các
mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu chỉ là các mặt hàng nông sản có
giá trị kinh tế thấp… Với ưu thế là một quốc gia ven biển giàu tiềm năng về
thủy sản, có thể nói thủy sản là một mặt hàng xuất khẩu đem lại giá trị kinh tế
lớn, mang lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước với kim ngạch xuất khẩu tăng
liên tục theo từng năm và luôn nằm trong top những ngành có giá trị xuất
khẩu hàng đầu của Việt Nam. Tuy nhiên ngành thủy sản Việt Nam vẫn còn
tồn tại nhiều bất cập cần phải khắc phục, đặc biệt trong vấn đề cải tạo nuôi
trồng, nguồn nguyên liệu, lao động lành nghề, kỹ thuật nuôi trồng và chế biến
thủy sản, những hiểu biết cũng như việc chấp hành các quy định của các nước
nhập khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam còn hạn chế nên giá trị
và lợi nhuận thực tế từ ngành thủy sản mang lại là chưa cao, thiếu sự tin
tưởng từ các đối tác.
Hơn 10 năm qua, giá trị xuất khẩu thủy sản của cả nước có bước tăng
trưởng đáng kể, từ gần 1,5 tỷ USD năm 2000 tăng lên hơn 5 tỷ USD vào năm
Địa chỉ : 167/10 Đường 30/4, Phường Thắng Nhất, Tp.Vũng Tàu, Tỉnh Bà
Rịa - Vũng Tàu
Điện thoại : (84.64) 3848 255 Fax: (84-64) 3848.353
Email :
Website : www.havicovn.com
Logo :
Văn phòng đại diện : 14C11 Thảo Điền, P Thảo Điền, Quận 2, Tp. HCM
Tổng Giám đốc : Ông Phan Thanh Chiến
Giấy CN ĐKKD số : 4903000001 do Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh Bà Rịa -
Vũng Tàu cấp ngày 24/04/2000
Ngành nghề kinh doanh : Chế biến và xuất khẩu hải sản
Mã số thuế : 3500387294
Tài khoản ngân hàng : Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam – Chi nhánh
Vũng Tàu
Trụ sở chính:
3
Địa chỉ: 167/10 Đường 30/4, Phường Thắng Nhất, Tp.Vũng Tàu, tỉnh Bà
Rịa - Vũng Tàu
Điện thoại: (064) 3848255 Fax: (064) 3848353
Văn phòng đại diện:
Địa chỉ: 14C11 Thảo Điền, P.Thảo Điền, Quận 2, TP.HCM
Điện thoại: (08) 35190520 Fax: (08) 35190522
1.2. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY
Công ty trách nhiệm hữu hạn Hải Việt được thành lập năm 1990, năm 1991
bắt đầu đi vào hoạt động với tên giao dịch là HAVICO.
Năm 1995, công ty bắt đầu sản xuất các mặt hàng tinh chế, ăn liền như
sushi, sashimi, chả giò cao cấp… được thị trường Nhật Bản ưa chuộng. Công
ty đang sản xuất khoảng 300 mặt hàng tinh chế, dạng hàng siêu thị ăn liền từ
dây chuyền công nghệ mới, hiện đại chủ yếu cung cấp cho thị trường Nhật
Bản, Hàn Quốc, EU, Mỹ, Úc, U.A.E và các nước châu Á khác.
(124.000 cổ
phiếu - MG :
100.000
đồng/cp)
- Phát hành cổ phiếu
thường: 33.090 cổ phiếu
- Phát hành cho cổ đông
hiện hữu: 90.910 cổ
phiếu
26.000.000.000
Tăng vốn lần 02:
11/06/2007
(*)
36.637.200.00
0
(366.372 cổ
phiếu
- MG: 100.000
đồng/cp)
Phát hành cổ phiếu:
- Cổ đông chiến lược:
8.825 cổ phiếu
- CBCNV: 9.732 cổ
phiếu
- Cổ đông hiện hữu:
247.815 cổ phiếu
- Cổ phiếu thường:
100.000 cổ phiếu
62.637.200.000
1.3. CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY
hợp tác kinh doanh
với đối tác Nhật Bản
P.HÀNH CHÍNH
& NHÂN SỰ
PHÒNG KẾ
TOÁN
PHÒNG THU
MUA
PHÒNG THÍ
NGHIỆM
KHO LẠNH
PHÂN XƯỞNG
CƠ ĐIỆN LẠNH
P.DỊCH VỤ
KHÁCH HÀNG
PHÒNG SẢN
XUẤT I
PHÒNG SẢN
XUẤT II
PHÒNG SẢN
XUẤT III
PHÒNG SẢN
XUẤT IV
PHÒNG SẢN
XUẤT V
PHÒNG SẢN
XUẤT …
PHÒNG SẢN
XUẤT I
PHÒNG SẢN
Nhà máy HAVICO 1 là bộ phận chuyên sản xuất các mặt hàng từ mực,
bạch tuộc, cá, ốc, cua, ghẹ, và các mặt hàng chế biến sẵn như chả giò, các sản
phẩm áo bột. Đứng đầu có Giám đốc nhà máy, có quyền tự chủ trong sản xuất
và tuyển dụng nhân sự phục vụ cho hoạt động sản xuất của nhà máy.
(ii) Nhà máy HAVICO 2
Nhà máy HAVICO 2 là bộ phận chuyên sản xuất các mặt hàng từ tôm.
Đứng đầu là Giám đốc nhà máy, có quyền tự chủ trong sản xuất và tuyển
dụng nhân sự phục vụ cho sản xuất.
(iii) Nhà máy Hợp đồng hợp tác kinh doanh-BCC Plant
Nhà máy Hợp đồng hợp tác kinh doanh được thành lập để thực hiện Hợp
đồng hợp tác kinh doanh với đối tác Nhật Bản là KANETOKU và
7
KANEMATSU. Nhà máy này chính thức đi vào hoạt động từ tháng 11 năm
1995. Toàn bộ hoạt động của BCC Plant do HAVICO điều hành trực tiếp.
Tổng số nhân viên của BCC Plant là gần 300 người.
(iv) Văn phòng đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng đại diện tại Tp. Hồ Chí Minh phụ trách các nghiệp vụ về xuất
nhập khẩu, giao dịch, thanh toán tín dụng, dịch vụ giao nhận ngoại thương,
đàm phán, ký kết các hợp đồng mua bán, xuất nhập khẩu
(v) Phòng Hành chính – Nhân sự
Điều hành và quản lý các hoạt động Hành chính và Nhân sự của toàn công
ty. Thiết lập và đề ra các kế hoạch và chiến lược để phát triển nguồn nhân lực.
Xây dựng nội quy, chính sách về hành chính và nhân sự cho toàn công ty. Tổ
chức thực hiện và giám sát việc thực hiện các quy chế, chính sách về hành
chính, nhân sự phù hợp với thực tế của công ty và với chế độ hiện hành của
Nhà nước.
(vi) Phòng kế toán
Phòng kế toán tài vụ có nhiệm vụ tổ chức bộ máy kế toán, quản lý tài
chính, lập sổ sách, hạch toán, báo cáo số liệu kế toán, trực tiếp thực hiện công
tác kế toán cho các Nhà máy.
Trong những năm gần đây ngành nuôi trồng thủy sản phát triển một cách
nhanh chóng, đã kéo theo sự phát triển của nhiều công ty chế biến đông lạnh
xuất khẩu. Việt Nam ngày càng có nhiều nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu
đang được mở rộng và xây dựng, điều đó làm cho nguồn nguyên liệu có nguy
cơ bị thiếu hụt. Trong khi đó các nhà nhập khẩu thường đòi hỏi sản phẩm
GMS (thực hành sản phẩm tốt), HACCP (hệ thống phân tích mối nguy tại
điểm kiểm soát giới hạn) hoặc SSOP (tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm). Những
tiêu chuẩn này không những áp dụng cho khâu chế biến mà xuyên suốt trong
quá trình sản xuất từ nguyên liệu đến bảo quản thành phẩm cho nên không thể
coi nhẹ vấn đề về chất lượng ngay từ công đoạn khai thác nguyên liệu.
Đối với Công ty cổ phần Hải Việt, nguồn nguyên liệu đầu vào được khai
thác chủ yếu từ các vùng như tỉnh Bến Tre, Kiên Giang, và một số tỉnh miền
Tây.
Bến Tre là một trong những vùng nguyên liệu thủy sản lớn nhất cả nước,
tình hình nuôi tôm biển của Bến Tre hiện nay đang gặp nhiều khó khăn do
dịch bệnh trên tôm đã bùng phát và thiệt hại không nhỏ, nhưng nhìn chung
kinh tế thủy sản trong tỉnh không ngừng phát triển cả nuôi trồng, đánh bắt và
9
chế biến xuất khẩu. Tốc độ phát triển khá nhanh, tăng trưởng trong giai đoạn
2006 - 2010 khoảng 14,7%, trong năm 2011 tăng 13,74%. Tổng giá trị sản
xuất toàn ngành thủy sản năm 2011 đạt 11.560 tỷ đồng, chiếm 40% khu vực I.
Nuôi trồng thủy sản phát triển khá mạnh trong những năm gần đây, nhất là
các vùng ven biển với các đối tượng nuôi chủ lực như tôm chân trắng, tôm sú,
nghêu, sò huyết, cua biển. Theo thống kê, hiện toàn tỉnh có tổng diện tích
nuôi thủy sản 43.000 ha, Giá trị sản xuất nghề nuôi thủy sản năm 2011 đạt
8.400 tỷ đồng, trong đó có trên 90% sản lượng nuôi có giá trị kinh tế cao. Về
đánh bắt, Bến Tre được xác định là một trong những tỉnh đi đầu về đội tàu
đánh bắt xa bờ trong cả nước với nhiều ngành nghề phong phú như lưới rê,
câu mực, lưới vây, lưới kéo.
Tỉnh Kiên Giang là một nơi có nhiều tiềm năng kinh tế thủy sản đa dạng và
thông,…với chi phí thấp nhất và thời gian ngắn nhất. Những bí quyết công
nghệ của công ty nhiều khi đơn giản nhưng có tầm quan trọng sống còn với
mỗi doanh nghiệp, bởi đây là lợi thế cạnh tranh so với doanh nghiệp khác.
Hầu như tất cả các nhà máy chế biến của HAVICO đều được chứng nhận tiêu
chuẩn HACCP, ISO 9001:2000, EU Codes, BRC, HALAL, IFS và đáp ứng
được mọi yêu cầu từ khách hàng, kể cả những khách hàng khó tính nhất.
Hệ thống máy móc cơ sở vật chất của nhà máy chế biến và bảo quản của
công ty:
- 07 phòng sản xuất sạch và 01 phòng thí nghiệm với trang thiết bị
hiện đại
- Hệ thống máy bao bì, đóng gói hiện đại cho nhiều lọai hình packing:
I.Q.F, hút chân không, skin pack,block, semi block
- Hệ thống kho lạnh: Tổng công suất trên 3000 tấn
- 04 máy đá vảy (flake ice): công suất 90 tấn/ngày
- 12 máy cấp đông: Tổng công suất 65 tấn/ngày
+ 03 máy cấp đông tiếp xúc (contact freezer)
+ 03 máy cấp đông gió (air blast)
+ 02 máy cấp đông I.Q.F (I.Q.F freezer)
+ 02 cấp đông siêu tốc (high speed I.Q.F freezer)
+ 01 cấp đông xoắn (spiral)
+ 01 máy cấp đông tunel
11
b. Nguồn nhân lực
Đội ngũ lãnh đạo HAVICO, từ cấp phó đến cấp trưởng đều đã tốt nghiệp
đại học chuyên ngành trở lên và gắn bó với công ty từ những ngày đầu thành
lập.
HAVICO có tổng số khoảng 100 kỹ sư và hơn 100 người có trình độ kỹ
thuật cao, hơn 70 người đã qua tu nghiệp tại Nhật Bản. Đây là một nguồn
nhân lực rất mạnh so với nhiều công ty khác trong ngành. Hơn thế, mỗi năm,
công ty tiếp tục gửi 6 - 8 công nhân sang Nhật học tập trong 6 tháng, cập nhật
chưa được chú trọng do công ty chưa có phòng marketing riêng, việc tìm
kiếm khách hàng vẫn do phòng dịch vụ và khách hàng đảm nhiệm nên chưa
được chuyên tâm đầu tư đúng mức.
Công tác marketing, hoạt động thương mại điện tử và công tác nghiên cứu
phát triển chưa được chú trọng đầu tư đúng mức nên kết quả của các hoạt
động này mang lại cho công ty là chưa cao mà đây lại là vấn đề then chốt để
công ty có thể thâm nhập và phát triển thị trường trong điều kiện môi trường
cạnh tranh ngày càng khốc liệt và gay gắt như ngày nay.
Ngoài ra công ty cũng chưa chú trọng đến thị hiếu người tiêu dùng nên
chưa thực sự quan tâm đến việc thiết kế bao bì để tạo ấn tượng đối với khách
hàng và thân thiện với môi trường và đặc biệt là tạo ra các sản phẩm có giá trị
gia tăng cao trên cơ sở các mặt hàng truyền thống. Bên cạnh đó, công ty cũng
rất quan tâm đến các hoạt động marketing truyền thống như tham gia hội chợ,
gửi catalouge cho khách hàng và giới thiệu sản phẩm qua website. Các hoạt
động marketing này tương đối đơn giản và có thể tiết kiệm chi phí nhưng hiệu
quả chưa cao.
1.4.2. Những nhân tố bên ngoài
1.4.2.1. Yếu tố tự nhiên
Bà Rịa - Vũng Tàu là một tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ, nằm trong vùng
kinh tế trọng điểm phía Nam, có diện tích tự nhiên 2.006 km
2
, dân số hơn
800.000 người. Bà Rịa - Vũng Tàu có bờ biển dài 156 km (nếu tính cả Côn
Đảo là 300 km), trong đó gần 80 km là bãi cát đẹp có thể sử dụng làm bãi
tắm. Tại Bà Rịa-Vũng Tàu, nhiệt độ trung bình 27
o
C, nhiều nắng gió nhưng
hầu như không có bão.
13
Vị trí này rất đặc biệt, đây chính là cửa ngõ hướng ra biển Đông của các
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, với tôn chỉ là: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý
và nhân dân làm chủ thông qua cơ quan quyền lực là Quốc hội Việt Nam.
Nước ta chủ trương thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ hòa bình,
hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích
14
cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm
trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam
xã hội chủ nghĩa giàu mạnh. Đến nay Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với
trên 180 nước thuộc tất cả các châu lục và lần đầu tiên trong lịch sử có quan
hệ bình thường với tất cả các nước lớn, các ủy viên thường trực của Hội đồng
bảo an Liên hợp quốc. Cho đến nay, Việt Nam là thành viên của 63 tổ chức
quốc tế và có quan hệ với hơn 650 tổ chức phi chính phủ trên thế giới Năm
2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương
mại Quốc tế(WTO). Đây là một bước ngoặc lớn trong tiến trình hội nhập với
nền kinh tế quốc tế. Cũng trong năm này Việt Nam được bầu làm thành viên
không thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp Quốc nhiệm kỳ 2008-2009.
Việt Nam đã hoạt động tích cực với vai trò ngày càng tăng tại Liên hợp quốc
(ủy viên ECOSOC, ủy viên Hội đồng chấp hành UNDP, UNFPA và UPU ),
phát huy vai trò thành viên tích cực của phong trào Không liên kết, Cộng
đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp, ASEAN Có thể nói ngoại giao đa
phương là một điểm sáng trong hoạt động ngoại giao thời đổi mới. Những kết
quả đạt được trong mối quan hệ đan xen này đã củng cố và nâng cao vị thế
quốc tế của đất nước, tạo ra thế cơ động linh hoạt trong quan hệ quốc tế, có
lợi cho việc bảo vệ độc lập tự chủ và an ninh cũng như công cuộc xây dựng
đất nước.
Với thời kỳ hội nhập như vậy thì rất thuận lợi cho việc giao thương. Đặc
biệt là trong lĩnh vực xuất khẩu. Mà nhất là xuất khẩu hàng thủy sản đang rất
được quan tâm. Bên cạnh đó nhà nước còn hỗ trợ rất nhiều điều kiện thuận lợi
để ngành ngày thêm phát triển; về phát triển thị trường phụ trợ cho ngành
thủy sản; những giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản vào các thị trường
Một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế là thu -
chi ngân sách nhà nước nhất là cơ cấu thu - chi, tỷ lệ bội chi so với GDP.
Trong những năm qua, cân đối thu - chi ngân sách nhà nước được cải thiện.
Tổng thu ngân sách nhà nước các năm 2007 - 2011 luôn đạt, thậm chí vượt dự
toán hằng năm và theo xu hướng tốc độ tăng năm sau cao hơn năm trước. Cụ
thể là: Thu ngân sách năm 2006 vượt dự toán 9,8%; năm 2007 vượt 15,2%;
năm 2008 vượt 23,8% và tăng 26,3%; năm 2009 tăng 29%; năm 2010 vượt dự
toán 9,3%; và năm 2011 ước vượt dự toán 10%. Cơ cấu thu ngân sách có
chuyển biến tích cực: Thu nội địa tăng từ 52,1% năm 2006 lên 55,17% năm
2007; 55,13% năm 2008; 60,96% năm 2009; 60,5% năm 2010 và ước đạt
61% năm 2011. Các khoản thu có tỷ trọng lớn đều đạt mức khá. Các năm
2008, 2009 và 2010, mặc dù chịu ảnh hưởng lớn của mưa lũ ở miền Trung,
Tây Nguyên song nhiều khoản thu chủ yếu, như thu từ doanh nghiệp đầu tư
nước ngoài, thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh, phí và lệ
phí, thu từ khu vực kinh tế quốc doanh, thu từ nhà, đất đều đạt mức tăng khá
Cơ cấu kinh tế được chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng GDP của
khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản; tăng dần tỷ trọng của khu vực công
nghiệp và dịch vụ. Trong 2 năm 2008 và 2009, mặc dù chịu tác động của suy
16
thoái kinh tế thế giới nên cơ cấu GDP theo ngành có sự chuyển dịch chậm
hơn, nhưng về cơ bản, vẫn diễn ra theo chiều hướng tích cực.
Nông nghiệp có sự khởi sắc toàn diện, chất lượng tăng trưởng khá ổn định.
Tốc độ tăng trưởng GDP của khu vực này bình quân thời kỳ 2007 - 2011 tăng
trên 2,59%/năm, trong đó, năm 2009 tăng 1,83%, năm 2010 tăng 2,78% và
năm 2011 ước tăng 3%. Sản xuất nông nghiệp phát triển góp phần quan trọng
vào việc bảo đảm an ninh lương thực, thực phẩm quốc gia trong mọi tình
huống, đặc biệt vào thời điểm trên thế giới diễn ra khủng hoảng lương thực,
giá lương thực tăng cao. Sản lượng lương thực có hạt năm 2010 đạt 44,6 triệu
tấn, tăng 4 triệu tấn so với năm 2007 (10%); năm 2011 ước đạt 45 triệu tấn.
Lượng gạo xuất khẩu bình quân 5 năm qua đạt trên 5,9 triệu tấn/năm, trong đó
doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu vào các thị trường khó tính (EU, Mỹ,
Nhật Bản…) tăng hai lần so với trước; hàng thủy sản Việt Nam đã có mặt tại
130 quốc gia và vùng lãnh thổ; sản phẩm xuất khẩu đa dạng hơn về chủng
loại.
Tuy nhiên, xuất khẩu thuỷ sản cũng còn nhiều thách thức, trong đó chủ yếu
là các hàng rào kỹ thuật mới từ các thị trường nhập khẩu đòi hỏi ngày càng
cao. Bởi vậy, các doanh nghiệp thuỷ sản phải không ngừng đổi mới công
nghệ để đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường. Bên cạnh đó,
cũng cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý và doanh nghiệp để
siết chặt công tác kiểm tra, kiểm soát an toàn vệ sinh chất lượng hàng thủy
sản. Ngành thủy sản cũng phải đẩy mạnh sử dụng các tiến bộ công nghệ sinh
học để phát triển nuôi trồng thủy sản trên quy mô lớn, giảm thuế nhập khẩu
thủy sản để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp giải quyết vấn đề thiếu
nguyên liệu, đa dạng mặt hàng và tăng cường chế biến hàng có giá trị gia tăng
cao. Trong kế hoạch phát triển giai đoạn 2010-2020, Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn đặt mục tiêu, giá trị xuất khẩu của riêng thủy sản phải đạt tối
thiểu 7 tỷ USD, đòi hỏi ngành thủy sản phải có nhữngbước chuyển cơ bản
trong tư duy phát triển kinh tế thủy sản bền vững.
1.4.2.4. Tỷ giá hối đoái
Nền kinh tế ổn định thì việc thương mại sẽ diễn ra một cách thuận lợi và
nhanh chóng, nhất là trong lĩnh vực xuất khẩu. Cụ thể là vấn đề tỷ giá hối
đoái, việc tăng, giảm của tỷ giá hối đoái ảnh hưởng trực tiếp đến việc xuất
khẩu của công ty. Hiện nay do cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam có
nhiều bất cập, 70-80% đầu vào của mặt hàng xuất khẩu là nhập khẩu, trong
khi xuất khẩu lại lệ thuộc vào biến động trên thị trường quốc tế về điều kiện
18
thương mại cũng như biến động giá cả. Do xuất khẩu nhiều, nhưng hầu hết ở
dạng thô, giá trị gia tăng trên từng đơn vị xuất khẩu không cao, trong khi nhập
siêu rất lớn, chủ yếu từ Trung Quốc (chiếm đến 80-90%/tổng kim ngạch nhập
khẩu). Như vậy sự phụ thuộc của giá cả trong nước vào giá cả thị trường quốc
nấm do nhu cầu thủy sản mạnh mẽ tại các thị trường thế giới trong khi Thái
19
Lan cũng phải đối mặt với tình trạng thiếu nguyên liệu do những thay đổi môi
trường và vấn đề về chính trị.
- Ấn Độ: Tôm đông lạnh vẫn là mặt hàng xuất khẩu chính của Ấn Độ
chiếm gần 44%. Theo một quan chức của Hiệp hội Xuất khẩu Thủy sản Ấn
Độ (SEAI) cho biết, xuất khẩu thủy sản trong năm tài chính 2011 – 2012 của
quốc gia này có khả năng đạt mức 4 tỷ USD, chủ yếu nhờ xuất khẩu tôm.
Thương vụ Việt Nam tại đây cho biết, Ấn Độ bắt đầu nuôi tôm sú từ năm
2010 nhằm cạnh tranh với các nước như Trung Quốc và Thái Lan trên thị
trường toàn cầu. Hiện các cơ sở nuôi tôm sú đã chiếm 30% thị phần nuôi tôm.
Cơ quan phát triển sản phẩm thủy sản Ấn Độ (MPEDA) cho biết, trong giai
đoạn từ tháng 4 – 9/2011, xuất khẩu tôm trắng tăng 495% về khối lượng,
692% về giá trị tính theo giá trị đồng Rupee và 721% giá trị tính theo USD so
với cùng kỳ năm trước.
Trong năm tài chính 2011, Ấn Độ xuất khẩu 813.091 tấn thủy sản trị giá
129,014 tỷ rupee (khoảng 2,856 tỷ USD). Trong đó, tôm đông lạnh chiếm
44% tổng lượng xuất khẩu.
Ngoài ra, sự đầu tư mạnh mẽ trong việc mở rộng sản lượng, đa dạng hóa
chủng loại sản phẩm, tạo dựng và phát triển thương hiệu cho các mặt hàng
thủy sản của một số nước trong khu vực như Ấn Độ, Thái Lan, Inđônêxia,
Philippin nhằm củng cố và phát triển thị phần tại một số thị trường nhập khẩu
thủy sản lớn như: Mỹ, EU, Nhật Bản cũng sẽ là thách thức rất lớn cho các
doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam.
b. Đối thủ cạnh tranh trong nước
Hiện nay Việt Nam có nhiều công ty xuất khẩu thủy sản với kim ngạch
xuất khẩu hàng năm cao. Hiện tại Công ty cổ phần Hải Việt hoạt động kinh
doanh trên các thị trường nội địa và thị trường thế giới nên công ty luôn phải
đối mặt với nhiều đối thủ cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước. Đối
thủ cạnh tranh trong nước của công ty hiện nay có thể nhắc đến: Công ty cổ
với giá trị 75,7 triệu USD trong 3 tháng đầu năm, gấp hơn 3 lần so với công ty
Quốc Việt ở vị trí thứ hai.
Năm 2006 đánh dấu mốc quan trọng trong giai đoạn phát triển mới của
Minh Phu Seafood Corp, chuyển từ mô hình công ty gia đình sang công ty cổ
phần và đã niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Đây cũng là mốc
quan trọng cho sự khởi đầu mới trong việc áp dụng qui trình sản xuất khép
kín
Trong mô hình khép kín đó, Minh Phu Seafood Corp đã liên tiếp thành lập
các công ty thành viên gồm: Công ty sản xuất giống thủy sản Minh Phú -
Ninh Thuận, Công ty nuôi trồng thuỷ sản Minh Phú - Kiên Giang, Công ty
nuôi trồng thuỷ sản Minh Phú - Cà Mau.
Trong các mặt hàng thủy sản xuất khẩu, tôm là mặt hàng chủ lực, 9 tháng
năm 2011 Minh Phu Seafood Corp đã xuất khẩu hơn 16 nghìn tấn tôm đông
21