TIỂU LUẬN: Báo cáo về công tác tổ chức quản lý và sử dụng vốn kinh doanh của công ty xây lắp và sản xuất vật liệu kênh cầu - Pdf 11


TIỂU LUẬN:
Báo cáo về công tác tổ chức quản lý và
sử dụng vốn kinh doanh của công ty
xây lắp và sản xuất vật liệu kênh cầu Lời nói đầu

Trong nền kinh tế thị trường điều kiện tiền đề để các doanh nghiệp có thể
thực hiện được các hoạt động sản xuất kinh doanh là phải có một lượng vốn
nhất định. Nếu không có vốn thì không thể nói đến bất kỳ hoạt động sản xuất
kinh doanh nào. Hơn nữa, mục đích của sản xuất kinh doanh là thu được lợi
nhuận cao. Do vậy nhiệm vụ đặt ra cho các doanh nghiệp là phải tổ chức huy
động và sử dụng vốn sao cho hiệu quả nhất trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc
quản lý tài chính và chính sách, chế độ của nhà nước. Từ đó việc nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của
các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Tổ chức huy động vốn và sử dụng vốn sản xuất kinh doanh có ý nghĩa
hết sức quan trọng, là điều kiện tiền đề để các doanh nghiệp khẳng định vị trí
của mình và tìm được chỗ đứng vững chắc trong nền kinh tế thị trường. Chính
vì thế nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là vấn đề bức xúc đặt ra đối
với các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhà nước nói riêng.
Trong điều kiện kinh tế hiện nay, để có được các yếu tố cần thiết cho
quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, đòi hỏi doanh nghiệp phải có một

nghệ sản xuất mới, đó là sản xuất bằng dây truyền máy móc hiện đại của Italia
thay đổi công nghệ sản xuất thủ công và các loại máy thô sơ, sản xuất ra gạch
Tuynel có chất lượng cao; sản phẩm tạo ra nhiều. Với sự thay đổi này, theo
quyết định sô 111/QĐ-UB ngày 27/02/1997 của UBND tỉnh Hưng Yên đổi tên
xí nghiệp gạch ngói Kênh Cầu thành công ty gạch Hưng Yên.
Với sự phát triển không ngừng của công ty và ngày một chuyên môn
hoá dây truyền sản xuất, theo quyết định số 725/QĐUB ngày 23/4/1998 của
UBND tỉnh Hưng Yên đổi tên công ty gạch Hưng Yên thành công ty gạch
Tuynel Kênh Cầu.
Trong những năm gần đây do sự phát triển của ngành xây dựng tỉnh
Hưng Yên công ty đã thành lập thêm các đội xây lắp chuyên trách. Vì thế theo
quyết định số 2412 ngày 26/02/2001 của UBND tỉnh Hưng Yên đổi tên công
ty gạch Tuynel Kênh Cầu thành công ty xây lắp và sản xuất vật liệu kênh cầu
như ngày nay.
Đây là một doanh nghiệp nhà nước, hoạt động sản xuất kinh doanh
trong lĩnh vực xây dựng và sản xuất vật liệu.
Công ty là một đơn vị hạch toán kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân
và trực thuộc sở xây dựng Hưng Yên
- Vốn kinh doanh năm 2002: 1.716.208.899 đồng
trong đó: vốn lưu động : 1.139.979.099 đồng
vốn cố định : 576.229.800 đồng
- Vốn chủ sở hữu năm 2002: -6.188.232.934 đồng
Công ty đã phấn đấu về mọi mặt , coi trọng hiệu quả kinh tế và không
ngừng đổi mới công nghệ nâng cao năng suất lao động phục vụ cho ngành xây
dựng và cho nền kinh tế quốc dân, bảo toàn và phát huy các nguồn vốn được
nhà nước giao, từng bước cải thiện đời sống cho công nhân viên.
Công ty đã mở rộng quan hệ trong suốt 25 năm hoạt động với các công
ty trong và ngoài ngành để phát huy năng lực sẵn có của mình, đồng thời quan
hệ với mọi thành phần kinh tế trong nước để đạt giá trị tổng sản lượng mỗi
năm từ 5-6tỷ đồng.

kh - kt
Phòng
cung ứng
v
ật t
ư

Đội xây lắp
I
Bch đ
ội sản xuất

đội xây lắp
II
Tạo
hình
1

Tạo
hình
2

Tạo
hình
3

Phơi

Bốc
xếp

- Đội xây lắp gồm 2 đội: đội I và đội II được bố trí ở khu vực trong tỉnh
và các tỉnh lân cận như Hà Nội, Hải Phòng có nhiệm vụ thực hiện các hợp
đồng xây lắp mà công ty đã ký kết dựa trên cơ sở khoán chi phí hay khoán
từng phần nhân công
phần II
thực trạng tình hình quản lý vốn và sử dụng vốn tại công ty xây lắp và
sản xuất
vật liệu kênh cầu

I. Thực trạng công tác quản lý vốn cố định và vốn lưu động của
công ty:
Do vốn tự có của công ty là rất ít nên bắt đầu từ năm 1994 công ty đã
thay đổi dây truyền công nghệ sản xuất mới hiện đại của Italia và công ty đã
mạnh dạn vay tiền của ngân hàng với số tiền là 10 tỷ đồng. Nhưng trong quá
trình sản xuất kinh doanh công ty không có khả năng chủ động để bổ sung
thêm vốn kinh doanh mà số tiền làm ra được bao nhiêu cũng chỉ để trả nợ bấy
nhiêu. Nên toàn bộ số vốn được bổ sung chỉ dùng trang trải các khoản nợ và
một phần nhỏ dùng vào đầu tư mua sắm mới máy móc thiết bị phục vụ sản
xuất kinh doanh. Do vậy công tác quản lý vốn này đòi hỏi phải được thực hiện
chặt chẽ.
Căn cứ vào bảng 1 ta có cơ cấu vốn của công ty qua các năm như sau:
Bảng1: Bảng cơ cấu vốn
Năm 2001 Năm 2002
Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng
VCĐ 576.229.800

33,6%

576.229.800


Bảng 2: Bảng cơ cấu nguồn vốn
Năm 2001 Năm 2002

Số tiền
Tỷ
trọng
Số tiền Tỷ trọng
Nợ phải trả 16.909.519.249

158,6%

19.665.824.249

145,9%

NVCSH -6.249.329.035

-58,6%

-6.188.232.934

-45,9%

Tổng 10.660.190.214

100%

13.477.591.315

100%


Qua bảng phân tích trên ta thấy tỷ lệ TSCĐ sử dụng ngày càng tăng lên
năm 2001 là 15.172.549.203 đồng, năm 2002 là 15.308.549.203 đồng.
Có thể thấy số TSCĐ được mua sắm mới là tăng và tăng lên qua các
năm, nhưng khoản tiền mua tài sản này là chủ yếu là bằng vốn vay ngân hàng,
thường chiếm tới hơn 80% tổng số tiền mua.
Thông qua bảng 4 dưới đây có thể thấy được cơ cấu TSCĐ như sau:
Bảng 4: Bảng cơ cấu TSCĐ
Năm 2001 Năm 2002
Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng
Nhà xưởng 8.387.137.536

55,28%

8.387.137.536

54,79%

Máy móc TB 6.712.104.174

44,24%

6.848.104.174

44,74%

Phương tiện VT 73.207.493

0,48%


Số tiền %N.G
Nhà xưởng 8.387.137.536

3.030.937.295

0,36

5356.300.241

0,64

Máy móc TB 6.712.104.174

4.141.668.368

0,62

2570.435.806

0,38

Phương tiện
VT
73.207.493

52.237.605

0,71

20.969.888

Bảng 6: Cơ cấu TSCĐ theo mối quan hệ với sản xuất
Đơn vị: đồng
Năm 2001 Năm 2002
TSCĐ dùng cho SXKD 15.172.594.203 15.308.549.203
TSCĐ không dùng SXKD 0 0
Tổng 15.172.594.203 15.308.549.203

Qua bảng phân tích tên ta thấy được TSCĐ được công ty dùng hết vào
hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thông qua các bảng tính trên cho thấy công tác quản lý vốn cố định nói
chung, TSCĐ nói riêng là khá phức tạp. Việc quản lý phải dựa trên các chỉ
tiêu, tuỳ theo mục đích sử dụng có thể phân cấp để quản lý sao cho phù hợp.
Thực trạng quản lý TSCĐ tại công ty xây lắp và sản xuất vật liệu Kênh
Cầu là chưa được tốt lắm, việc huy động vốn cũng không đạt hiệu quả cao.
Nhìn chung việc quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu sử dụng tiết kiệm, hợp lý
VCĐ nói chung và TSCĐ nói riêng. Vì vậy doanh nghiệp cần phải có xu
hướng mới tốt hơn để tạo được nguồn vốn mới cho mình.
Sau đây ta sẽ sử dụng một số chỉ tiêu để xem xét tình hình tài chính của
công ty, sức sản xuất, sức sinh lời của VCĐ
a. Sức sản xuất của VCĐ

=
Doanh thu
VCĐ bình quân

Năm 2001

=
4.901.182.239
= 8,51

61.096.101
= 0,106
576.229.800

Chỉ tiêu này cho thấy cứ 1 đ VCĐ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận, chỉ
tiêu này ở năm 2001 là rất nhỏ(-0,089) do công ty làm ăn thua lỗ nên lợi nhuận
thu được là âm. Nhưng đến năm 2002 sức sinh lời VCĐ của công ty đã tăng
lên so với năm 2001. Có được kết quả như vậy là do nỗ lực của công ty đã đầu
tư một cách hợp lý nên lợi nhuận năm 2002 tăng lên đáng kể, đây là một kết
quả tốt đối với công ty
c. Hệ số đảm nhiệm của VCĐ =
Lợi nhuận thuần
VCĐ bình quân

Năm 2001

=
576.229.800
= 0,118
4.901.182.239

Năm 2002

=
576.229.800
= 0,116
4.977.480.580

Chỉ tiêu này thì xem xét để tạo ra 1 đồng doanh thu thì cần bao nhiêu
VCĐ, trong cả 2 năm thì lượng VCĐ đều nhỏ hơn 0,5. Điều này cho thấy

Việc quản lý VLĐ của công ty xây lắp và sản xuất vật liệu Kênh Cầu
cáo thể được thấy thông qua các bảng phân tích dưới đây:
Qua bảng 6 cho thấy cơ cấu VLĐ theo khoản mục như sau:
Bảng 7: Cơ cấu vốn lưu động theo khoản mục
ĐVT: đồng
Khoản mục Năm 2001 Năm 2002
Tiền mặt 265.593.184

17.352.004

Tiền gửi ngân hàng 176.762.052

551.771.768

Phải thu khách hàng 575.754.423

710.600.007

Hàng tồn kho 862.934.270

4.055.088.009

TSLĐ khác 180.840.300

305.744.448

Tổng 2.061.884.229

5.640.556.236


vốn lưu động nói chung và TSLĐ nói riêng tại Công ty Xây lắp và sản xuất
vật liệu kênh cầu là khá tốt cần được duy trì trong thời gian tới.
Vốn của doanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau có
thể là vốn tự có cũng có thể là vốn đi vay. Để xem xét kỹ hơn, thông qua bảng
7 dưới đây có thể thấy được nguồn hình thành vốn của Công ty.
Bảng 8: Cơ cấu phải trả
ĐVT: đồng
Năm 2001 Năm 2002
Số tiền
Tỷ
trọng
Số tiền
Tỷ
trọng
A. Nợ ngắn hạn 9.313.893.162

100%

12.751.333.033

100%

1. Phải trả nội bộ 343.840.192

3,7%

722.710.638

5,7%



Tổng 16.909.519.24919.665.824.249
Qua bảng 8 cho thấy nợ ngắn hạn chiếm phần lớn tổng số nợ của Công
ty hơn 50%, như vậy có thể thấy các khoản nợ phải thanh toán trong thời gian
ngắn là khá nhiều, điều này sẽ ảnh hưởng không tốt cho Công ty.
Trong số các khoản nợ phải thanh toán ngay thì các khoản phải trả khác
lại chiếm 1 tỷ lệ lớn, tức là các khoản phải trả bảo hiểm, các khoản phải thanh
toán có thể chưa xác định rõ nguyên nhân nhưng tỷ lệ này được giảm xuống
qua các năm, 2001 là 92,7% năm 2002 là 73,5%.
Tỷ lệ các khoản nợ khác trong tổng nợ phải thanh toán ngay còn lại
như sau:
Năm 2001 khoản phải trả người bán chiếm 1,7%, tiền thuế phải nộp
Nhà nước chiếm 2,2%, phải trả nội bộ chiếm 3,7%. Như vậy trong năm 2001
thì tiền phải thanh toán cho người bán là ít cho thấy trong năm này Công ty đã
mua chịu của người cung cấp là rất ít, điều này là rất tốt cho Công ty.
Còn trong năm 2002 tỷ lệ phải trả người bán lại tăng lên so với năm
2001, điều này cho thấy trong năm 2002 Công ty đã mua chịu của nhà cung
cấp nhiều hơn.
Như vậy có thể thấy qua hai năm Công ty chiếm dụng được nhiều vốn từ bên
ngoài điều này là tốt nhưng lại tạo ra những khoản nợ phải thanh toán.
Bảng 9: cơ cấu nguồn vốn
ĐVT: đồng
Năm 2001 Năm 2002
Nguồn vốn kinh doanh 1.716.208.899

a. Tỷ suất thanh toán ngắn hạn.
Tỷ suất thanh toán ngắn hạn =
Tài sản lưu động
Nợ ngắn hạn

Năm 2001 =

2.092.177.089
= 0,225
9.313.893.162

Năm 2002 =

5.874.284.030
= 0,461
12.751.323.033
Chỉ tiêu này cho thấy khả năng thanh toán những khoản nợ ngắn hạn
của vốn lưu động trong hai năm 2001 và năm 2002 là không tốt. Vì số nợ ngắn
hạn của Công ty chiếm phần lớn tổng số nợ của Công ty (hơn 50%). Do vậy tỷ
suất này cho biết Công ty không có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn
hạn đến hạn trả.
b. Tỷ suất thanh toán của VLĐ =
Vốn bằng tiền
Tài sản lưu động
Năm 2001 =

442.593.184
= 0,21
2.092.177.089
Năm 2002 =

Vốn lưu động bình quân

Năm 2001 =

-577.600.253
= -0,5
1.139.979.099

Năm 2002 =

61.096.101
= 0,054
1.139.979.099
Chỉ tiêu này cho thấy cứ một đồng vốn lưu động tạo ra bao nhiêu đồng
lợi nhuận, chỉ tiêu này ở cả hai năm đều rất nhỏ, đặc biệt là năm 2001 con này
là âm, vì Công ty làm ăn thua lỗ.
e. Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động =
Vốn lưu động bình quân
Doanh thu

Năm 2001 =

1.139.979.099
= 0,233
4.901.182.239

Năm 2002 =

1.139.979.099
= 0,229

Lợi nhuận -577.600.253

61.096.101

VCSH -6.249.329.035

-6.188.232.934

Nợ ngắn hạn 9.313.893.162

12.751.323.033

Vốn bằng tiền 442.593.184

569.123.772

(1) 0,225

0,461

(2) 0,21

0,097

(3) 4,29

4,36

(4) -0,5


Qua nghiên cứu công tác quản lý vốn của Công ty em thấy công tác
quản lý có những ưu điểm và nhược điểm như sau:
a. Ưu điểm.
Qua hai năm 2001 và 2002 ta thấy doanh thu của Công ty là tăng lên, tỷ
lệ lợi nhuận cũng tăng lên với tỷ lệ tương đối lớn điều này là đáng khuyến
khích và cũng cho thấy Công ty đã có cố gắng trong việc thúc đẩy quá trình
tiêu thụ sản phẩm.
Trong tổng số vốn được sử dụng cho sản xuất kinh doanh thì tỷ lệ vốn
cố định được sử dụng ít hơn vốn lưu động, nhưng số vốn cố định được sử
dụng một cách có hiệu quả nên góp phần lớn trong việc tạo ra doanh thu cao.
b. Nhược điểm.
Cơ cấu các khoản mục trong tổng vốn lưu động cho thấy khoản mục
tiền mặt là nhỏ không hợp lý, gây khó khăn trong khâu thanh toán. Bên cạnh
đó tỷ trọng hàng tồn kho lại quá lớn gây ứ đọng nhiều vốn kinh doanh.
Trong bảng cơ cấu nguồn hình thành cho thấy số vốn mà Công ty có
được phần lớn là do vay ngân hàng, tức là Công ty đi chiếm dụng vốn nhiều,
như vậy khả năng phải thanh toán những khoản nợ trong thời gian ngắn là khá
lớn điều đó sẽ gây ảnh hưởng không tốt cho Công ty.
Những nhược điểm nêu trên làm cho việc sử dụng vốn của Công ty trở
nên kém hiệu quả đi rất nhiều.
Do những nhược điểm mà Công ty gặp phải trong quá trình quản lý và
sử dụng vốn nên em xin đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện
và nâng cao công tác quản lý vốn tại Công ty như sau:
Phần III
một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao công tác quản lý vốn tại
Công ty xây lắp và sản xuất vật liệu kênh cầu

I. Định hướng hoạt động của Công ty trong thời gian tới.
1. Định hướng hoạt động chung
Đối với các doanh nghiệp sản xuất trong thời gian gần đây được hình

tài sản cố định nhưng Công ty lại áp dụng tính khấu hao theo phương pháp
bình quân, điều này làm cho vốn thu hồi chậm. Do đó cần phải thay đổi lại
phương pháp tính khấu hao sao cho có thể thu hồi nhanh nhất lượng vốn bỏ ra
đầu tư, có thể áp dụng tính khấu hao theo phương pháp khấu hao theo số dư
giảm dần.
- Quản lý vốn lưu động: Cần thay đổi tỷ trọng tiền mặt trong tổng số
vốn lưu động vì lượng tiền mặt là quá thấp. Bên cạnh đó phải giảm lượng hàng
tồn kho.
Cần xác định rõ nguồn hình thành của vốn để có biện pháp nâng cao
nguồn vốn chủ. Thúc đẩy các phương pháp tiêu thụ để thu hồi vốn tăng lợi
nhuận bổ xung cho nguồn vốn chủ sở hữu.
Công ty Xây lắp và sản xuất vật liệu kênh cầu

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Quý IV năm 2002
Phần I: Báo cáo lỗ, lãi
ĐVT: đồng
Chỉ tiêu

số
Kỳ trước Kỳ này
Luỹ kế
từ đầu năm
Tổng doanh thu 01 1.250.120.70
1

1.422.880.011

4.977.480.58
0

5.Chi phí QLDN 22 59.270.513

122.239.210

362.620.046

6. Lãi thuần từ HĐKD 30 1530.361.403

126.351.302

602.809.205

7. Chi phí HĐ tài chính 32 205.445.713

275.678.855

920.547.812

8. Lãi từHĐ tài chính 40 -205.445.713

-275.678.855

-920.547.812

9. Thu nhập bất thường 41 769.908

334.463.643

383.834.708


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status